TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
ĐÀO THỊ KIM NGÂN
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT ÁP ĐỘNG
MẠCH VÀ TẦN SỐ TIM CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG
ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHÓA K36 - K39”.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lí ngƣời và động vật
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
ĐÀO THỊ KIM NGÂN
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT ÁP ĐỘNG
MẠCH VÀ TẦN SỐ TIM CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG
ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHÓA K36 - K39”.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lí ngƣời và động vật
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Phạm Thị Kim Dung
HÀ NỘI, 2015
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả, các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kì công trình nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Đào Thị Kim Ngân
Đào Thị Kim Ngân
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CS
: Cộng sự
CV
Đào Thị Kim Ngân
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..........................................................................3
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ..................................................................3
NỘI DUNG ..............................................................................................................................4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................................4
1.1. Khái quát về hệ tuần hoàn .................................................................................4
1.1.1. Cấu tạo của tim ...................................................................................................................... 4
1.1.1.1. Hình thể ngoài của tim ...............................................................................4
1.1.2.2. Cấu tạo trong của tim .................................................................................6
1.1.3. Cấu tạo của mạch máu ................................................................................................... 10
1.1.3.1. Cấu tạo của động mạch ........................................................................... 10
1.1.3.2. Cấu tạo của tĩnh mạch ............................................................................. 11
1.1.3.3. Cấu tạo của mao mạch ............................................................................ 12
1.2. Những vấn đề liên quan đến huyết áp ...................................................... 13
1.2.1. Khái niệm và phân loại huyết áp.............................................................................. 13
1.2.2. Những thay đổi sinh lý của huyết áp .................................................................... 15
1.2.3. Nguyên nhân gây nên một số bệnh tim mạch ................................................ 16
1.3. Nghiên cứu một số chỉ số chức năng của hệ tuần hoàn ................... 18
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG ĐỀ TÀI
Trang
1. Bảng 1.1. Huyết áp tâm thu và tâm trương ở trẻ thuộc các
19
lứa tuổi khác nhau.
2. Bảng 2.1. Phân bố khách thể nghiên cứu theo khóa học (kèm
25
theo tuổi) và giới tính.
3. Bảng 3.1. Tần số tim (nhịp/phút) của sinh viên theo khóa
31
học (kèm theo tuổi) và giới tính.
4. Bảng 3.2. Huyết áp tâm thu (mmHg) của sinh viên theo khóa
33
5
2. Hình 2. Hình thể trong của tim
7
3. Hình 3. Mạch máu của tim
10
4. Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện tần số tim (nhịp/phút) của sinh viên
32
theo khóa học (kèm theo tuổi) và giới tính
5. Hình 3.2. Biểu đồ thể hiện huyết áp tâm thu (mmHg) của sinh
34
viên theo khóa học (kèm theo tuổi) và giới tính
6. Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện huyết áp tâm trương (mmHg) của
37
sinh viên theo khóa học (kèm theo tuổi) và giới tính
7. Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện huyết áp tâm thu (mmHg) của sinh
39
viên theo các tác giả khác nhau
xưa đến nay, bệnh về tuần hoàn máu đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của
con người. Xã hội ngày càng phát triển thì tỉ lệ bệnh này ngày càng gia tăng.
Theo nghiên cứu của tổ chức Y tế thế giới, bệnh tim mạch là bệnh có
nguy cơ gây tử vong hàng đầu trong các nhóm bệnh gây nguy hiểm. Trên thế
giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh học hệ tuần
hoàn máu và đã thu được nhiều thành tựu to lớn phục vụ cho xã hội, đặc biệt
là lĩnh vực chăm sóc sức khỏe con người.
Bên cạnh đó, nước ta đang trên con đương đổi mới thực hiện quá trình
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước để theo kịp và hội nhập kinh tế với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Để thực hiện được mục tiêu ấy, Đảng
và nhà nước ta đã xác định con người chính là nhân tố cơ bản.
Đào Thị Kim Ngân
1
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Trong đó đối tượng giữ vị trí then chốt làm nguồn lực cho tương lai của
đất nước là học sinh, sinh viên. Vì vậy việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục cho
học sinh, nhất là sinh viên cần được đặc biệt chú trọng để những chủ nhân
tương lai của đất nước phát triển toàn diện (đức, trí, thể, mỹ). Trong đó vai trò
của ngành giáo dục và y tế đóng vai trò quan trọng. Giáo dục và y tế có mối
quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau.
Nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý tuần hoàn của sinh viên là việc làm cấp
Khoá luận tốt nghiệp
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tần số tim và trị số huyết áp động mạch của
sinh viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 khóa K36 - K39. Các sinh
viên được chọn một cách ngẫu nhiên, hoàn toàn khỏe mạnh không bị dị tật về
hình thể và các bệnh mạn tính.
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 931 sinh viên, trong đó có 436 sinh
viên nam và 495 sinh viên nữ của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 các khóa
từ K36 - K39.
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
+ Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Nghiên cứu được thực hiện
vào lúc 8h sáng, đối tượng nghiên cứu ở trạng thái bình thường, không vận
động mạnh, trước khi nghiên cứu tình trạng sức khỏe tốt.
Trước hết các đối tượng được phổ biến cho cách tính tuổi để tự mình
tính tuổi của mình.
- Tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi.
- Huyết áp được xác định bằng phương pháp Korotkov [3].
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Xác định được các chỉ số cơ bản về hoạt động của hệ tuần hoàn như:
tần số tim, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và của sinh viên trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 khóa K36 - K39.
- Cung cấp số liệu các chỉ số cơ bản về hoạt động tuần hoàn, góp phần
đa dạng hóa các chỉ số sinh học người Việt Nam trong thời đại mới.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có làm tài liệu tham khảo trong việc
xây dựng cơ sở vật chất, các điều kiện giáo dục, phương pháp giáo dục và các
phương pháp chăm sóc sức khỏe cũng như tinh thần cho sinh viên trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 nói riêng và cho sinh viên các trường Đại học trong cả
nước nói chung.
đổ vào. Tâm nhĩ trái liên quan với thực quản ở phía sau, nên khi tâm nhĩ trái
lớn sẽ đè vào thực quản.
Mặt ức sườn
Còn gọi là mặt trước có: Rãnh vành chạy ngang phía trên, ngăn cách
phần tâm nhĩ ở trên, phần tâm thất ở dưới. Phần tâm nhĩ bị thân động mạch
phổi và động mạch chủ che lấp. Hai bên có hai tiểu nhĩ phải và trái. Phần tâm
thất có rãnh gian thất trước chạy dọc từ sau ra trước, lệch sang bên phải đỉnh
tim, ngăn cách tâm thất phải và tâm thất trái. Tâm thất phải chiếm diện tích
phần lớn mặt này.
Đào Thị Kim Ngân
4
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Mặt hoành
Hay mặt dưới, đè lên cơ hoành và qua cơ hoành liên quan với thuỳ trái
của gan và đáy vị.
Rãnh vành ở mặt ức sườn chạy tiếp xuống mặt hoành, chia tim ra hai
phần: phần sau là tâm nhĩ, hơi hẹp, phần trước là tâm thất, rộng hơn, có rãnh
gian thất sau, chạy từ sau ra trước và nối với rãnh gian thất trước ở bên phải
đỉnh tim.
Mặt phổi
Còn gọi là mặt trái: hẹp, liên quan với phổi và màng phổi trái, dây thần
động mạch.
Giữa tâm thất và động mạch có van tổ chim (hay còn gọi là van bán
nguyệt). Bên trái là van động mạch chủ chỉ cho máu đi một chiều từ tâm thất
trái ra động mạch chủ, rồi ra ngoại vi, đến tất cả các mô để nuôi cơ thể. Bên
ngoài là van động mạch phổi, chỉ cho máu đi từ tâm thất phải ra động mạch
phổi, lên phổi trao đổi khí để lấy oxi và thải CO2. Ở thì tâm trương, tim không
co bóp, hai tâm thất giãn ra nhưng máu ở động mạch chủ và động mạch phổi
không chảy ngược về thất được vì các van động mạch đóng lại, máu vẫn tiếp
tục chảy ra ngoại vi.
1.1.2.2.2. Các tâm nhĩ
Các tâm nhĩ có thành mỏng hơn các tâm thất. Chúng nhận máu từ các
tĩnh mạch đổ về. Mỗi tâm nhĩ thông với một tiểu nhĩ ở phía trên và thông với
tâm thất cùng bên qua lỗ nhĩ thất. Tâm nhĩ phải nhận máu từ tĩnh mạch chủ
trên, tĩnh mạch chủ dưới và xoang vành đổ vào. Tâm nhĩ trái nhận máu từ các
tĩnh mạch phổi đổ vào.
1.1.2.2.3. Các tâm thất
Các tâm thất có thành dày hơn thành tâm nhĩ, thông với tâm nhĩ cùng
bên và cho ra các động mạch lớn.
Đào Thị Kim Ngân
6
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Tâm thất trái: hình nón dẹt, có hai thành. Tâm thất trái thông với tâm
nhĩ.
Cơ tâm thất dày, liên quan đến chức năng tống máu vào động mạch, gồm
ba lớp. Lớp ngoài là bó cơ dọc. Lớp giữa là cơ vòng riêng cho mỗi tâm thất, đặc
biệt phát triển ở tâm thất trái. Lớp trong là cơ dọc chung cho hai tâm thất.
Sợi cơ tim là loại cơ vân có cấu tạo đặc biệt, có sợi actin và myosin,
nên nó có khả năng co giãn. Tế bào cơ tim cũng có nhiều nhân giống cơ vân.
Đồng thời tế bào cơ tim cũng có cấu trúc giống cơ trơn đó là nhân nằm ở giữa
tế bào. Do tế bào cơ tim có cả tính chất của tế bào cơ vân và của tế bào cơ
trơn nên cơ tim co bóp khỏe.
Đặc tính cấu trúc riêng của tế bào cơ tim là tuy cơ tim gồm nhiều tế bào
cơ và mỗi tế bào cơ đều có màng bao bọc riêng, nhưng dọc hai bên của lớp tế
bào cơ kề nhau có những đoạn màng tế bào cơ hòa vào nhau, tại đây điện trở
rất thấp, các ion dễ dàng khuếch tán qua tạo thành các cầu lan truyền hưng
phấn từ tế bào này sang tế bào khác, do đó cơ tim hoạt động như một thể hợp
bào. Một hợp bào tức là một tập hợp các tế bào đan xen vào nhau, khiến cho
khi một tế bào hưng phấn, thì điện thế hoạt động tại đây sẽ lan tỏa ra khắp các
tế bào của cơ tim.
Cả quả tim có hai khối hợp bào là hợp bào nhĩ (bao gồm cả nhĩ phải và
nhĩ trái) và hợp bào thất (bao gồm cả thất phải và thất trái). Hai khối hợp bào
này ngăn cách nhau bởi vòng mô xơ bao quanh lỗ van nhĩ - thất.
Cơ tim còn có đặc điểm là trong tế bào cơ tim có chứa nhiều glycogen và
nhu cầu về oxy của tế bào cơ tim cao hơn các tế bào khác. Đặc điểm này cho
thấy nhu cầu về năng lượng của cơ tim rất lớn do cơ tim hoạt động liên tục.
Màng trong tim mỏng, nhẵn, lót mặt trong của các ngăn tim và phủ lên
các van tim.
Đào Thị Kim Ngân
8
rãnh vành chạy xuống mặt hoành của tim, cho nhánh gian thất sau, rồi tiếp tục
sang trái, có thể nối với nhánh mũ của động mạch vành trái. Ðộng mạch vành
phải cấp máu cho nửa phải của tim và một phần tâm thất trái.
Ðộng mạch vành trái: từ động mạch chủ qua khe giữa thân động
mạch phổi và tiểu nhĩ trái ra trước, chia hai nhánh là nhánh gian thất trước đi
Đào Thị Kim Ngân
9
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
trong rãnh gian thất trước đến khuyết đỉnh tim, nối với nhánh động mạch gian
thất sau của động mạch vành phải và nhánh mũ tim theo rãnh vành xuống mặt
hoành và có thể nối với động mạch vành phải.
1.1.2.2.6.2. Tĩnh mạch của tim
Tĩnh mạch gồm tĩnh mạch tim lớn đi theo nhánh động mạch gian thất
trước trong rãnh thất trước, tĩnh mạch tim giữa đi trong rãnh gian thất sau
cùng nhánh động mạch gian thất sau, tĩnh mạch sau của tâm thất trái, tĩnh
mạch chếch của tâm nhĩ trái, tĩnh mạch tim nhỏ...
Hình 3. Mạch máu của tim
1. Xoang ngang 2. Động mạch vành phải 3. Động mạch vành trái
4. Động mạch mũ tim 5. Động mạch gian thất trước
1.1.3. Cấu tạo của mạch máu
1.1.3.1. Cấu tạo của động mạch
chuyển sang hệ mao mạch ở phổi.
Động mạch chủ
Xuất phát từ tâm thất trái, gồm bốn đoạn sau: quai động mạch chủ,
đoạn ngực động mạch chủ, đoạn bụng động mạch chủ, đoạn cùng của động
mạch chủ.
Từ động mạch chủ trở ra, các động mạch chủ được chia thành các
nhánh nhỏ dần. Các động mạch thường được nối thông với nhau, làm cho tiểu
động mạch sau cùng được tiếp nối với các mao mạch. Càng xa tim, thiết diện
của một động mạch càng nhỏ, nhưng tổng thiết diện của cả hệ thống động
mạch càng lớn, do đó máu chảy trong động mạch càng xa tim thì vận tốc càng
mạnh.
1.1.3.2. Cấu tạo của tĩnh mạch
Tĩnh mạch được bắt nguồn từ các mao mạch, các tĩnh mạch thường
song song với các động mạch và gồm một số tĩnh mạch chính. Thiết diện của
Đào Thị Kim Ngân
11
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
các tĩnh mạch càng gần về tim càng lớn. Nhưng tổng thiết diện của hệ tĩnh
mạch thì giảm đi khi gần về tim. Tổng tiết diện của tĩnh mạch lớn hơn hệ
động mạch. Trên đường đi của tĩnh mạch có những chỗ phình ra tạo thành các
xoang tĩnh mạch.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Thành của mao mạch rất mỏng, chỉ khoảng 0,5 µm, gồm một lớp tế bào
nội mô, bên ngoài được bao bọc bởi màng đáy. Thành mao mạch có các lỗ
nhỏ để cho các chất có kích thước nhỏ qua lại.
1.2. Những vấn đề liên quan đến huyết áp
1.2.1. Khái niệm và phân loại huyết áp
Khái niệm huyết áp
Huyết áp là áp lực máu tác dụng lên thành mạch.
Tùy theo số lượng máu và sức cản của động mạch mà có áp suất cao
hoặc thấp. Trong đó máu trong động mạch có một áp lực có xu hướng đẩy
thành động mạch giãn ra, thành động mạch lại có một sức ép ngược trở lại.
Sức đẩy của máu gọi là huyết áp, sức ép của thành động mạch gọi là thành áp.
Hai lực này cân bằng nhau.
Máu chảy trong động mạch là kết quả của hai lực đối lập nhau. Đó là
lực đẩy máu của tim và lực cản máu của động mạch, trong đó lực đẩy máu
của tim đã thắng nên máu lưu thông được trong động mạch với một tốc độ và
áp suất nhất định.
Phân loại huyết áp
Huyết áp được chia thành rất nhiều loại như: huyết áp tâm thu, huyết áp
tâm trương, huyết áp trung bình, huyết áp hiệu số…
Huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa): là trị số huyết áp cao nhất trong chu
kỳ tim, được đo ở thời kỳ tâm thu, phụ thuộc vào lực tâm thu và thể tích tâm
thu của tim.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, huyết áp tâm thu có giá trị trong khoảng từ
90 đến dưới 140 mmHg, bằng hoặc trên 140 là tăng huyết áp, dưới 90 mmHg
là hạ huyết áp. Huyết áp tâm thu tăng khi lao động, do hở van động mạch chủ
được tạo ra trong suốt một chu kỳ tim, nhưng không phải trung bình cộng
huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương mà gần với trị số huyết áp tâm
trương hơn vì thời gian tâm trương dài hơn tâm thu. Huyết áp trung bình bằng
huyết áp tâm trương cộng một phần ba huyết áp hiệu số.
HATB HATT
1
HAHS
3
Trong đó:
HATB: Huyết áp trung bình
HATT: Huyết áp tâm trương
HAHS: Huyết áp hiệu số
Đào Thị Kim Ngân
14
K37B SINH - KTNN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Huyết áp trung bình thấp nhất lúc mới sinh và cao nhất khi tuổi già.
Huyết áp trung bình thể hiện hiệu lực làm việc thực sự của tim và đây chính
là lực đẩy máu qua hệ thống tuần hoàn.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
huyết áp, thường lúc này đã có những biến chứng hoặc tình trạng tăng huyết
áp đã nặng. Khi huyết áp tối đa tăng cao, người bệnh thường bị nhức đầu sau
gáy, có khi nhức cả đầu, hay thoáng quên, kém trí nhớ, ở người nhiều tuổi có
thể gặp các triệu trứng hoa mắt, cảm giác như ruồi bay qua mắt, đầu ngón tay,
ngón chân tê như có cảm giác kiến bò trên ngón, triệu chứng này hay gặp về
mùa rét. Tuy vậy cũng có trường hợp người bệnh ở giai đoạn âm thầm không
thể hiện rõ rệt triệu trứng, nhiều khi do khám bệnh thường xuyên mà phát
hiện bệnh.
Triệu chứng hạ huyết áp: những người có huyết áp thấp thường có biểu
hiện: Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, giảm tập trung trí lực, suy
giảm khả năng tình dục, da nhăn và khô kèm theo rụng tóc, vã mồ hôi nhưng
vẫn cảm thấy lạnh, thở dốc nhất là sau khi leo cầu thang hay làm việc nặng,
khi thay đổi tư thế có thể choáng váng, thoáng ngất hoặc ngất. Nhịp tim
nhanh có thể có ngoại tâm thu mạch yếu có khi nhịp chậm, lưu lượng tim
giảm rõ rệt.
1.2.3. Nguyên nhân gây nên một số bệnh tim mạch
Nguyên nhân gây nên bệnh tim mạch rất đa dạng, có thể là do bẩm
sinh, nhưng phần nhiều bệnh tim mạch mắc phải do nguyên nhân phát sinh
trong cuộc sống sinh hoạt. Thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống, chế độ làm
việc ảnh hưởng khá lớn tới sức khỏe của hệ tim mạch. Joint National
Committee cho rằng đa số các bệnh về tim mạch có thể phòng trừ được thông
qua thay đổi lối sống [6].
Một nghiên cứu mới đây cho thấy những người nghiện rượu, thuốc lá
thì nguy cơ mắc bệnh về tim mạch, huyết áp cao hơn nhiều lần so với những