Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tầm vóc và thể lực là đặc điểm sinh thể phản ánh một phần thực trạng
của cơ thể. Trong đó tầm vóc nói lên mức độ phát triển cân đối của hình thái,
thể lực được hiểu như một dự trữ về cường lực, về sức mạnh cơ thể [13]. Hai
yếu tố này liên quan đến khả năng lao động và thẩm mỹ của con người, được
thể hiện qua các chỉ số sinh học.
Chỉ số sinh học người không chỉ cung cấp những thông tin khoa học
cần thiết cho việc nghiên cứu y sinh học phục vụ công tác bảo vệ và chăm sóc
sức khoẻ cho nhân dân, mà còn sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác: kinh tế, xã
hội, giáo dục, mỹ thuật, an ninh và quốc phòng. Một đất nước giàu mạnh hay
không không chỉ được phản ánh qua bình quân thu nhập đầu người mà còn
được phản ánh bởi các chỉ số sinh học người.
Từ lâu, nhiều nhà Nhân chủng học và Y học đã đi tiên phong trong việc
nghiên cứu chỉ số sinh học người, áp dụng đặc biệt rộng rãi trong giáo dục và
bồi dưỡng thế hệ trẻ. Song các chỉ số này thường thay đổi theo thời gian do sự
thay đổi của xã hội, môi trường tự nhiên..., đáng kể nhất là chế độ dinh dưỡng
và lượng thông tin.Vì vậy, cần có những nghiên cứu sát thực với từng giai
đoạn phát tiển của xã hội.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của thế giới, nền kinh tế, xã hội, khoa
học và kỹ thuật của Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ. Đời sống nhân dân
ngày càng được nâng cao, nhu cầu ăn ngon mặc đẹp ngày càng lớn. Chính
điều đó đã làm cho chỉ số sinh học của người Việt Nam thay đổi rất nhiều.
Vậy sự thay đổi đó như thế nào?
Tại Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số sinh học
cỏc trng i hc khỏc v vi giỏ tr sinh hc ngi Vit Nam - 2002.
- Giỳp phn no vo vic xõy dng chng trỡnh giỏo dc th cht cho
sinh viờn trng HSPHN2.
Tr-ờng ĐHSP Hà Nội 2
2
Khoá luận tốt nghiệp
D-ơng Thị Y Na K29C Sinh
PHN 2
TNG QUAN TI LIU
2.1. LC S NGHIấN CU
Vic nghiờn cu hỡnh thỏi, sinh lý c th ngi l mt b phn ca sinh
hc c th, nú cng cú lch s tn ti v phỏt trin ht sc phong phỳ trờn th
gii cng nh ti Vit Nam.
Con ngi ó quan tõm nhiu n hỡnh thỏi v nghiờn cu v nú ngay
t khi bit o chiu cao ca chớnh mỡnh. T th k XVIII, Tenon ó coi trng
lng l mt ch s quan trng ỏnh giỏ th lc [2]. Sau ny, cỏc nh gii
phu hc kiờm ha s thi phc hng nh Lờonard de Vinci, Mikenlangie,
Raphael... ó tỡm hiu rt k cu trỳc v mi tng quan gia cỏc b phn gii
phu trờn c th ngi a lờn nhng tỏc phm hi ha ca mỡnh. Mi
quan h gia hỡnh thỏi vi mụi trng sng cng c nghiờn cu tng i
sm m i din cho nú l cỏc nh nhõn trc hc: Ludman, Nold v Volanski.
Rudoly Martin l ngi t nn múng cho nhõn trc hc hin i.
Trong hai tỏc phm ni ting "Giỏo trỡnh v nhõn trc hc - 1919" v "Ch
thời. Những năm sau đó có nhiều tác giả tiếp tục nghiên cứu về lĩnh vực này
nhưng kết quả còn lẻ tẻ và chưa đầy đủ.
Từ 1954 đến nay việc nghiên cứu về hình thái, thể lực đã được đẩy
mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn Hình thái học ở
một số trường đại học và viện nghiên cứu. Các Hội nghị về lĩnh vực này đã
được tổ chức nhiều lần, đặc biệt là từ năm 1967 đến 1972. Nhiều chương trình
cấp quốc gia và địa phương được thực hiện, cụ thể :
"Hằng số sinh học người Việt Nam 1975" do GS. Nguyễn Tấn Gi
Trọng, nguyên chủ nhiệm bộ môn sinh lý Trường Đại học Y Hà Nội làm chủ
biên [9]. Đây là công trình đầu tiên có đầy đủ các thông số về thể lực người
Việt Nam. Trong đó có những đặc điểm cơ bản về thể lực như:
Chiều cao đứng lứa tuổi 18 á 25 của nam đạt 159,0 ± 5,0 cm và nữ là
149,0 ± 4,0 cm. Như vậy nam có chiều cao hơn nữ khoảng 9 cm, đây cũng là
mức chênh lệch của nhiều quần thể người trên thế giới [6]. Tuy nhiên giữa
các miền khác nhau có sự khác biệt về chỉ số này. Điều đó chứng tỏ môi
trường, điều kiện sống ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và đặc điểm chiều cao
của con người.
Trọng lượng có quy luật tăng trưởng phù hợp với quy luật tăng trưởng
chiều cao. Ở lứa tuổi 18 á 25, đối với nam trọng lượng là 45,0 ± 4,0 kg và nữ
là 43,0 ± 3,9 kg.
Đây mới chỉ là kết quả nghiên cứu ở miền Bắc nhưng nó thực sự là chỗ
dựa đáng tin cậy cho các nhà nghiên cứu sau này.
"Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động - 1986" do
Võ Hưng chủ biên được thực hiện nghiên cứu trên tất cả 3 miền của đất nước.
Qua công trình này các tác giả đã nêu được đặc điểm vàquy luật phát triển
tầm vóc , thể lực người Việt Nam [6].
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
5
hỡnh thỏi n nh [11].
Nm 1998, V Th Thanh Bỡnh nghiờn cu v cỏc ch tiờu hỡnh thỏi, th
lc v chc nng sinh lý ca trng Cao ng s phm th dc Trung ng I
Tr-ờng ĐHSP Hà Nội 2
6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
đã nhận thấy sự khác biệt so với các trường đại học bình thường và thuộc loại
tốt so với thanh niên Việt Nam. Sự khác biệt này do quá trình rèn luyện thể
chất ở cường độ cao hơn hẳn so với các trường đại học bình thường khác.
Cũng trong năm 1998, nhóm tác giả Nguyễn Quang Mai, Nguyễn Thị
Lan thực hiện nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người đã cho thấy đến
tuổi 18 chiều cao, trọng lượng trung bình của nữ sinh dân tộc thiểu số thấp
hơn nữ sinh các vùng đồng bằng và thành thị.
Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu gần đây "Các giá trị sinh học
người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX" [12] cho thấy các chỉ số
sinh học người tăng lên đáng kể so với những năm trước. Điều này có thể giải
thích do điều kiện sống được cải thiện hơn nhiều, người Việt Nam được cung
cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và có chế độ luyện tập thể lực hàng ngày.
2.2.2. Nghiên cứu về sinh lý.
Các chỉ tiêu sinh lý thường được nghiên cứu ở nước ta là nhịp tim,
huyết áp. Các chỉ tiêu sinh lý này lên đến "quả tim" của chúng ta. Tim là một
trong những bộ phận vô cùng quan trọng, một trong những nguyên nhân gây
tử vong cơ bản có liên quan đến hệ tim mạch. Ở lứa tuổi cao (60 á 69) tỷ lệ
người mắc bệnh tim tăng cao hơn so với lứa tuổi nhỏ (20 á 29) (ở nam tăng
t K31 n K29 ca cỏc khoa Sinh - KTNN, Toỏn, Ng Vn, Vt lý, Húa hc,
Giỏo dc tiu hc, Giỏo dc th cht, Giỏo dc chớnh tr, C nhõn Tin, C
nhõn Anh ca trng HSPHN2.
Cỏc i tng nghiờn cu cú tui t 19 ỏ 24 (bao gm c dõn tc
Kinh v dõn tc thiu s). Tt c cỏc i tng u kho mnh, khụng cú d
tt bm sinh hoc bnh món tớnh.
Sinh viờn trng HSPHN2 phn ln l con em nụng thụn, mt s
thuc vựng dõn tc ớt ngi.
3.1.2. Thi gian nghiờn cu.
ti iu tra mt s ch tiờu v sinh lý v th lc ca sinh viờn trng
HSPHN2 t K31 n K29 c bt u t thỏng 1/2006 n thỏng 5/2007.
3.1.3. a im nghiờn cu.
ti c tin hnh nghiờn cu ti trng HSPHN2 - Xuõn Hũa Phỳc Yờn - Vnh Phỳc.
Trng HSPHN2 l trng i hc tuy tng i ln nhng iu kin
sinh viờn c rốn luyn v th lc khụng nhiu. Do ú, vic hc tp, lao
ng, gii trớ ca sinh viờn cũn hn ch, cha m bo ỳng khoa hc.
Tr-ờng ĐHSP Hà Nội 2
8
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
3.1.4. Phân bối đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu được phân bố theo lứa tuổi giới tính và dân tộc
theo bảng sau:
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
Kinh
Thiểu số
70
28
4
35
3
20
63
29
9
23
2
3
21
15
7
13
2
6
24
34
11
3
15
5
Trung bình
322
122
28
Khoá luận tốt nghiệp
D-ơng Thị Y Na K29C Sinh
ta tớnh c h s bin thiờn CV = 20% ca giỏ tr trung bỡnh ( X ) thỡ s cỏ
th ca mu cn ly l:
20
n
2,85.5
2
107
+ Mu c nh: Cú sai s cho phộp v tin cy (d = 10%, p = 0,05) thỡ
s cỏ th ca mu cn ly l:
2
20
n
18
2,13.10
Cụng trỡnh ny c thc hin chn mu theo c 2 c tu theo ch s
nghiờn cu.
3.2.2. Cỏc ch s nghiờn cu.
+ Chiu cao ng: n v o l cm, dựng thc dõy gn lờn tng. o
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
13
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
Ảnh 2: Phương pháp đo trọng lượng
+ Chỉ số BMI (Body mass index) được tính theo công thức:
BMI =
Trọng lượng (kg)
[Chiều cao đứng(m)]2
+ Huyết áp: Đơn vị đo là mmHg
Sử dụng huyết áp kế của Trung Quốc, đo ở tư thế nằm. Đo 3 lần, sau đó
lấy giá trị trung bình.
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
Ảnh 3: Phương pháp đo huyết áp
n
n : Số mẫu đo được
+ Độ lệch chuẩn ( )
Xi X
n
=
2
i 1
Xi X
n
=
(n < 30)
n 1
2
i 1
n
m
n
n 1
(n ³ 30)
m: Sai số trung bình
(n < 30)
S: Độ lệch chuẩn
n: Số cá thể của mẫu
PHẦN 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CHIỀU CAO ĐỨNG CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐHSPHN2 LỨA TUỔI TỪ 19 á 24
Chiều cao đứng là một đặc điểm quan trọng nhất để đánh giá sự phát
triển cơ thể. Nó biến đổi độc lập và biểu hiện ở trên khối cơ - xương. Vì vậy
thông thường người càng cao thì cơ thể phát triển càng tốt (tất nhiên còn tuỳ
thuộc vào chiều cao của từng quần thể người). Sự biến đổi chiều cao đặc
trưng cho các chủng tộc, tuổi và giới tính [13].
Qua nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên đại học lứa tuổi từ 19 á 24
cho thấy các kết quả cụ thể cho mỗi giới như sau:
4.1.1. Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của sinh viên nam lứa
tuổi từ 19 á 24
m
0,89
165,37
± 4,83
2,92
0,78
X
17
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
3
21
17
167,35
± 3,84
0,84
6
24
14
166,57
± 5,88
3,53
1,63
166,38
± 4,71
2,83
0,38
Trung bình
Các số liệu trong bảng cho thấy, chiều cao đứng trung bình của nam
sinh viên có sự thay đổi theo lứa tuổi, mức dao động qua các tuổi kế tiếp là
đáng kể.
Ví dụ: Lứa tuổi 19 và 20 có chiều cao chênh lệch nhau 3,04 cm.
164.5
164
163.5
168.41
167.35
Nam
166.16
165.7
165.37
19
20
21
22
165.57
23
24
Tuổi
Hình 4.1. Đồ thị về chiều cao đứng của sinh viên nam theolứa tuổi
± 5,84
3,57
1,12
X
Kết quả cho thấy chiều cao của nam sinh viên dân tộc kinh cao hơn của
nam sinh viên dân tộc thiểu số, sự chênh lệch khoảng 3,19 cm. Nguyên nhân
là do gen và do điều kiện sống tác động.
4.1.2. Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của sinh viên nữ lứa
tuổi từ 19 á 24
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
19
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
4.1.2.1. Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của nữ sinh viên lứa
tuổi từ 19 á 24
Bảng 4.3. Bảng kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của sinh viên nữ
lứa tuổi từ 19 á 24
Đơn vị: cm
STT
1
3,32
1,03
21
29
154,46
± 4,05
2,61
0,75
4
22
45
154,40
± 4,79
3,10
0,71
± 4,65
3,00
0,35
Trung bình
X
Qua bảng 4.3 nhận thấy, cũng giống như nam chiều cao trung bình của
nữ sinh viên lứa tuổi 19 á 24 có sự biến đổi theo độ tuổi. Trong đó, cao nhất là
tuổi 20 ( 165,05 cm ) và thấp nhất là tuổi 22 ( 154,40 cm ).
Ta có thể quan sát được sự biến động về chiều cao của nữ sinh viên
trên hình 4.2.
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
cm
156.5
155.97
156.04
4.2 Đồ thị về chiều cao đứng của sinh viên nữ theo lứa tuổi
từ 19 á 24
Đồ thị cho thấy, từ 19 đến 21 tuổi chiều cao có sự biến động nhiều, từ
tuổi 22 chiều cao của nữ đã tăng chậm dần. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho
thấy điều đó. Như vậy, có thể nói chiều cao của nữ ở lứa tuổi này là ổn định
và sự tăng trưởng đã chững lại.
4.1.2.2. Kết quả so sánh về chiều cao đứng của sinh viên nữ dân tộc
kinh với nữ sinh viên dân tộc thiểu số
Bảng 4.4. Bảng so sánh chiều cao đứng của sinh viên nữ dân tộc kinh
và nữ sinh viên dân tộc thiểu số
Đơn vị: cm
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
21
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
Dân tộc
Kinh
n
144
Thiểu số
28
Tuổi
Nữ
Nam
n
X
n
X
Chênh
lệch
1
19
32
168,41
38
155,97
12,44
22
27
165,70
45
154,40
11,30
5
23
22
166,16
15
154,61
11,55
6
24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
cm
170
168.41
167.35
165.37
165.7
166.16
165.57
165
Nữ
160
Nam
155.97 156.04
154.46
155
154.4
23
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
ĐHSPHN2 với một số đối tượng khác
Đơn vị: cm
Đối
tượng ĐHSPHN2 ĐH KV Thái
Giới
2006-2007
Nguyên 1980
tính
Nam
166,38 ± 4,71
162,0 ± 5,6
Nữ
154,91 ± 4,65
153,4 ± 4,5
166,2 ± 4,14
Các giá trị
sinh học
người VN 2002
tăng hợp lý thì chỉ tăng các phần cơ, mỡ và nước, trong đó chủ yếu là phần
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
D-¬ng ThÞ Y Na – K29C Sinh
cơ.
Qua nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên đại học lứa tuổi từ 19 á 24
cho thấy các kết quả cụ thể cho mỗi giới như sau:
4.2.1. Kết quả nghiên cứu về trọng lượng của sinh viên nam lứa tuổi
từ 19 á 24
4.2.1.1. Kết quả nghiên cứu về trọng lượng của nam sinh viên lứa
tuổi 19 24
Bảng 4.7. Bảng kết quả trọng lượng của sinh viên nam theo lứa tuổi từ
19 á 24
Đơn vị: kg
STT
Tuổi
n
X
0,86
3
21
17
52,24
4,25
8,14
1,06
4
22
27
55,30
8,40
15,19
1,65
6,80
12,58
0,56
Trung bình
Các số liệu trong bảng 4.7 cho thấy:
Trọng lượng trung bình của nam sinh viên có sự chênh lệch theo lứa
tuổi kế tiếp, mức độ dao động không nhiều và không giống nhau. Ví dụ: trọng
lượng của nam sinh viên lứa tuổi 19 á 21 chênh lệch 0,25 kg; 22 á 23 chênh
lệch nhau 0,45 kg... Đáng kể nhất là ở lứa tuổi 21 á 22 trọng lượng chênh lệch
khoảng 3,06 kg.
Xét lứa tuổi 19 á 24, trọng lượng trung bình của nam là 54,06 ± 6,80
kg. Trong đó, lứa tuổi 21 có trọng lượng thấp nhất ( 52,24 ± 4,25 kg ) và cao
nhất là tuổi 23 ( 56,75 ± 10,48 kg ).
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
25