BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI KHẮC PHONG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG, THỨC ĂN ĐẾN
TỶ LỆ SỐNG, TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ ĐIÊU HỒNG
(Oreochromis sp.) GIAI ĐOẠN TỪ 5 ĐẾN 60 NGÀY TUỔI
TẠI ĐỊA BÀN HÀ TĨNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG, THỨC ĂN ĐẾN
TỶ LỆ SỐNG, TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ ĐIÊU HỒNG
(Oreochromis sp.) GIAI ĐOẠN TỪ 5 ĐẾN 60 NGÀY TUỔI
TẠI ĐỊA BÀN HÀ TĨNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Mã số: 60.62.70
Bùi Khắc Phong
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG LUẬN VĂN
Stt
Chữ viết tắt
CT
cm
MĐ
mm
n
TN
TLS
NTTS
TT
Nxb
Diễn tả nghĩa
Công thức
Centimet
Mật độ
Milimet
Số lượng mẫu
Thí nghiệm
Tỉ lệ sống
3.2.
từ 5 đến 30 ngày tuổi
25
Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng chiều dài thân toàn phần
3.3.
của cá điêu hồng giai đoạn từ 5 đến 30 ngày tuổi
Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng của
3.4.
giai đoạn từ 5 đến 30 ngày tuổi
27
Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống cá điêu hồng ương giai đoạn
3.5.
từ 30 ÷ 60 ngày tuổi
28
Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng chiều dài thân toàn
3.6.
phần trung bình của cá điêu hồng giai đoạn ương từ 30÷60 ngày tuổi
29
Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tốc độ
tăng trưởng tương đối chiều dài thân toàn phần của
3.9.
giai đoạn 30 ÷ 60 ngày tuổi
Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của
3.10.
đoạn 5 ÷ 30 ngày tuổi
33
Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tăng trưởng chiều dài thân
3.11.
toàn phần của cá điêu hồng giai đoạn từ 5 đến 30 ngày tuổi
Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tăng trưởng khối lượng của
cá điêu hồng
giai
giai đoạn từ 5 ÷ 30 ngày tuổi
Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tỷ lệ sống của
34
cá
35
điêu hồng
trung bình của cá điêu hồng giai đoạn ương từ 30 ÷ 60 ngày tuổi
39
Ảnh hưởng của loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và
hồng
tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng thân toàn phần của
hồng
giai đoạn 30 ÷ 60 ngày tuổi
5
cá điêu
40
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Tên hình
Trang
1.1.
1.2.
2.1.
3.1.
39
hồng giai đoạn từ 30 ÷ 60 ngày tuổi
6
MỤC LỤC
Trang
1.
2.
3.
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.1.4.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
LỜI CẢM ƠN
CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG LUÂN VĂN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu đề tài
3
4
7
9
11
11
13
15
15
16
17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP, ĐỊA 19
ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.
2.2.
2.3.
Đối tượng nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
19
19
19
19
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu, đánh giá, so sánh
33
3.2.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của loại thức ăn đến tỷ lệ sống, tăng
trưởng của cá điêu hồng giai đoạn từ 5 đến 30 ngày tuổi
33
3.2.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của loại thức ăn đến tỷ lệ sống, tăng
trưởng của cá điêu hồng giai đoạn từ 30 đến 60 ngày tuổi
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THẢO KHẢO
PHỤ LỤC
36
41
43
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cá Điêu hồng hay còn gọi là cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) là loài cá
nước ngọt thuộc họ cá Rô phi (Cichlidae) có nguồn gốc hình thành từ lai tạo.
Năm 1968, người Đài Loan đã phát hiện một số cá bột rô phi cỏ
(Oreochromis mosambicus) có màu đỏ do bị đột biến bạch tạng không hoàn
toàn sau đó cho lai với loài rô phi vằn O.niloticus cho thế hệ F1 với 30% cá rô
phi màu đỏ (điêu hồng). Những cá thể F1 đỏ này tiếp tục được sinh sản và lai
tạo cho thế hệ cá có nhiều đặc điểm vượt trội [40].
Cá điêu hồng (Oreochromis sp.) là đối tượng nuôi chính ở nhiều nước
trên thế giới và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, có nhiều chương
trình lai tạo và xử lý đơn tính đực để chọn giống cá theo các mục tiêu cụ thể
8
khác nhau đang được thực hiện trên thế giới, nhằm nâng cao chất lượng như
của cá điêu hồng ương giai đoạn từ 5 đến 60 ngày tuổi.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống, tăng
trưởng của cá điêu hồng ương giai đoạn từ 5 đến 60 ngày tuổi.
10
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc xuất xứ và đặc điểm sinh học của cá điêu hồng
1.1.1. Nguồn gốc xuất xứ
Theo Dương Nhựt Long (2004) từ năm 1968 người ta phát hiện một số
cá bột rô phi cỏ (Oreochromis mosambicus) có màu đỏ, do bị đột biến “bạch
tạng” không hoàn toàn. Người ta tiếp tục cho lai O. mosambicus đột biến bạch
tạng với loài O. niloticus (rô phi vằn) được thế hệ F1 có 30% là rô phi màu đỏ
(điêu hồng), những cá thể này có những chấm đen ở hai bên cơ thể gần như
đối xứng nhau. Những cá thể F1 đỏ này tiếp tục được sinh sản và đã nâng
được tỷ lệ đỏ lên 80%. Dòng cá này có thể đạt 500 - 600 gam hoặc hơn sau 5
tháng nuôi và đạt 1.200 gam trong 18 tháng [17].
Năm 1975, xuất hiện một cá cái rô phi đỏ có màu sáng và nặng 1.200 gam
trong vòng 18 tháng. Theo Dương Nhựt Long (2004) cho lai con này với con rô
phi đỏ khác thì được 4 nhóm: đỏ, nâu, đen, trắng nhạt. Dòng đỏ và trắng nhạt
hoàn toàn không còn chấm đen. Cho dòng đỏ này sinh sản thì có tỷ lệ màu đỏ
của F1 cao và màu đỏ rất ổn định [17]. Do dòng cá này có hình dạng và màu đỏ
rất giống cá tráp đỏ ở biển nên mới có tên “điêu hồng” hay “diêu hồng” (tráp đỏ
- chính xác phải gọi là “hồng điêu” theo tiếng Trung Quốc) [40].
Người ta còn lai rô phi màu đỏ (điêu hồng) với dòng O. aureus cho ra
được F1 có 65% màu đỏ toàn là đực, 35% màu đen thì có 7 - 8% là cá cái. Cá F1
lớn nhanh nhất là con đực, có thể đạt cỡ 2 - 3 kg. Khi lai cá điêu hồng với dòng
O. urolesis thì cho ra F1 có 65% đỏ, 35% đen và 100% là cá đực [17], [40].
Perciformes
Phân bộ: Labroidei
Họ:
Cichlidae
Giống:
Oreochromis
Loài:
Oreochromis sp.
Tên tiếng Anh: Red Tilapia
Tên tiếng Việt: Cá điêu hồng hay còn gọi diêu hồng, rô phi đỏ
Hình 1.1. Hình thái bên ngoài cá điêu hồng
1.1.2.2. Đặc điểm hình thái
12
Theo mô tả của Dương Nhựt Long (2004), cá điêu hồng Oreochromis
sp. toàn thân phủ vẩy có màu vàng đậm, hoặc vàng nhạt hoặc đỏ hồng, cũng
có thể gặp những cá thể có màu vàng, màu hồng xen lẫn những đám vẫy màu
đen nhạt. Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên. Đầu ngắn miệng rộng hướng
ngang. Hai hàm dài bằng nhau. Lỗ mũi gần mắt hơn mõm. Mắt tròn ở nữa
trước và phía trên đầu, khoảng cách giữa hai mắt rộng. Khởi điểm vây lưng
chịu lạnh tốt hơn do ở môi trường này này hạn chế được tối đa sự gây bệnh
của nấm [16]. Khả năng chịu lạnh của cá rô phi mang tính đặc trưng của
loài, song tính bảo thủ không cao vì thế nên đây là một cơ hội tốt cho việc
di giống và thuần hoá một số loài có giá trị kinh tế đến các môi trường
khác nhau [16], [17].
1.1.2.4. Độ mặn
Theo Lê Quang Long (1961) và Nguyễn Công Dân (2000), cá rô phi là
loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập
tràn, ao hồ nước ngọt, nước lợ và nước nặm từ 0 - 40‰. Khả năng thích ứng
với độ mặn ở mỗi loài cũng đều khác nhau. Loài O. niloticus có ngưỡng muối
thấp nhất và loài có ngưỡng muối cao nhất là T. zinlii, O. aures [3], [16], [34].
Loài O. niloticus có thể sinh trưởng tốt trong môi trường có độ mặn lên
đến 32‰ sau khi chúng được thuần hoá trong điều kiện các nồng độ muối
khác nhau [34].
1.1.2.5. pH
Môi trường có pH từ 6,5-8,5 là thích hợp cho sự phát triển và sinh
trưởng của cá rô phi, tuy nhiên cá rô phi có thể chịu đựng trong môi trường
nước có pH giảm xuống 4 và lên cao tới 11. Theo Philipart và Ruwet (1982)
cá rô phi chết ở pH = 3,5 hay lớn 12 sau 2-3 giờ [34].
1.1.2.6. Ôxy hoà tan
Cá rô phi có thể sống được trong ao, đầm có màu nước đậm, mạt độ tảo
dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao và hàm lượng ôxy hoà tan trong nước
14
thấp. Yêu cầu hàm lượng ôxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp
hơn 5-10 so với tôm sú. Theo Magid và Babiker (1995) loài O. niloticus và O.
mossambicus có thể chịu đựng được khi ngưỡng ôxy xuống còn 0,1 mg/l. Tuy
nhiên hàm lượng ôxy thấp kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản
của cá rô phi Tilapia [32], [36].
Hệ thống
Protein (%)
nuôi
Bể nước
mặn
Lồng nước
mặn
Loài
Giai đoạn
Rô phi hồng
Florida
Cá bột - cá
thịt
20-30
Tilapia
Cỡ cá lớn
28
Cá bột
Santiago, và
Laron, 1991
Bể nước
mặn
Ao nước
ngọt
Bể nước
ngọt
Shiau và Huang,
1990
Siddiqui và ctv,
1988
Tuấn và ctv,
1998
Thực tế trong quá trình nuôi để đạt được hiệu quả, năng suất và sản
lượng cao khi cá được cho ăn với khẩu phần ăn hợp lý, phù hợp với từng điều
kiện ao nuôi. Thông thường khẩu phần ăn của cá giảm dần theo % khối lượng
quần đàn khi cá đang tăng trưởng. Tuy nhiên, khẩu phần thức ăn của cá cần
được điều chỉnh thường xuyên theo điều kiện thời tiết, chất lượng nước và
tình trạng sức khoẻ của cá.
Bảng 1.2. Khẩu phần ăn của cá rô phi ở cá cỡ khác nhau
Cỡ cá (gam/con)
0-5
5-20
20-40
40-100
thể tham gia sinh sản và cũng như loài rô phi nuôi ở nước ta đều có tập tính
làm tổ đẻ ở đáy ao. Khi sinh sản, làm tổ bằng cách dùng đuôi quậy bùn và đào
hố dưới đáy ao, đường kính tổ đẻ phụ thuộc vào kích cỡ con đực. Sau khi tổ
làm xong cá tự ghép đôi và tiến hành đẻ trứng. Hầu hết các loài điêu hồng đều
đẻ nhiều lần trong năm. Cũng theo Dương Nhựt Long (2004) số trứng trong
một lần đẻ phụ thuộc vào kích cỡ cá cái, trung bình mỗi lần cá đẻ từ 1.000 2.000 trứng [17].
Sau khi đẻ xong cá cái ngậm trứng và cá con mới nở trong miệng (cá
con được giữ trong miệng đến khi hết noãn hoàng). Trong thời gian ngậm
17
trứng và nuôi con, cá cái không bắt mồi vì vậy cá không lớn, cá chỉ bắt mồi
trở lại khi đã giải phóng hết con trong miệng. Theo Mair, Abucay, Skibiski,
Abella và Beardmore (1997) chu kỳ sinh sản của cá rô phi chia làm 5 giai
đoạn: Giai đoạn xây tổ và ghép đôi, giai đoạn rụng trứng, giai đoạn ấp trứng,
giai đoạn chăm sóc con, giai đoạn dinh dưỡng và phục hồi cho chu kỳ sinh
sản tiếp theo và thời gian giữa hai lứa đẻ tùy thuộc vào thức ăn, tuổi cá,
nhiệt độ [33].
Trứng thụ tinh được cá cái nhặt ấp trong miệng, sau 3 - 5 ngày trứng
nở, cá mẹ tiếp tục chăm sóc 9 - 10 ngày, sau đó cá con rời khỏi mẹ và sống
độc lập [33], [34]. Để phân biệt cá đực cá cái người ta dựa vào hình thái bên
ngoài và dựa vào kết quả giải phẫu tuyến sinh dục. Dựa vào phương pháp giải
phẩu tuyến sinh dục: Khi cá đạt cỡ 3-5 gam mổ lấy tuyến sinh dục sau đó
nhuộm dung dịch Aceto-Carmin, dùng kính hiển vi quan sát thấy những chấm
nhỏ li ti đó là tế bào sinh dục đực, con cái cho thấy những vòng tròn nhỏ đồng
đều hoặc có một vài cỡ khác nhau đó là cá thể cái (Guerrero và Shelton,
1974).
Bảng 1.3. Phân biệt cá đực và cá cái qua các đặc điểm hình thái
1.2.1. Thế giới
Theo Phạm Anh Tuấn (1998), từ sau thế chiến thứ 2, cá rô phi trở thành
loài cá nuôi quan trọng. Người Nhật đã giúp phát triển loài này ở Indonexia,
Malayxia, và các nước châu Á khác. Hiện nay, cá rô phi được nuôi ở khắp nơi
trên thế giới [21].
Theo báo cáo của FAO (2004), Đài Loan được coi là đi đầu về nuôi cá
rô phi ở khu vực (từ 1946) và đạt sản lượng cao nhất thế giới 80.000 tấn năm
1982. Năm 1999 chỉ còn 57.269 tấn (54 triệu USD), năm 2000 khoảng 50.000
tấn (60 triệu USD) và chiếm 24% sản lượng cá nuôi ở Đài Loan. Diện tích nuôi
trên 8.300 ha (2000), có 1.921 ha nuôi đơn trong ao, 5.830 ha nuôi ghép trong
ao. Phương thức nuôi cá điêu hồng ở Đài Loan: nuôi đơn trong bể ximent hình
bát giác (tám cạnh) 100 m2, với nước tuần hoàn và sục khí. Cỡ cá thả 100 - 200
gam, mật độ 50 - 100 con/ m2. Dùng thức ăn công nghiệp 3 - 4 lần/ngày. Sau 3
- 4 tháng nuôi thu hoạch được 3 - 4 tấn/bể, cỡ cá trung bình 600 gam, tỉ lệ sống
90% và hệ số thức ăn 1,2 - 1,4. Ngoài ra còn nuôi trong bè 7 x 7 x 2,5 m, cỡ
mắt lưới bao quanh bè 1 cm. Cá thả 20 - 30 gam/con, mật độ 4.000 - 5.000 con/
bè. Dùng thức ăn viên cho ăn 3 lần một ngày. Cá đạt cỡ thương phẩm 600 gam
sau 4 - 5 tháng nuôi. Sản lượng 1 bè 4,3 - 5,4 tấn/2 vòng nuôi một năm. Tuy
sản lượng giảm nhưng sản phẩm cá điêu hồng Đài Loan có chất lượng
rất cao[41].
Ở Indonesia cá điêu hồng được nuôi ghép với các loài như cá chép, cá
mè vinh, tai tượng trong mô hình nuôi kết hợp, cho cá ăn thức ăn hoặc dùng
phân bón. Nuôi cá bè phát triển trên sông, kênh thủy lợi, hồ chứa. Bè có kích
thước 7x7x2 m. Với cá đơn tính đực thả 2.500 con/bè (cỡ cá 50gam, cho ăn
thức ăn công nghiệp). Sau 120 ngày thu được 1.000 kg cá/bè với hệ số thức
ăn 1,2. Nuôi trong ao nước lợ (15 ppt) diện tích 4.000m 2 cỡ cá 3-5 cm thả
19
10.000 con/ao, cho cá ăn thức ăn công nghiệp. Thu hoạch cá sau 110 ngày đạt
2 Malayxia
Bể xi măng và bè
Thâm canh
3 Myanmar
Nuôi đơn - Ao và bể ximent
Quảng canh
20
4 Singapore
Nuôi đơn - Bè nước lợ
Thâm canh
5 Đài Loan
Nuôi đơn - Bể ximent nước ngọt
Thâm canh
6 Thái Lan
Nuôi đơn/ghép - Nước ngọt
sau 8 tháng nuôi cá đạt 400-500gam/con, trong khi đó vào các tháng mùa
21
đông, nhiệt độ nước xuống thấp dưới 15oC là cá ngừng ăn ảnh hưởng đến sinh
trưởng phát triển của cá. Năm 2008, đã có một số cơ sở sản xuất cá giống điêu
hồng bước đầu thành công, nhưng do tỷ lệ cá giống hao hụt lớn cộng với chi
phí đầu vào cao làm đội giá thành cá giống khi xuất bán ra thị trường. Bên
cạnh đó do ảnh hưởng của những tháng mùa đông kéo dài với nền nhiệt thấp,
dưới 150C gây khó khăn cho công tác nuôi vỗ đàn cá bố mẹ.
Hiện nay, ở nước ta áp dụng các phương pháp cho cá đẻ và thu cá bột
như sau: 1. Phương pháp nuôi cá bố mẹ trong ao và cho đẻ tự nhiên bằng cách
cá bố mẹ được nuôi trong ao, cho ăn thức ăn đầy đủ, với thức ăn hỗn hợp chế
biến hoặc thức ăn viên công nghiệp hàm lượng đạm từ 25-28%, khẩu phần ăn
1-1,5%/ngày. Sau khi cá đẻ thì chuyển cá bố mẹ sang ao nuôi vỗ khác để cho
đẻ lứa tiếp theo và dùng ao cá đã đẻ làm ao ương cá bột thành cá giống. Cách
này dễ áp dụng cho các gia đình để tạo nguồn cá giống thả bù cho các lần
đánh tỉa cá thịt. Với cách này thì khó có thể sản xuất được số lượng lớn cá
giống để bán; 2. Phương pháp thả cá bố mẹ vào ao để cá đẻ tự nhiên, nuôi vỗ
và chăm sóc cá như ở phương pháp trên. Sau khi cá đẻ thì ương nuôi cá bột và
thu hoạch cá hương, cá giống đã được ương lớn trong ao. Biện pháp này cũng
cho năng suất thấp vì khi ương nhiều thế hệ trong ao, cá bột sẽ hao hụt nhiều
do bị cạnh tranh thức ăn và có tình trạng cá ăn thịt lẫn nhau ở các cỡ cá; 3.
Phương pháp thả cá bố mẹ vào ao đẻ, nuôi vỗ sau khoảng 2 tuần (ở nhiệt
độ trung bình 30 0 C và phương pháp chăm sóc như trên), thì cá bố mẹ sẽ
bắt đầu đẻ trứng. Khi cá đẻ xong, dùng vợt vớt hết cá bột chuyển sang
ương ở một ao riêng biệt. Cách này tuy năng suất có thể cao hơn nhưng vẫn
không thu được hết cá bột trong lứa đẻ; 4. Phương pháp chủ động thu trứng
hoặc cá bột điêu hồng để ương ấp nhân tạo, bằng cách chọn cá bố mẹ trọng