BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
__________________
LÊ THỊ HÀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN CHÍNH TRỊ THEO HƯỚNG PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ DU LỊCH THƯƠNG MẠI NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
__________________
LÊ THỊ HÀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN CHÍNH TRỊ THEO HƯỚNG PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ DU LỊCH
-THƯƠNG MẠI NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chủ nghĩa tư bản
2. CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
3. CNH, HĐH
:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4. GV
:
Giáo viên
5. PPDH
:
Phương pháp dạy học
6. PPVĐ
:
Tư bản chủ nghĩa
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển
của mỗi quốc gia. Tất cả các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, đều
phải nỗ lực tìm ra những chính sách phù hợp và hiệu quả nhằm xây dựng nền
giáo dục của mình để đáp ứng nhu cầu của thời đại và bắt nhịp với các quốc
gia khác trên thế giới.
Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, trong
nhiều năm qua, Việt Nam đã và đang thực hiện quá trình cải cách giáo dục
sâu rộng ở mọi cấp học. Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng
đã đề ra nhiệm vụ phải đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các bộ
môn khoa học Mác - Lênin: “Khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội, đổi
mới một cách căn bản nội dung và phương pháp giảng dạy các bộ môn khoa
học Mác - Lênin, khoa học kinh tế, khoa học quản lý; phát triển nhanh các
ngành kinh tế học, xã hội học, luật học, khoa học chính trị và khoa học quản
lý,…” [16; 80]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ ra:
“Từng bước nghiên cứu, áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại vào quá trình đào tạo" [17; 109]; Nghị quyết về khoa học và giáo dục
của Hội nghị Ban chấp hành trung ương khoá VIII đã lên án gay gắt lối truyền
thụ một chiều thầy đọc trò chép: “Kiên quyết khắc phục lối truyền thụ một
chiều, phát huy tư duy, sáng tạo của người học” [18; 67]. Như vậy, phương
pháp dạy học là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu, trực tiếp quyết
định chất lượng giáo dục, đào tạo. Song sử dụng phương pháp nào để đảm
bảo chất lượng và hiệu quả là vần đề thường xuyên được quan tâm của những
cho nên chủ yếu là học đối phó, chất lượng dạy học chưa tương xứng với vị
trí và vai trò quan trọng của bộ môn. Trước yêu cầu mới của thời đại ngày
3
nay, đặc biệt là yêu cầu đào tạo ra những con người sáng tạo, việc đổi mới
phương pháp dạy học đang là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong dạy học nói chung
và dạy học môn chính trị ở trường Cao đẳng nghề Du lịch - Thương mại Nghệ
An nói riêng.
Với ý nghĩa đó và với những kinh nghiệm qua giảng dạy thực tế của bản
thân, chúng tôi chọn đề tài: “Đổi mới phương pháp dạy học môn chính trị
theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên ở trường Cao
đẳng nghề Du lịch - Thương mại Nghệ An ” để làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề quan
trọng, cơ bản, lâu dài trong mọi thời đại và được nhiều nhà tư tưởng lớn quan
tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Ngay từ thế kỷ XVIII, Ru - xô
(Jean Jacques Rousseau) (1712-1778) nhà văn hoá, nhà giáo dục lớn của Pháp
đã đưa ra quan niệm mục tiêu giáo dục là cung cấp cái gì mà người sinh ra
không có, nhưng lại cần trong quá trình lớn lên. Đây là xây dựng con người
có lý trí, con người tự do, tự chủ. Vai trò của người thầy là rất quan trọng,
nhưng trò tự học là chính. Người thầy phải tuân theo một số nguyên tắc: Phát
huy trí xét đoán của trò, làm cho trò thấy lợi ích của bản thân trong học tập,
đồng thời có cảm tưởng rằng mình tự chủ, không phục tùng một uy tín nào cả,
không phải nhờ ai giúp đỡ trong qúa trình thu lượm nhận thức mới và thâm
nhập thực tế. Học nhưng phải hành, hành tức là đi sâu vào thực tế xã hội để
học, để tìm hiểu và cọ xát với người.
Lý luận giáo dục, phương pháp giáo dục của Ru - xô là một bộ phận
trong hệ tư tưởng của ông. Sau hơn 200 năm, người ta vẫn bàn đến phương
số 494/QĐ - TTg ngày 24/6/2002 về phê duyệt đề án: "Một số biện pháp
nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các bộ môn khoa học
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường Đại học, Cao đẳng;
môn chính trị trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề"; GS.TS
5
Khoa học Thái Duy Tuyên: " Với công tác bồi dưỡng năng lực tự học cho học
sinh"; Lương Gia Ban chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) với
cuốn: "Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung chương
trình các môn học Mác - lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh"; GS.TS Trần Bá
Hoành: "Lý luận cơ bản về dạy và học tích cực"; RobertJ. Marzano - Debra J.
Pickering - Janne E. Pollcck - Các phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo
dục, 2005; Trần Bá Hoành, dạy học lấy học sinh làm trung tâm - nguồn gốc,
bản chất, đặc điểm, tạp chí khoa học giáo dục, số 96/2003; Trần Bá Hoành,
bàn tiếp về dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tạp chí nghiên cứu giáo dục,
số 5/1995; Nguyễn Thị Bích Liên: "Những biện pháp sư phạm phát huy tính
tích cực học tập của học sinh"- Luận văn thạc sỹ khoa học sư phạm; Trần
Hồng Quân: "Cách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống
mới cho giáo dục ở thời đại mới", tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 7, 1998; Vũ
Hồng Tiến: "Một số phương pháp dạy học tích cực chuyên đề 2"; Nguyễn
Hữu Vui: "Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở
Việt Nam - những vấn đề chung", NXB Quốc gia, Hà Nội, 2002. ... Các công
trình nghiên cứu ở các góc độ các môn khoa học khác nhau, các tác giả đã chỉ
ra hiệu quả cũng như vai trò to lớn của đổi mới PPDH. Những vần đề này
được các nhà giáo tiếp cận và vận dụng vào giảng dạy nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả dạy học.
Vì vậy, dưới sự tác động của cách mạng Khoa học, công nghệ và sự
phhát triển của lý luận dạy học hiện đại, quan điểm “Đổi mới phương pháp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên
có thể sử dụng nhiều phương pháp, tuy nhiên với phạm vi của Luận văn,
chúng tôi chỉ đi sâu vào việc sử dụng hai phương pháp trong thực nghiệm:
7
- Sử dụng phương pháp nêu vấn đề theo hướng phát huy tính tích cực,
sáng tạo của sinh viên trong giảng dạy bài thực nghiệm số 1
- Kết hợp phương pháp vấn đáp với phương pháp nêu vấn đề theo hướng
phát huy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên trong giảng dạy bài thực nghiệm
số 2
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng
Hồ Chí Minh; dựa vào quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục đào
tạo, quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng hai nhóm phương pháp chủ
đạo:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Phân tích và tổng hợp tài liệu.
+ Phân tích số liệu thống kê.
+ Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết.
+ Phương pháp giả thuyết khoa học.
+ Phương pháp logic và lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp trao đổi kinh nghiệm.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
+ Phương pháp điều tra cơ bản.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu có hệ thống các giải pháp phù hợp để đổi mới PPDH môn chính trị
9
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN CHÍNH TRỊ THEO HƯỚNG PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1. Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp dạy học môn chính
trị theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên ở trường cao
đẳng nghề
1.1.1. Phương pháp và phương pháp dạy học
1.1.1.1. Khái niệm phương pháp
Khái niệm “phương pháp” xuất phát từ thuật ngữ Hy Lạp cổ
“methodes” nghĩa là “con đường nghiên cứu”, “phương pháp nhận thức”.
Theo V.I.Lênin: “Trong nhận thức đang tìm tòi, phương pháp cũng là công
cụ, là một thủ đoạn đứng về phía chủ quan, qua thủ đoạn đó nó có quan hệ với
khách thể” [31; 237]
Có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp. Chẳng hạn: (1)
Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện tiến hành hoạt động nào
đó để đạt được những mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn;
(2) Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung, nó gắn liền
với hoạt động của con người để nhằm mục đích thực hiện thành công những
mục đích, nhiệm vụ đó đề ra.
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng chúng ta có thể hiểu: phương
pháp là cách thức, con đường, phương tiện tiến hành hoạt động của con người
để đạt tới mục đích đã xác định. Phương pháp là hình thức tự vận động bên
trong của nội dung, gắn liền với nội dung và hoạt động thực tiễn của con
11
Cấp độ thứ nhất: PPDH là cách thức triển khai của một hệ thống dạy
học đa tầng, đại diện cho một bậc học, cấp học, ngành học.
Cấp độ thứ hai: PPDH được hiểu là phương pháp triển khai một quá
trình dạy học cụ thể. Tức là cách thức hình thành mục đích dạy học, cách thức
soạn thảo và triển khai nội dung dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy và
hoạt động học nhằm hiện thực hoá mục đích, nội dung dạy học và cách thức
kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình dạy học.
Cấp độ thứ ba: PPDH được hiểu là cách thức tiến hành các hoạt động
của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được
xác định.
Từ đó có thể rút ra kết luận: PPDH là cách thức hoạt động có trình tự,
phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và sinh viên nhằm đạt được mục
đích dạy học.
Nói cách khác, PPDH là hệ thống hành động có chủ đích, theo một tình
tự nhất định của giáo viên và sinh viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và
hoạt động thực hành của sinh viên, đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học
và như vậy đạt được mục đích dạy học.
Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới PPDH:
- Phương pháp dạy học chịu sự tác động của mục đích dạy học. Mục
đích dạy học là sự phản ánh những kết quả dự kiến cần đạt được sau mỗi tác
động hay sau khi kết thúc một quá trình dạy học, nó thường bao gồm các mục
tiêu cụ thể.
- Trong dạy học, nội dung dạy học là toàn bộ khối lượng tri thức mà
chủ thể cần chuyển tải đến đối tượng, nhằm thực hiện mục đích đặt ra. Do vậy
nội dung dạy học rất rộng, nó bao gồm tất cả những tri thức khác nhau của
đời sống xã hội.
13
Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực không phải là một PPDH cụ
thể mà là một khái niệm theo nghĩa rộng, bao gồm những quan điểm, hình
thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng
tạo của người học.
Phương pháp dạy học tích cực được dùng với ý nghĩa là hoạt động chủ
động, trái nghĩa với không linh hoạt, thụ động, chứ không dùng theo nghĩa
trái với tiêu cực. Với ý nghĩa đó, PPDH là cách dạy hướng tới việc “trao
quyền” cho sinh viên, tích cực hoá hoạt động nhận thức của sinh viên, chống
lại thói quen học tập thụ động - tức là tập trung vào việc phát huy tính tích
cực hoạt động học của sinh viên chứ không phải tập trung vào phát huy tính
tích cực hoạt động dạy của giáo viên. Với PPDH tích cực, giáo viên chỉ đóng
vai trò là người chỉ đạo, hướng dẫn sinh viên phương pháp tự học, dẫn dắt các
em tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Về phía sinh viên, mục tiêu là lĩnh
hội kiến thức và rèn luyện các kĩ năng, cho nên, trong qúa trình học tập phải
thực sự chủ động nghiên cứu, tìm tòi, khám phá những tri thức mới. Có thể
nói, cả giáo viên và sinh viên đều hướng tới nội dung dạy học, làm sáng tỏ
các vấn đề lý luận đã được xây dựng trong các chương trình môn học và mối
quan hệ giữa lý luận với thực tiễn nhằm giải quyết những vấn đề do thực tiễn
đặt ra.
Theo PGS. TS. Vũ Hồng Tiến: “Phương pháp dạy học tích cực là một
thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo
dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích, chủ động, sáng tạo của người học.
Phương pháp dạy học tích cực hướng vào việc hoạt động hoá, tích cực hoá
hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích
cực của người học chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cực của
người dạy, tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải
nổ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động” [41; 1].
15
tưởng, khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh, từ đó có những biểu hiện tích
cực đến suy nghĩ và hành động đúng đắn của sinh viên.
Trong nhận thức của nhiều người, kể cả những nhà nghiên cứu về
khoa học giáo dục hiện nay vẫn đồng nghĩa phương pháp thuyết trình với
PPDH. Cần phải hiểu rằng, thuyết trình trong dạy học truyền thống là giáo
viên giữ vai trò hoàn toàn chủ động, còn sinh viên thụ động nghe và ghi. Vậy
dạy học tích cực có còn sử dụng được phương pháp thuyết trình không? Câu
trả lời là hoàn toàn được. Tuy nhiên, thuyết trình tích cực không còn nguyên
nghĩa như trước đây nữa. Thuyết trình tích cực có quan hệ chặt chẽ với các
phương pháp khác, người giáo viên biết vận dụng linh hoạt và khéo léo
phương pháp thuyết trình trong quá trình dạy học sẽ làm cho hiệu quả dạy và
học được nâng cao. Trong quá trình đó, ngôn ngữ có lời và hành vi không lời
sẽ cuốn hút người nghe hứng thú với nội dung nêu ra và họ sẵn sàng tham gia
giải quyết vấn đề khi cần. Đó chính là thuyết trình nêu vấn đề hay thuyết trình
kết hợp giải quyết tình huống có vấn đề.
Môn học chính trị ở trường cao đẳng nghề là sự tập hợp kiến thức của
5 môn học: Triết học, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử
Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Dạy học bao gồm cũng phải đảm bảo tính kế
thừa các tri thức khoa học khác, tri thức trước là tiền đề là cơ sở của tri thức
sau; tri thức sau bổ sung, củng cố tri thức trước. Phương pháp thuyết trình cho
phép người giáo viên có được mối liên hệ với những tri thức cũ, chọn lọc
những tri thức nào cần kế thừa để trong thời gian nhắn nhất có thể cung cấp
cho sinh viên một lượng tri thức lớn.
Đổi mới phương pháp thuyết trình đòi hỏi giáo viên phải có sự linh
hoạt, vận dụng khéo léo sự kết hợp thuyết trình với phương pháp tích cực
khác, phù hợp với đặc thù của từng bài. Từ đó, tích cực hoá phương pháp
nêu vấn đề buộc sinh viên luôn ở trong tình huống có vấn đề, căng thẳng trí tuệ
và tự lực tìm lời giải đáp dưới sự dẫn dắt của giáo viên. Trong vấn đáp tìm tòi,
giáo viên tổ chức sự tìm tòi, kích thích sự ham muốn hiểu biết cho sinh viên,
khuyến khích sinh viên tự lực phát hiện chân lý. Kết quả của vấn đáp tìm tòi là
niềm vui, sự hứng thú về tư duy sáng tạo của sinh viên.
Mỗi hình thức vấn đáp đều có tác dụng thu hút sự chú ý và kích thích tư
duy của sinh viên. Vì vậy, chúng ta có thể và cần phải áp dụng vào dạy học
môn chính trị để phát huy tính tích cực học tập, phát triển tư duy cho sinh
viên. Yếu tố quyết định thành công nhất của phương pháp vấn đáp là hệ thống
18
câu hỏi, mức độ khó, dễ của từng câu hỏi và thời điểm hỏi của giáo viên trong
quá trình dạy học. Nếu giáo viên xây dựng và vận dụng hệ thống câu hỏi một
cách hợp lý, phù hợp với nội dung và từng đối tượng sinh viên sẽ tạo ra sự
chú ý và không khí học tập sôi nổi của lớp học, với tinh thần đó, sinh viên dễ
dàng lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Việc xây dựng hệ thống câu hỏi
phù hợp và dẫn dắt sinh viên trả lời tốt các câu hỏi để đi tới nắm chắc nội
dung kiến thức và rèn luyện kĩ năng là yêu cầu trọng tâm của phương pháp
vấn đáp. Tuy nhiên, để vận dụng có hiệu quả, trước hết, giáo viên sử dụng
những câu hỏi yêu cầu sinh viên tái hiện những kiến thức đã được học hay có
sẵn trong giáo trình. Bởi đó là cơ sở để giáo viên nêu câu hỏi yêu cầu giải
thích hay tìm tòi kiến thức mới.
Ba là, phương pháp giải quyết vấn đề.
Trước hết cần thống nhất một số thuật ngữ:
Vấn đề: vấn là hỏi, đề là đề mục (question, problem)
Tình hình: hình thế thực tại (situation). Trong tình hình diễn ra nhiều
tình huống (incident).
Tình huống: sự kiện cần được nghiên cứu xử lý.
vấn đề. Trong dạy học thì đó là cần đặt sinh viên vào tình huống có vấn đề.
Vấn đề cần được trình bày rõ ràng, còn gọi là phát biểu vấn đề.
Bước 2: Tìm các phương án giải quyết
Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án khác nhau để giải quyết
vấn đề. Để tìm các phương án giải quyết vấn đề, cần so sánh, liên hệ với
những cách giải quyết các vấn đề tương tự đã biết cũng như tìm các phương
án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ
thống hoá để xử lý ở giai đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm
được phương án giải quyết thì cần trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại
việc nhận biết và hiểu vấn đề.
20
Bước 3: Quyết định phương án giải quyết
Trong bước này cần quyết định phương án giải quyết vấn đề, tức là cần
giải quyết vấn đề. Các phương án giải quyết đã được tìm ra cần được phân
tích, so sánh và đánh giá xem có thực hiện được việc giải quyết vấn đề hay
không. Nếu có nhiều phương án có thể giải quyết thì cần so sánh để xác định
phương án tối ưu. Nếu việc kiểm tra các phương án đã đề xuất đưa đến kết
quả là không giải quyết được vấn đề thì cần trở lại giai đoạn tìm kiếm phương
án giải quyết mới. Khi đã quyết định được phương án thích hợp, giải quyết
được vấn đề tức là đã kết thúc việc giải quyết vấn đề. Đó là 3 giai đoạn cơ bản
của quá trình giải quyết vấn đề. Trong dạy học giải quyết vấn đề, sau khi kết
thúc việc giải quyết vấn đề có thể luyện tập vận dụng cách giải quyết vấn đề
trong những tình huống khác nhau.
Trong các tài liệu về dạy học giải quyết vấn đề người ta đưa ra nhiều
mô hình cấu trúc gồm nhiều bước khác nhau của dạy học giải quyết vấn đề, ví
dụ cấu trúc 4 bước sau:
• Tạo tình huống có vấn đề (nhận biết vấn đề)