1
MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã và đang hội nhập sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài chính của
Việt Nam. Cùng với nó thị trường tài chính ngân hàng cũng có nhiều khởi
sắc, đánh dấu một bước phát triển cả về lượng lẫn về chất của hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Tuy nhiên, là một lĩnh vực kinh doanh đầy nhạy cảm, chịu sự
tác động trực tiếp và gián tiếp của rất nhiều yếu tố nên rủi ro ngân hàng rất
lớn. Trong hoạt động của ngân hàng, rủi ro tín dụng là điều không thể nào
tránh khỏi và có khả năng trở thành những nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Theo định hướng của Chính phủ, năm 2015, cả nước sẽ có 600.000
doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Đi cùng với con số này là một lượng
vốn lớn cần được đáp ứng. Ước tính 80% lượng vốn cung ứng cho DNVVN
là từ kênh ngân hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chính, cơ
bản mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Các quy luật kinh tế đã
chứng minh - Lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, mối quan hệ giữa lợi
nhuận và rủi ro là mối quan hệ tỷ lệ thuận. Để phát triển ổn định, hạn chế rủi
ro luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà ngân hàng.
Từ cuối năm 2007 khủng hoảng kinh tế bắt đầu và bùng nổ trên toàn
cầu, đã làm ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện đến đời sống, kinh tế, chính trị của
các quốc gia trên toàn thế giới. Nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng
này là do sự sụp đổ hàng loạt của hệ thống ngân hàng ở Mỹ, với các món vay
bất động sản chứa đựng rủi ro cao. Qua đây, một lần nữa khẳng định về tầm
quan trọng của hoạt động quản lý rủi ro tín dụng đối với sự sống còn của một
ngân hàng nói riêng và sự bình ổn của nền kinh tế nói chung.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - chi nhánh
Quảng Ninh là một trong những chi nhánh hoạt động có hiệu quả, dư nợ cao.
Chi nhánh đặt tại Quảng Ninh, một mảnh đất đầy tiềm năng, các ngành công
chính) có ảnh hưởng đến thứ hạng tín dụng (cụ thể là ảnh hưởng đến xác suất
mà khách hàng rơi vào các thứ hạng tín dụng nào).
- Thứ tư; đề xuất một số ý kiến trong khâu thẩm định của cán bộ tín
dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Chi nhánh
VCB Quảng Ninh. Đồng thời là cơ sở để ngân hàng tư vấn cho các khách
hàng pháp nhân làm thế nào để tăng thứ hạng tín dụng của mình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của
VCB Quảng Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu: với khả năng cho phép và trong khuôn khổ yêu cầu của
luận văn thạc sĩ thì luận văn nghiên cứu thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro tín
dụng của ngân hàng VCB Quảng Ninh, với các dữ liệu tiếp cận từ báo các báo
cáo tín dụng của ngân hàng và các và các thông tin về thực tiễn hoạt động của
169 doanh nghiệp là khách hàng pháp nhân của ngân hàng theo từng quý
trong ba năm 2007-2009 với trên 300 quan sát và hơn 30 biến.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp: phương pháp phân tích tài
chính, và phân tích định lượng bằng phương pháp hồi quy logitstic cùng với
sự trợ giúp của phần mềm SPSS để phân tích các số liệu để đưa ra các kết quả
mang tính khoa học và có ý nghĩa thống kê.
6. Đóng góp của luận văn:
Luận văn nghiên cứu các vấn đề về hoạt động tín dụng của VCB và các
loại rủi ro có thể gặp phải. Áp dụng mô hình toán đo lường, phân tích một số
yếu tố ảnh hưởng đến thứ hạng tín dụng của khách hàng pháp nhân, luận văn
này có thể các cán bộ tín dụng, ban giám đốc của VCB Quảng Ninh nói chung
và một số ngân hàng trên địa bàn Quảng Ninh lấy làm cơ sở trong việc phân
4
tích tài chính thẩm định các khách hàng pháp nhân để giảm tỷ lệ nợ xấu và
phòng ngừa rủi ro tín dụng,
7. Kết cấu của luận văn
nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng (Peter Rose,
Quản trị ngân hàng thương mại). Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro,
theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng.
P.Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân
hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh
doanh”. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất
và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Có nhiều
định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng.
Trong tài liệu: “Financial Institutions Management - A Modern
Perpective”, A. Sauder và H. Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ
tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng
các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không
thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn.
6
Theo Timothy W. Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi
ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán
vốn gốc và lãi theo thoả thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu
nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn
(Bank Managentment, University of South Carolia, The dryden Press, 1995,
page 107).
Còn theo Henie Van Greuning... Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín
dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi
hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây
là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi
trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ, điều này gây ra
sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản
của ngân hàng (The World Bank).
Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005
chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tuỳ theo mục đích,
yêu cầu nghiên cứu. Tuỳ theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín
dụng thành các loại khác nhau.
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân
chia thành các loại sau đây:
8
Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân
phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay,
đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên
quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để
quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro liên quan đến các tiêu
chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…);
rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật
xử lý các khoản vay có vấn đề).
Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân
thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của
khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng
tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc
trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi
ro cao).
- Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra
rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ
quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên
tai, địch hoạ, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác
Rủi ro
tín dụng
nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu
hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín
dụng do đặc điểm của tình hình tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng
ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ
nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp
phòng ngừa phù hợp.
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt
động tín dụng của ngân hàng thương mại: tình trạng thông tin bất cân xứng đã
làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn
diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro
10
đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở
mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
1.1.4 Những căn cứ chủ yếu để xác định mức độ rủi ro tín dụng
Thông thường để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM người ta
thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn và kết quả phân loại nợ.
1.1.4.1 Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không
được phép và không đủ tiêu chuẩn để được gia hạn nợ.
Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các NHTM thường chia nợ quá hạn thành
các nhóm sau:
+ Nợ quá hạn đến 180 ngày, có khả năng thu hồi
+ Nợ quá hạn từ 180-360 ngày, có khả năng thu hồi
+ Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên (nợ khó đòi)
1.1.4.2 Phân loại nợ
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) theo nội dung Quyết
đính số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN thì tổ chức tín
dụng (TCTD) thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm như sau:
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở
lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ
cấu lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Các khoản nợ khác được phân vào nhóm năm theo quy định.
Bên cạnh đó, quy định này cũng nêu rõ, thời gian thử thách để thăng
hạng nợ (ví dụ từ nhóm 2 lên nhóm 1…) là 6 tháng đối với khoản nợ trung dài
12
hạn và 3 tháng đối với khoản nợ ngắn hạn kể từ ngày khách hàng trả đầy đủ
gốc và lãi của khoản vay bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn
trả nợ. Và toàn bộ dư nợ của khách hàng tại các TCTD được phân vào cùng
một nhóm nợ ví dụ: khách hàng có hai khoản nợ trở lên tại các TCTD mà có
bất cứ một khoản nợ nào được phân vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ
còn lại thì toàn bộ các khoản nợ còn lại của khách hàng phải được TCTD
phân vào nhóm nợ có độ rủi ro cao nhất đó.
Nợ xấu (hay các tên gọi khác như nợ có vấn đề, nợ khó đòi…) là các
khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 có các đặc trưng sau:
+ Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các
cam kết này đã đến hạn.
+ Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến
có khả năng ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi.
+ Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải
nợ gốc và lãi.
+ Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những
khoản nợ quá hạn trên 90 ngày.
Một tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được coi là nằm trong giới
hạn cho phép, khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá 5% thì tổ chức đó cần phải xem xét,
rà soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chi tiết và thận trọng
mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập
dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất là khi ngân hàng không
thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ
và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài và không khắc phục được, ngân hàng
14
sẽ bị phá sản gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống
ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết
sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong
cho vay.
1.1.6 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động
ngân hàng luôn phải đối diện với rủi ro. Vì vậy, nhận diện những nguyên
nhân gây ra rủi ro là hoạt động thường xuyên,liên tục và quan trọng để có
biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại. Có 3 nhóm nguyên nhân cơ
bản sau đây:
- Những nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng:
+ Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi
nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá
nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó.
+ Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin
không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý.
+ Do cạnh trạnh của các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao
hơn các ngân hàng khác.
+ Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành
đúng quy trình cho vay. Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ nghiệp vụ; Cán
bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh.
+ Định giá tài sản không chính xác; không thực hiện đầy đủ các thủ tục
pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là:
dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ.
- Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng
16
thể trái ngược hoặc cản trở nhau. Vì vậy, cần phải có quản trị để mọi người
hành động một cách thống nhất.
Quản trị đề ra những mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng.
Phải có kế hoạch hành động cụ thể và hiệu quả phù hợp với mục tiêu đề ra.
1.2.2 Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro tín dụng
Hoạch định phương hướng và kế hoạch phòng chống rủi ro. Phương
hướng nhằm vào dự đoán xác định rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều
kiện nào, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao, …
Phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học nhằm chỉ ra
những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể
chấp nhận được.
Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng
chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn
những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả
do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc.
Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch
phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi
thực hiện giao quyền hạn và trách nhiệm cho các thành viên để thực thi công
tác phòng chống rủi ro trên cơ sở đó đề nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ
sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro.
1.2.3 Đo lường rủi ro tín dụng
Một trong những tính chất cơ bản của tài chính hiện đại là tính rủi ro, và
vì vậy tất cả các mô hình tài chính hiện đại đều được đặt trong môi trường rủi
ro. Do đó, cần thiết phải có một khái niệm rủi ro theo quan điểm lượng và
phải xây dựng công cụ để đo lường nó. Có thể sử dụng nhiều mô hình khác
nhau để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các
17
mô hình định lượng và mô hình định tính. Luận văn xin giới thiệu một số mô
hình như sau:
- X; (ii) tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ
của người vay trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau:
Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5 (1)
Trong đó:
X1: tỷ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”
X2: tỷ số “lợi nhuận tích luỹ/ tổng tài sản”.
X3: tỷ số “lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản”.
X4: tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”.
X5: tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”.
Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy,
khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm
có nguy cơ vỡ nợ cao.
Z < 1,8: Khách hàng có khả năng rủi ro cao.
1, 8 < Z < 3: Không xác định được.
Z > 3: Khách hàng không có khả năng vỡ nợ.
Bất kỳ công ty nào có điểm số Z < 1,81 phải được xếp vào nhóm có
nguy cơ rủi ro tín dụng cao.
Ưu điểm: kỹ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản.
Nhược điểm:
Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và
không có rủi ro. Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của
mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi
cho đến mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi của khoản vay.
19
Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh
tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến. Tương tự như vậy,
bản thân các chỉ số trong công thức cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi
các điều kiện kinh doanh cùng như điều kiện thị trường tài chính đang thay
đổi liên tục.
Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể
Nếu trong suốt quá trình đi vay, khách hàng luôn trả đủ và đúng hạn thì sẽ tạo
được lòng tin đối với ngân hàng.
Cơ cấu vốn của khách hàng; thể hiện thông qua tỷ số giữa vốn huy
động/vốn tự có. Nếu tỷ lệ càng cao thì xác suất rủi ro càng lớn.
Mức độ biến động của thu nhập: với bất kỳ cơ cấu vốn nào, sự thu nhập
cũng sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của người vay. Chính vì
vậy, thường các công ty có lịch sử thu nhập ổn định thường xuyên lâu dài sẽ
hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.
Tài sản đảm bảo: là điều kiện chủ yếu trong bất kỳ một quyết định cho
vay nào nhằm sử dụng vốn có hiệu quả đồng thời nâng cao trách nhiệm của
khách hàng trong việc trả nợ ngân hàng.
- Nhóm các yếu tố liên quan đến thị trường:
Chu kỳ kinh tế: Chu kỳ kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, ngân hàng cần phân tích chu kỳ kinh tế
nhằm lựa chọn quyết định đúng vào thời điểm và nên đầu tư vào ngành nào
có mức độ rủi ro thấp.
Mức lãi suất: một mức lãi suất cao biểu hiện kết quả của chính sách thắt
chặt tiền tệ, thường gắn với mức độ rủi ro cao. Lý do là do giá vốn quá đắt
21
nên nhà đầu tư thường bị hấp dẫn bởi những dự án đem lại nhiều lợi nhuận,
mà lợi nhuận càng cao thì độ rủi ro càng lớn.
1.3 Nguyên tắc của Basel về quản lý rủi ro tín dụng
1.3 Nguyên tắc của Basel về quản lý rủi ro tín dụng
Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng là một uỷ ban bao gồm các chuyên
gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1975 bởi các
Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý,
Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Điển, Vương quốc Anh và Mỹ). Uỷ ban tổ chức họp
thường niên tại trụ sở Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tại Washington
(Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thuỵ Sĩ).
Quan điểm của Uỷ ban Basel: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của
- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): Các ngân hàng cần
xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị trường mục tiêu, đối
tượng khách hàng, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng…). Ngân hàng cần
xây dựng các hạng mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm
khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng
có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với
khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Ngân hàng phải có quy
trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia
của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận quản lý tín
dụng, phải có sự phân chia trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia,
đồng thời cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh
nghiệm, có kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh
giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tín dụng. Việc cấp tín dụng cần được thực
hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng
23
và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có
quan hệ.
- Duy trì một quá trình quản lý đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp
(10 nguyên tắc): các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối
với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng,
thu nhập thông tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng
vay… theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng. Đồng thời hệ thống
này có khả năng nắm bắt và kiếm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các giao
kèo của khách hàng… để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề. Ngân
hàng cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý
các khoản tín dụng có vấn đề. Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng
cần chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Trách nhiệm đối
với các khoản tín dụng này có thể được giao cho bộ phận tiếp thị hay bộ phận
xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tuỳ theo quy mô và bản chất của
mỗi khoản tín dụng. Uỷ ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng phát
Thẩm tra về khả năng tài chính, năng lực hoạt động: thông qua các chỉ
số như
Khả năng thanh toán, tỷ trọng vốn tự có, vòng quay hàng tồn kho, hiệu
suất sử dụng tài sản, tỷ suất lợi nhuận…
Thẩm tra về tính hiệu quả của phương án vay vốn: về khả năng thực
hiện phương án kinh doanh, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu
thụ, về nguồn vốn tài trợ cho phương án, về vốn vay từ ngân hàng có hợp lý
không….
Thẩm tra về nguồn trả nợ: khách hàng dự kiến dùng những nguồn thu
nào để thanh toán nợ gốc và lãi, các nguồn thu này có ổn định không…
25
Thẩm tra về tài sản thế chấp khoản vay: tài sản thế chấp có thuộc sở hữu
hợp pháp của người vay không…
* Yếu tố 2: Kiểm tra tín dụng: các ngân hàng hầu hết đều có quy trình
tín dụng riêng để kiểm tra tín dụng, tuy nhiên những nguyên lý chung nhất
đang được áp dụng tại hầu hết các ngân hàng là:
Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định.
Xây dựng chương trình, nội dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng
và chi tiết, đảm bảo rằng những khía cạnh quan trọng của mỗi khoản tín dụng
đều được kiểm tra bao gồm:
- Kế hoạch trả nợ của khách hàng nhằm đảm bảo trả nợ đúng hạn.
- Chất lượng và điều kiện của tài sản đảm bảo.
- Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, đảm bảo tính hợp pháp
để sở hữu các tài sản khi người vay không trả được nợ.
- Đánh giá điều kiện tài chính và những kế hoạch kinh doanh của người
vay, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng.
- Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của ngân
hàng.
- Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn vì chúng có ảnh hưởng
rất lớn tới tình trạng tài chính của ngân hàng.