Người tiến hành tố tụng trong cơ quan tòa án nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ THỊ NGỌC ĐIỆP

NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ THỊ NGỌC ĐIỆP

NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TUÂN

HÀ NỘI - 2015


1.1.2. Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án
nhân dân ............................................................................................ 9
1.1.3. Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố
tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân .................................... 11
1.2.

Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng hình trong
cơ quan Tòa án nhân dân .............................................................. 18

1.2.1. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án ...... 18
1.2.2. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Thư ký
Tòa án .............................................................................................. 20
1.3.

Khái quát các quy định của pháp luật về người tiến hành tố
tụng các vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân từ
năm 1945 đến nay ........................................................................... 23

1.3.1. Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân trong
giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 .............................................. 24


1.3.2. Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân theo
quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 ............... 26
1.4.

Người tiến hành tố tụng hình sự trong luật tố tụng hình sự
một số nước trên thế giới ............................................................... 28

Kết luận chương 1 ...................................................................................... 39

trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.............. 59

2.4.1.

Tình hình tổ chức, cán bộ ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk ........... 59

2.4.2. Kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
người tiến hành tố tụng trong xét xử vụ án hình sự trong cơ
quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ............................. 63


2.4.3.

Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật
về người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân
dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk .......................................................... 65

2.4.4. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực
hiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án ..................... 72
Kết luận chương 2 ...................................................................................... 76
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG CƠ QUAN
TÒA ÁN NHÂN DÂN.................................................................... 77
3.1.

Những yêu cầu cải cách tư pháp nhằm nâng cao chất lượng
xét xử vụ án hình sự của những người tiến hành tố tụng
hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân....................................... 77

TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

THTT

: Tiến hành tố tụng

TTHS

: Tố tụng hình sự

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 1.1: Những điểm khác nhau cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình

hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định “Tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp
luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”, Đại hội lần thứ IX của
Đảng một lần nữa khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân”. Quán triệt chỉ đạo của Đảng, tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước
pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc Đổi mới và hội nhập của đất nước
ta trong giai đoạn hiện nay, Hiến pháp năm 2013 kế thừa những thành tựu lập
hiến của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 vẫn tiếp tục khẳng
định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, vị trí trọng tâm của
hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp.
Theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
2003 thì người tiến hành tố tụng trong cơ quan Toà án gồm có Chánh án, Phó
Chánh án Toà án, Thẩm phán và Thư ký Toà án. Là một trong các chủ thể của
tố tụng hình sự (TTHS), những người tiến hành tố tụng (THTT) trong cơ quan
Tòa án có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng
minh, giải quyết vụ án hình sự. Những người THTT có nhiệm vụ, quyền hạn

1


khác nhau, nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với
nhau và đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thực tiễn tố tụng hình sự nước ta cho thấy mặc dù định hướng cải
cách tư pháp của Đảng và Nhà nước rõ ràng và nhận được sự đồng thuận
cao, đồng thời hiến pháp đã ghi nhận xét xử là chức năng duy nhất của tòa
án nhưng trong nghiên cứu lập pháp và hoạt động áp dụng vẫn chưa có sự

và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thấy tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu
vai trò, chức năng, nhiệm vụ của những người THTT trong cơ quan Tòa án
trong hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả mạnh dạn chọn
đề tài luận văn thạc sỹ là: “Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án
Nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”.
2. Tình hình nghiên cứu
Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa người tiến hành tố
tụng trong cơ quan Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác là
một trong những vấn đề được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu. Sau
khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đã có một số công trình nghiên
cứu đề cập các khía cạnh liên quan tới đề tài này như:
- “Giáo trình luật tố tụng hình sự”, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, do GS.TS
Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004;
- “Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự”, của Mai Thanh Hiếu
và Võ Chí Công, Nxb Lao động, Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Xét xử sơ thẩm, phúc

3


thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm)”, Th.S Đinh Văn Quế, Nxb Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, 2007;
Tuy nhiên, các công trình đó mới nhằm đến những khía cạnh nhất định
của người tiến hành tố tụng mà chưa nghiên cứu toàn diện và đề xuất hoàn
thiện những bất cập mà khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến
hành tố tụng trong cơ quan Tòa án đã và đang gặp phải, nhất là trong quá
trình cải cách hệ thống tư pháp hiện nay.

thực tiễn áp dụng từ năm 2009 đến năm 2014 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm
phát hiện những tồn tại, hạn chế cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động xét xử của Tòa án, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục nguyên
nhân, phát huy những thành tựu, đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của
hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân địa phương, đồng
thời đề xuất các giải pháp để đảm bảo cho xét xử các vụ án hình sự của
TAND đúng pháp luật, phù hợp với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,
phân tích và tổng hợp, lịch sử. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương
pháp của các bộ môn khoa học khác. Hệ thống các phương pháp trên được sử
dụng cụ thể như sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để
giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở các chương của luận văn.
6. Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn về nhiệm vụ,
quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nói
chung và hoạt động xét xử vụ án hình sự trên địa bàn TAND tỉnh Đắk Lắk nói
riêng. Luận văn lần đầu tiên đưa ra những luận cứ khoa học để làm sáng tỏ
một cách hệ thống vấn đề thực trạng mà người tiến hành tố tụng trong cơ
quan Tòa án đã và đang xét xử vụ án hình sự trong những năm qua và đưa ra

5


những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự được tốt hơn
để từ đó có thể giúp cho người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án giải
quyết vụ án hình sự được tốt hơn. Luận văn đồng thời phân tích làm rõ những
kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong việc xét xử vụ án
hình sự trong thời gian qua của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục có sự tham
gia của nhiều chủ thể, trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau với nhiều cơ
quan tiến hành tố tụng khác nhau mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan
là khác nhau. Mỗi giai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm đặc trưng và thể
hiện một hướng nhất định của hoạt động tố tụng. Cơ quan tham gia vào trình
tự tố tụng hình sự này được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng. Tòa án nhân dân
là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí, vai trò quan trọng, là
cơ quan cuối cùng kết thúc một quá trình tố tụng.
Người tiến hành tố tụng hình sự nói chung là những người đại diện các
cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những nhiệm vụ trong các giai đoạn tố
tụng (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự) nhằm đảm
bảo giải quyết vụ án hình sự theo đúng pháp luật tố tụng hình sự quy định,
bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức Nhà nước chủ
yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt
động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện
là nhà vua. Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước
ban hành các đạo luật, quy định tổ chức thực hiện và là người có quyền lực
cao nhất. Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện

7


cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến
tới xóa bỏ Nhà nước phong kiến. Trong thời gian này, các học giả tư sản mà
tiêu biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đưa ra
luận điểm: Phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện
pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tao cơ chế kiềm chế đối
trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ

Việc bổ nhiệm các chủ thể THTT trong cơ quan Tòa án được theo điều
kiện và cách thức do luật định. Điều kiện và cách thức bổ nhiệm người tiến
hành TTHS ở mỗi nước là khác nhau, tùy theo quy định của pháp luật TTHS
nước đó. Tuy nhiên, thông thường đều quy định các điều kiện về: Phẩm chất
chính trị, trình độ pháp luật, học vấn, năng lực chuyên môn.
Như vậy, người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án cũng như việc
quy định về quyền, nghĩa vụ của họ được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập
pháp Việt Nam. Theo quy định của pháp luật có thể hiểu như sau về người
tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án: “Người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Tòa án là người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm theo
quy định của pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành xét
xử các vụ án hình sự của Toà án theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.”
1.1.2. Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án
nhân dân
Vai trò của một chủ thể quan hệ pháp luật (tổ chức, cá nhân) được hiểu
là tổng hợp các quy định của pháp luật là cơ sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt
động cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn cứ để
phân biệt chủ thế đó với các chủ thể khác.
Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, hệ thống Tòa án nhân dân của
Việt Nam thực hiện chức năng duy trì và bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ tài sản
của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân

9


phẩm của công dân. Các chức danh THTT trong cơ quan Tòa án có vị trí, vai
trò thống nhất, không thể tách rời vị trí, vai trò của các cơ quan THTT. Như
vậy, vị trí, vai trò của Chánh án, Phó Chánh án Toà án và Thẩm phán, Thư ký
Tòa án được quy định bởi vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Toà án là:
TAND tối cao, TAND địa phương, các Toà án quân sự và các

các hành vi tố tụng trong hoạt động khởi tố, xét xử vụ án hình sự. Những
người tiến hành TTHS trong cơ quan Tòa án là người nhân danh Tòa án thực
hiện các hoạt động TTHS theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Khi
thực hiện nhiệm vụ chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật
và được pháp luật bảo vệ. Người tiến hành TTHS là người có vai trò quan
trọng, giữ vị trí trung tâm trong hoạt động TTHS.
1.1.3. Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố
tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
Theo Từ điển tiếng Việt: “Nguyên tắc là điều cơ bản định theo, nhất
thiết phải tuân theo” [51]. BLTTHS quy định các nguyên tắc nhằm bảo đảm
việc thực hiện Bộ luật được thống nhất. Các nguyên tắc này chi phối một,
một số hoặc toàn bộ các giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự, nó bảo
đảm cho hoạt động của những người tiến hành tố tụng nói chung và các chủ
thể trong cơ quan Tòa án nói riêng được đúng pháp luật. Vì vậy trong quá
trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành
tố tụng phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng
hình sự, mọi biểu hiện không tuân thủ đề có thể dẫn đến sai lầm trong quá
trình giải quyết vụ án.
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định các nguyên tắc tố tụng cơ
bản áp dụng cho các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự tại chương II những nguyên tắc
cơ bản từ Điều 3 đến Điều 32 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong hàng loạt những
nguyên tắc đó thì có những nguyên tắc cơ bản sau đây đối với người tiến hành
tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự mà tôi lựa chọn để phân tích dưới đây:

11


Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng
hình sự (Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự)

Hội thẩm không phải chịu sự chỉ đạo của bất kỳ ai, không phải chịu tác động
của bất cứ yếu tố nào ngoài pháp luật cụ thể là:
- Độc lập với những yếu tố khách quan: Khi xét xử Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập với các yếu tố khách quan từ bên ngoài như độc lập với Tòa án
cấp trên, độc lập với Chánh án Tòa án, độc lập với sự chỉ đạo của cấp ủy
Đảng, độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, độc lập với yêu cầu của
những người tham gia tố tụng, với dư luận xã hội, báo chí..
- Độc lập với những yếu tố chủ quan: Khi xét xử Thẩm phán và Hội
thẩm ngang quyền trong việc đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận. Trước khi
ở phiên tòa Thẩm phán phải tạo điều kiện cho Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ. Tại
phiên tòa Thẩm phán phải tạo điều kiện để Hội thẩm xét hỏi, không được hạn
chế thời gian xét hỏi của Hội thẩm. Đặc biệt khi nghị án Thẩm phán phải tôn
trọng Hội thẩm. Không được áp đặt ý kiến quan điểm của mình cho các Hội
thẩm. Hội thẩm có quyền đưa ra ý kiến, kết luận độc lập của mình về vụ án.
Pháp luật quy định chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án, khi
nghị án HĐXX phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu
quyết từng vấn đề. Bản án, quyết định của HĐXX được ban hành dựa trên ý
kiến đa số các thành viên trong HĐXX, Thẩm phán biểu quyết sau cùng,
người có ý kiến thiểu số khi nghị án có quyền bảo lưu ý kiến của mình bằng
văn bản và ý kiến đó được lưu trong hồ sơ vụ án.
Thẩm phán khi là thành viên của HĐXX phải căn cứ vào pháp luật để
giải quyết vụ án. Pháp luật ở đây được hiểu là Hiến pháp, pháp luật hình sự,
pháp luật về tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác theo trật tự hiệu
lực pháp lý. Đây cũng là hành lang pháp lý mà HĐXX phải tuân theo khi xét
xử, phải đảm bảo việc xét xử theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Khi xét xử HĐXX chỉ tuân theo pháp luật HĐXX không phải chịu sự chỉ đạo
của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. HĐXX cũng không phải tuân theo bất kỳ

13




pháp. Tòa án, cụ thể là những chủ thể là người tiến hành tố tụng trong cơ
quan Tòa án phải có trách nhiệm đảm bảo cho các bên thực hiện các quyền
pháp luật cho phép.
Đây là một nguyên tắc tiến bộ, thể hiện tinh thần tranh tụng, đáp ứng
yêu cầu của cải cách tư pháp. Tại phiên tòa bên buộc tội, bên gỡ tội và những
người tham gia tố tụng khác đều được pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng
trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật để chứng minh cho quan điểm, ý
kiến của mình là có căn cứ. Họ được bình đẳng trong tranh luận, phát biểu ý
kiến nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án. Các ý kiến, quan
điểm các bên đưa ra phải gắn với vụ án đang xét xử. BLTTHS còn có các quy
định cụ thể để thực hiện nguyên tắc này như: Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu triệu tập thêm
người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay
không (Điều 205); Chủ tọa phiên tòa cũng có quyền yêu cầu Kiểm sát viên
phải đáp lại những ý kiến của những người tham gia tố tụng mà Kiểm sát viên
chưa tranh luận (Điều 218)...
Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên trước Tòa án là trách nhiệm của
HĐXX. HĐXX phải xem xét chứng cứ, tài liệu do các bên đưa ra một cách
khách quan, toàn diện, đầy đủ không thiên lệch về bên nào để từ đó đưa ra
bản án, quyết định chính xác, đúng pháp luật.
Thứ tư, nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Đây là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, nó không chỉ được
ghi nhận trong BLTTHS mà còn được quy định tại Hiến pháp năm 2013. Trong
khoa học pháp lý nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc suy đoán vô tội.
Nguyên tắc này khẳng định chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội một con
người đó bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Khi chưa có bản án kết tội


nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội [25, Điều 10].

16


Xác định sự thật của vụ án nhằm đảm bảo truy cứu trách nhiệm hình sự
đúng người đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt người phạm
tội. Việc xác định sự thật của vụ án không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong
việc xem xét trách nhiệm hình sự mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc
giải quyết các vấn đề khác có liên quan của vụ án. BLTTHS quy định các cơ
quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp pháp luật quy định để tìm
ra sự thật khách quan của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Các
cơ quan này không chỉ đi tìm chứng cứ buộc tội mà phải thu thập cả các
chứng cứ gỡ tội, thu thập các chứng cứ để chứng minh các tình tiết tăng nặng
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, các vấn đề khác có liên quan đến vụ
án như vấn đề dân sự trong vụ án hình sự... Bị cáo không buộc phải chứng
minh là mình vô tội nhưng họ có quyền chứng minh sự vô tội của mình.
Nguyên tắc xác định sự thật là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình tố
tụng ở tất cả các giai đoạn, theo quy định của nguyên tắc này tại giai đoạn xét
xử, HĐXX phải kiểm tra tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu, đã được
thu thập. HĐXX phải đánh giá chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ toàn
diện, phải xem xét các chứng cứ buộc tội cũng như những chứng cứ gỡ tội và
các tình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án để từ đó đưa ra bản
án, quyết định đúng pháp luật.
Thứ sáu, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố
tụng hoặc người tham gia tố tụng (Điều 14 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Là nguyên tắc đề cập trực tiếp tới những người THTT như Thẩm phán,
Hội thẩm, Thư ký Tòa án, nguyên tắc này yêu cầu các chủ thể này phải đảm
bảo vô tư, khách quan khi làm nhiệm vụ. Đối với HĐXX yêu cầu này lại càng
được đòi hỏi cao bởi họ là những người “cầm cân nảy mực” đưa ra phán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status