BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM HOÀNG HIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG, THỨC ĂN
LÊN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA
CÁ HỒNG MỸ (Sciaenops ocellatus Linnaeus 1766)
GIAI ĐOẠN TỪ CÁ BỘT ĐẾN 60 NGÀY TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2014i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ “Ảnh hưởng của mật độ, thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ
tăng trưởng của cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus Linnaeus 1766) giai đoạn từ cá
bột đến 60 ngày tuổi”, chuyên ngành nuôi trồng thủy sản là của riêng tôi. Luận văn
đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã
được trích rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã có được trong luận
văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp
đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc.
Vinh, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Hoàng Hiệp
Phạm Hoàng Hiệp iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài…………………………………………….…1
2. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………………2
3. Nội dung nghiên cứu 2
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá Hồng Mỹ 3
1.1.1. Vị trí phân loại 3
1.1.2. Hình thái và đặc điểm nhận dạng 3
1.1.3. Đặc điểm phân bố 4
1.1.4. Tập tính sống 4
1.1.5. Vòng đời 4
1.1.6. Tính ăn 5
1.2. Đặc điểm sinh sản của đối tượng nghiên cứu 5
1.2.1. Thành thục sinh dục 5
1.2.2. Sức sinh sản và đẻ trứng 6
1.2.3. Phát triển phôi 6
1.2.4. Ấu trùng 6
1.2.5. Sinh trưởng của cá 7
1.3. Sản xuất nhân tạo giống cá Hồng Mỹ 7
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
3.1.3. Chỉ tiêu pH 30
3.1.4. Chỉ tiêu độ măn 31
3.2. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá Hồng
Mỹ giai đoạn cá bột đến 60 ngày tuổi 31
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá Hồng Mỹ
giai đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 31 v
3.2.2. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá Hồng Mỹ
giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 32
3.2.3. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của
cá Hồng Mỹ giai đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 33
3.2.4. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của
cá Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 34
3.2.5. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng tích lũy về khối lượng của
cá Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 34
3.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá Hồng Mỹ
giai đoạn từ cá bột đến 60 ngày tuổi 36
3.3.1. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá Hồng Mỹ giai
đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 36
3.3.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá Hồng Mỹ giai
đoạn 30÷60 ngày tuổi 37
3.3.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng của ấu trùng cá Hồng Mỹ giai
đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 39
3.3.4. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng về chiều dài thân của ấu trùng
cá Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 43
3.3.5. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng khối lượng của cá Hồng Mỹ
giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 47
3.4. Hiệu quả kinh tế của ương nuôi cá Hồng Mỹ trong nghiên cứu 50
5
DLG
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài
6
DWG
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng
7
G
gam
8
M
Trung bình
9
MĐ
Mật độ
10
N
Số lượng mẫu
11
NTTS
Nuôi trồng thuỷ sản
12
SD
Độ lệch chuẩn
13
SR
Tỷ lệ sống
14
SGRw
Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng
Bảng 3.2. Hàm lượng oxy hoà tan nước bể ương nuôi ấu trùng cá Hồng Mỹ 29
Bảng 3.3. Diễn biến pH của nước bể ương nuôi áu trùng cá Hồng Mỹ 30
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống ấu trùng giai đoạn cá bột
đến 30 ngày tuổi ( TB ± SD,%) 32
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn
30÷60 ngày tuổi.( TB ± SD, %) 32
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tích lũy chiều dài thân của cá Hồng
Mỹ giai đoạn từ cá bột đến 30 ngày tuổi 33
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng tích lũy chiều dài của cá
Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 34
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mật độ ương lên tăng trưởng tích lũy về khối lượng của
cá Hồng Mỹ giai đoạn 30÷ 60 ngày (TB ± SD, gam) 35
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tỷ lệ sống của cá Hồng
Mỹ trong giai đoạn từ cá bột đến 30 ngày tuổi 36
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tỷ lệ sống của cá Hồng
Mỹ trong giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 38
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng tích lũy về
chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 39
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng tuyệt đối chiều
dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 40 viii
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của loại thức ăn khác nhau lên tốc độ tăng trưởng tương đối
(%) chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn từ cá bột đến 30 ngày tuổi42
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau lên tăng trưởng tích lũy chiều dài
thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 43
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá
Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 44
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng tương đối chiều
đoạn từ cá bột đến 30 ngày tuổi 37
Hình 3.7. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60
ngày tuổi 38
Hình 3.8. Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá
Hồng Mỹ giai đoạn cá bột đến 60 ngày tuổi 39
Hình 3.9. Tốc độ trăng trưởng tuyệt đối theo chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai
đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 41
Hình 3.10. Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai
đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi 42
Hình 3.11. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tích lũy về chiều dài thân của cá
Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 44 x
Hình 3.12. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân ở cá
Hồng Mỹ giai đoạn 30 60 ngày tuổi 45
Hình 3.13. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của
cá Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 46
Hình 3.14. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá
Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 47
Hình 3.15. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá
Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 49
Hình 3.16. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá
Hồng Mỹ giai đoạn 30÷60 ngày tuổi 50
chỉ đạt 3÷5%, giai đoạn cá 30÷60 ngày tuổi cá đã biến thái hoàn chỉnh, đã sử 2
dụng được thức ăn công nghiệp hoặc chế biến nhưng khi ương trong bể composit
hoặc bể xi măng 3÷5 m
3
mức độ phân đàn lớn, cá có tập tính ăn thịt lẫn nhau nên
ảnh hưởng đến tỷ lệ sống.
Xuất phát từ những nhu cầu bức thiết trên nên cần đưa ra một số giải pháp
để nâng cao tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi ấu trùng cá Hồng Mỹ chúng tôi
triển khai đề tài “Ảnh hưởng của mật độ, thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng
trưởng của cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus Linnaeus 1766) giai đoạn từ cá
bột đến 60 ngày tuổi”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được mật độ ương nuôi, thức ăn phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ
sống và tốc độ tăng trưởng cho ấu trùng cá Hồng Mỹ giai đoạn từ cá bột đến 60
ngày tuổi.
3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá
Hồng Mỹ giai đoạn từ cá bột đến 60 ngày tuổi.
- Đánh giá ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá
Hồng Mỹ giai đoạn từ cá bột đến 60 ngày tuổi.
4
nhiều hàng răng chóp hoặc răng tròn phía sau thì nở rộng thành răng cấm sau này
sẽ to dần lên như răng hàm và trải ra thành từ hai đến bốn hàng mà hàng ngoài là
răng rất chắc khỏe. Vây lưng liên tục, không có khía lõm, bộ phận gai và tia vây
cũng rất nở nang, gai vây lưng to khỏe, chúng có khoảng 10÷13 tia gai cứng,
9÷17 tia vây mềm. Vây hậu môn có 3 tia gai.
1.1.3. Đặc điểm phân bố
Cá Hồng Mỹ thuộc họ Cá Đù (Sciaenidae) là loài cá có đặc điểm rộng muối,
rộng nhiệt, phân bố ở vịnh Mehico và vùng duyên hải Tây Nam nước Mỹ. Một số
năm trở lại đây đối tượng này đã được nhập cư vào các nước khu vực như: Đài
Loan, Trung Quốc, Việt Nam, . . . và nhanh chóng trở thành một đối tượng nuôi
kinh tế khá quan trọng trong khu vực. Họ cá này cũng được tìm thấy ở các vùng
nước Đại Dương ôn đới và nhiệt đới, chúng sống đáy vùng ven bờ, vùng đá ngầm
ven bờ, nơi có dòng nước ấm. Cũng có thể thấy chúng sống ở các vùng đáy cát, đá
cứng, vùng hỗn hợp bùn cát hoặc vùng đá san hô chết. Phân bố ngang thì chúng
sống từ đáy ven bờ cho đến các rạn đá hoặc bãi san hô chết ở độ sâu tới 50÷60 m
nước. Cũng có loài ban đầu ở các vùng cửa sông, phát triển lớn hơn chuyển ra các
vùng nước sâu hơn, có khi tới độ sau 150 m nước.
1.1.4. Tập tính sống
Cá Hồng Mỹ thường sống thành đàn, phạm vi phân bố rộng, khi trưởng
thành thường đi đến những vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản. Nhiệt
độ thích hợp là từ 10÷30
o
C. Cá Hồng Mỹ có thể sống ở cả nước ngọt, nước lợ và
nước mặn.
1.1.5. Vòng đời
Cá Hồng Mỹ trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng 2÷3 năm trong các
thủy vực nước ngọt, nơi cửa sông nối liền với biển. Cá có tốc độ tăng trưởng
nhanh, thường đạt kích cỡ 3,5÷6 kg sau 2÷3 năm.
Cá Hồng Mỹ thường thành thục ở tuổi 3
+
÷4
+
, tuy nhiên cũng đã có nghiên
cứu cho thấy chúng có thể thành thục sớm hơn sau năm. Gần đến giai đoạn thành
thục chúng thường không ăn hàng ngày mà chỉ ăn 3 lần/tuần. Mỗi cá cái có thể
thành thục hơn một lần/năm, một số báo cáo còn cho biết một số trang tại sản
Bãi đẻ,
Nồng độ muối 32‰
Bãi sinh trưởng, thuỷ vực
nước lợ hoặc nước ngọt
Bãi sinh trưởng của cá con, nồng
độ muối 25÷30‰ ven biển
Di cư xuôi dòng
Trứng trôi dạt, ấu
trùng phát triển 6
xuất cá giống ở bang Texas đã bắt gặp một con cá cái có thể đẻ 7 lần trong 26
ngày.sức sinh sản của loài cá này rất lớn, một cá cái 11÷14 kg có thể đẻ 0,5 triệu
trứng/lần và đạt 1÷3 triệu trứng/năm.
1.2.2. Sức sinh sản và đẻ trứng
- Sức sinh sản của loài cá này rất lớn, một cá cái 11÷14 kg có thể đẻ 0,5
triệu trứng/lần và đạt 1÷3 triệu trứng/năm. Cá Hồng Mỹ thường đẻ vào mùa thu
và phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi trường như: nhiệt độ nước, tốc độ
dòng chảy và thủy triều
- Dựa trên các nghiên cứu về tập tính sinh sản của cá trong bể, nhiều tác giả
cho biết cá đực và cá cái thành thục sẽ sớm tách đàn và ngừng ăn 1 tuần trước khi
1.2.5. Sinh trưởng của cá
Tốc độ sinh trưởng của cá Hồng Mỹ có dạng đường cong sigma, nó phụ
thuộc rất lớn vào khu vực nuôi. Tại các trang trại ở Florida và vịnh Mexico cá
Hồng Mỹ có thể đạt 1÷2 kg trong thời gian 14÷22 tháng, nhưng nếu nuôi trong
khu vực nhiệt đới thì tốc độ tăng trưởng của nó sẽ tăng lên rất nhiều.
Tốc độ tăng trưởng của cá Hồng Mỹ còn phụ thuộc vào mật độ nuôi, thời
gian nuôi, loại thức ăn, cỡ cá thả ban đầu. Ví dụ ở Israel cỡ Cá giống 120 gam
thả trong lồng với mật độ 30÷60 con/m
3
thì tốc độ tăng trưởng trung bình là 800
gam/con, trong vòng 6÷7 tháng nuôi. Với mật độ nuôi 140 con/m
3
Cá có thể đạt
750 gam/con khi nuôi trong thời gian là 10÷14 tháng và cho ăn bằng thức ăn cao
đạm. Ở các tỉnh ven biển phía bắc nước ta cá Hồng Mỹ nuôi sau 1 năm có thể đạt
từ 1÷1,8 kg/con.
Cá Hồng Mỹ tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20÷30 gam tốc độ
tăng trưởng nhanh hơn (Bảng 1.1) và chậm lại khi cá bắt đầu thành thục sinh dục.
Bảng 1.1.Tăng trưởng trung bình của cá trong sinh sản nhân tạo
Tuổi
(ngày)
Chiều dài trung bình
(mm)
Khối lượng cơ
thể trung bình (gam)
Trứng thụ tinh
0,91
-
0
1,49
tuổi có chiều dài khoảng 34 cm, cá 2 tuổi khoảng 54 cm, cá 3 tuổi khoảng 64 cm,
cá 4 tuổi xấp xỉ 75 cm và 5 tuổi đạt trên 84 cm. Tăng trưởng của chiều dài đạt
nhanh nhất trong năm đầu tiên của chu kỳ sống (Johnson 1977). Theo Peason
(1928), cá đực bắt đầu thành thục ở 1÷3 tuổi, cá cái 3÷6 tuổi. Theo mô tả của
Wusst và Lasswell (1978) cá đực và cá cái bắt đầu kết cặp vào lúc chiều tối và đẻ
trứng, thụ tinh khoảng 9÷10 giờ đêm. Theo Robest (1978), Tại Florida cá Hồng
Mỹ đẻ trứng đạt khoảng 20.000÷2.000.000 trứng/cá thể. Trứng mới nở có chiều
dài khoảng 0,8÷1,0 mm, Ấu trùng mới nở có chiều dài trung bình 1,4 mm, ấu
trùng trôi nổi theo chiều thảng đứng nhờ giọt dầu ở trước noãn hoàng, ấu trùng
phát triển và đạt 5,1 mm tại 12 ngày tuổi, màu sắc chuyển sang màu đen sẫm khi
cá đạt 22 ngày và chuyển sang giai đoạn cá hương [13].
Tốc độ tăng trưởng của cá Hồng Mỹ phụ thuộc rất lớn vào khu vực nuôi.
Theo Henderson-Arzapolo (1995), tại các trang trại ở Florida và vịnh Mehico cá
Hồng Mỹ có thể đạt 1÷2 kg trong thời gian 14÷22 tháng, nhưng nếu như nuôi
trong khu vực nhiệt đới thì tốc độ tăng trưởng của nó sẽ tăng lên rất nhiều. Ngoài
ra, tốc độ tăng trưởng của cá còn phụ thuộc vào mật độ và thời gian nuôi, loại
thức ăn, cỡ cá thả ban đầu. Chẳng hạn như cỡ cá giống 120 g, thả trong lồng với
mật độ 30÷60 con/m
3
, tốc độ tăng trưởng trung bình là 450÷500 g/con trong
vòng 6÷7 tháng nuôi. Với mật độ nuôi 140 con/m
3
, cá có thể đạt 650g/con khi
nuôi trong thời gian là 10÷14 tháng và cho ăn bằng thức ăn có hàm lượng dinh
dưỡng cao (Pillay, T.V.R., 1995). 9
Theo FAO (2006), sản lượng nuôi cá Hồng Mỹ năm 2004 trên 40.000 tấn.
Trong đó, hơn 94% sản phẩm được cung cấp từ Trung Quốc, Israel, Manitius,
rộng lớn, 1 triệu km
2
vùng đặc quyền kinh tế, hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ nhiều 10
eo, vịnh đã tạo nên tiềm năng về diện tích mặt nước thuận lợi cho phát triển nuôi
trồng thủy sản nước mặn, lợ đặc biệt là nghề nuôi cá biển. Theo báo cáo Tổng
cục Thủy sản, năm 2013 sản lượng thủy sản cả nước đạt 6,05 triệu tấn (tăng 2,1%
so năm 2012); trong đó, sản lượng khai thác 2,71 triệu tấn, nuôi trồng đạt 3,34
triệu tấn nhưng chủ yếu là tôm nước lợ (ước đạt 548.000 tấn) và cá tra (1,15 triệu
tấn). Sản lượng nuôi cá biển còn rất hạn chế. Diện tích mặt biển có thể đưa vào
quy hoạch nuôi biển lên tới 460,000 ha.[2] Các vùng có điều kiện tự nhiên thuận
lợi là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Yên, Khánh Hoà,
Bình Thuận, Ninh Thuận, Vũng Tàu, Kiên Giang (Phú Quốc). Tuy nhiên theo
đánh giá của FAO nghề nuôi cá biển của Việt Nam còn non trẻ so với các nước
trong khu vực Đông Nam Á và chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.
Nghề nuôi cá biển ở Việt Nam đang từng bước phát triển cả về đối tượng
cũng như sản lượng nuôi. Trong đó sự phân bố các vùng nuôi cá biển chưa đồng
đều, chủ yếu tập trung phát triển mạnh nhất vẫn là các tỉnh Nam Trung Bộ và
Nam Bộ do điều kiện thời tiết thuận lợi, nhiệt độ nóng ẩm quanh năm, không có
mùa đông lạnh. Năm 2013 sản lượng cá nuôi lồng bè trên biển ước đạt khoảng
1.500 tấn. Riêng tại Kiên Giang, nghề nuôi cá lồng bè phát triển khá mạnh, tập
trung ở hai huyện đảo là Kiên Hải và Phú Quốc. Theo kế hoạch từ nay đến 2015,
định hướng đến 2020, các vùng nuôi này sẽ xây dựng vùng nuôi cá biển tập trung
với các đối tượng nuôi phục vụ xuất khẩu như cá Chẽm, cá Giò, cá Mú, cá Cam
Trong khi đó các tỉnh vùng Bắc Trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Huế) do đặc thù địa hình và điều kiện tự nhiên, là vùng
thườnga xuyên phải chịu tác động bất lợi của thời tiết và khí hậu, trong đó có
mùa đông lạnh, nhiệt độ thấp kéo dài đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển nuôi
và đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu con giống phục vụ nuôi nội địa. Cá Hồng
Mỹ đã được nuôi phổ biến trong lồng bè ở vùng biển các địa phương Hải Phòng,
Quảng Ninh. Năm 2003, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I thực hiện đề tài
“Xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo cá Hồng Mỹ” đã đạt được những kết
quả tốt, đồng thời tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình và tiến tới chuyển 12
giao công nghệ tại các địa phương. Về cơ bản, đề tài đã nghiên cứu thành công từ
khâu nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục đến sinh sản và ương nuôi ấu trùng thành cá
giống ở quy mô gần với sản xuất hàng hoá. Việc sản xuất giống thành công sẽ
giúp cho nghề nuôi biển chủ động được nguồn giống, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển nghề nuôi cá lồng trên biển nói riêng và nghề nuôi thuỷ sản nói
chung, từ đó giảm được sức ép khai thác nguồn lợi cá giống ven bờ, tạo thêm
nhiều công ăn việc làm cho cộng đồng ngư dân ven biển.
Tại Nghệ An, phong trào nuôi cá biển đã phát triển nhưng chưa mạnh,
đối tượng nuôi còn ít. Từ năm 2005, số lượng lồng nuôi trên biển lên đến 200
lồng, nhưng do ảnh hưởng của các cơn bão năm 2005, 2007 đã tàn phá hết số
lồng trên nên phong trào nuôi cá lồng trên biển giảm rõ rệt. Phong trào nuôi cá
biển bắt đầu phát triển trở lại khi Trung tâm giống thủy sản Nghệ An sản xuất
thành công giống cá Vược, Phân viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc
Trung Bộ sản xuất thành công cá Chim biển, cá Mú, cá Giò, cá Bống Bớp, . .
Theo số liệu thống kê của ngành thủy sản Nghệ An, hiện nay trên toàn tỉnh
Nghệ An có trên 20 ha, trên 100 lồng nuôi cá nước mặn phân bố chủ yếu ở các
huyện: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò. Ngoài các đối
tượng đã sản xuất trong tỉnh thì một số đối tượng cá biển có giá trị kinh tế vẫn
phải nhập từ các tỉnh phía Nam và các tỉnh thành phía Bắc trong đó có đối
tượng cá Hồng Mỹ. Trong năm 2011, các cơ sở ương nuôi cá biển đã nhập về
Nghệ An khoảng 5 triệu trứng và 30 vạn cá Hồng Mỹ. Điểm nổi bật của đối
tượng này là khi đưa vào nuôi thương phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh, chất
3/cá thể/tuần (thành phần 1 viên Omega-3 bao gồm: EPA 180mg, DHA 120 mg,
vitamin E 1UI).
+ Chế độ thay nước: 80÷100%/ngày, tạo dòng nước để kích thích sự thành
thục của đàn cá.
1.4.1.3. Tuyển chọn cá bố mẹ cho tham gia sinh sản
Sau khi nuôi vỗ tích cực đàn cá bố mẹ từ 60 đến 90 ngày. Tiến hành kiểm
tra lựa chọn đàn cá bố mẹ cho tham gia sinh sản.
+ Đối với cá cái: Dùng ống thăm trứng (Polyethylene) đường kính 1,2 mm.
Gây mê cá bằng Ethylenglycol: 50 cc/300 lít nước sạch, mỗi lần gây mê 1÷2 con