Biểu thức miêu tả đồng chiếu vật trong tác phẩm của nguyễn tuân và trong thơ của tố hữu - Pdf 31

Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình
của TS.GVC Phạm Thị Hoà, tác giả khoá luận xin được gửi tới cô giáo lời
cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thầy, cô giáo trong tổ Ngôn
ngữ học và các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành
khoá luận này.

Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm2010
Người thực hiện

Nông Thị Trưng

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những
tài liệu và kết quả trong luận văn hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.

1.1.3. Phương thức chiếu vật ............................................... 14
1.2. Hiện tượng đồng chiếu vật ...................................................... 23
1.2.1. Khái quát về hiện tượng đồng chiếu vật ...................... 23
1.2.2. Biểu thức miêu tả đồng chiếu vật ............................... 25

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

1.2.3. Biểu thức miêu tả đồng chiếu vật và hiện tượng đồng
nghĩa lời nói ............................................................... 28
Tiểu kết chương 1 ................................................................................... 30
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT BIỂU THỨC MIÊU TẢ ĐỒNG CHIẾU VẬT
TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TUÂN ..................................... 31
2.1. Kết quả khảo sát ..................................................................... 31
2.2. Phân loại kết quả khảo khát .................................................... 31
2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng của biểu thức miêu tả đồng chiếu vật
trong tác phẩm của Nguyễn Tuân ......................................... 31
2.3.1. Biểu thức miêu tả đồng chiếu vật về con người .......... 31
2.3.2. Biểu thức miêu tả đồng chiếu vật về sự vật tự nhiên ... 35
2.3.3. Biểu thức miêu tả đồng chiếu vật về sự vật nhân tạo.. 36
2.3.4. Biểu thức miêu tả đồng chiếu vật hỗn hợp, tổng hợp . 38
Tiểu kết chương 2 ................................................................................... 43
CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT BIỂU THỨC MIÊU TẢ ĐỒNG CHIẾU VẬT
TRONG THƠ TỐ HỮU......................................................................... 44



Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối
đồng thời cũng chính là yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của xã
hội. Ngôn ngữ là sản phẩm kết tinh trong đó “quan hệ người”, nó vừa giữ
chức năng truyền tin vừa giữ chức năng lưu giữ thông tin. Một xã hội nếu
không có ngôn ngữ thì xã hội đó sẽ trở nên rối loạn và buồn tẻ biết chừng nào.
Ngôn ngữ được sử dụng phổ quát ở mọi nơi mọi lúc. Tuy nhiên ở những
trường hợp cụ thể, trong những môi trường nhất định ngôn ngữ được sử dụng
với mục đích phù hợp, và có giá trị biểu đạt là khác nhau .
Nghiên cứu biểu thức miêu tả đồng chiếu vật giúp ta thấy được cái hay
cái đẹp của tiếng Việt đồng thời có ý nghĩa to lớn trong việc giúp con người
lựa chọn cũng như sử dụng tiếng Việt sao cho hay cho sinh động, cho phù
hợp với những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Từ đó, tạo ra hiệu quả giao tiếp cao
nhất.
Nguyễn Tuân và Tố Hữu là hai tác gia tiêu biểu của nền văn học việt
Nam.Tuy mỗi người sáng tác và thu được thành công ở những thể loại khác
nhau, nhưng tác phẩm của họ có giá trị và sức sống lâu bền cùng thời
gian.Tìm hiểu biểu thức miêu tả đồng chiếu vật ở các sáng tác của hai tác giả
này, giúp ta thấy được sự độc đáo trong nghệ thuật biểu hiện cũng như sự độc
đáo hấp dẫn trong phong cách nghệ thuật của họ.
2. Lịch sử vấn đề
Chiếu vật là vấn đề dụng học đầu tiên mà các nhà lôgic học quan tâm,
do đó cũng là vấn đề thứ nhất của dụng học. Ở Việt Nam dụng học được quan

Hữu Châu. Tác giả có viết quy chiếu được hiểu là hành động trong đó người
nói và người viết dùng các hình thức ngôn ngữ cho phép người nghe, người
đọc nhận diện một cái gì đó. Đây cũng là một cách hiểu khác về hiện tượng
quy chiếu trong diễn ngôn phát ngôn.
Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có các công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học khác, và các luận văn thạc sĩ tìm hiểu về chiếu vật.

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

Năm 2001 trong một khía cạnh của luận văn thạc sĩ “Quy chiếu với tư
cách là phương thức liên kết văn bản”, tác giả Bùi Thị Lý có đề cập đến vấn
đề quy chiếu và các trường hợp quy chiếu.
Năm 2003 trong luận văn thạc sĩ “Sự chiếu vật và phương thức chiếu
vật”, tác giả Đỗ Xuân Quỳnh đã nghiên cứu khá đầy đủ về đặc điểm cấu tạo,
đặc điểm từ loại tính chất chiếu vật số lượng và trật tự sắp xếp của các yếu tố
chiếu vật. Có thể nói, đây là luận văn đầu tiên dựng lại mô hình cấu tạo của
biểu thức miêu tả chiếu vật.
Năm 2007, trong luận văn thạc sĩ “Ý nghĩa của từ chỉ lượng qua biểu
thức miêu tả trong ca dao và trong thơ Nguyễn Bính”, tác giả Khổng Thị
Hạnh đã tiến hành nghiên cứu một cách khái quát về biểu thức miêu tả, làm
sáng tỏ vị trí, vai trò, đặc điểm, quan hệ của các yếu tố chỉ dẫn chiếu vật danh từ trung tâm - trong biểu thức miêu tả.
Như vậy, vấn đề đồng chiếu vật nói chung và khảo sát hiện tượng đồng
chiếu vật trong tác phẩm văn chương chưa có tác giả nào đi trước tập trung

- Phương pháp phân tích so sánh.
7. Đóng góp của khoá luận
- Đưa ra hệ thống những khái niệm về biểu thức miêu tả đồng chiếu vật
và các biểu thức có liên quan.
- Thông qua việc khảo sát biểu thức miêu tả đồng chiếu vật trong các
tác phẩm của Nguyễn Tuân và Tố Hữu đã khẳng định nét độc đáo trong
phong cách của hai nhà văn này ở phương diện nghệ thuật. Đặc biệt, là trong
việc sử dụng ngôn ngữ, gợi mở những hướng tiếp cận mới khi tìm hiểu về hai
tác giả này.
8. Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội
dung của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Khảo sát biểu thức miêu tả đồng chiếu vật trong tác phẩm của
Nguyễn Tuân
Chương 3: Khảo sát biểu thức miêu tả đồng chiếu vật trong thơ Tố Hữu

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Lý thuyết chiếu vật
1.1.1. Khái niệm chiếu vật

diễn ngôn sẽ trở thành mông lung, không biết bám víu vào đâu để vị ngữ hoá
nó, để miêu tả hay để bày tỏ thái độ về nó. [3, 187]
Ví dụ: Tôi nghe ngờ ngợ Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh
Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không ?. [15, 85]
Trong câu văn trên nếu tác giả không sử dụng biểu thức miêu tả chiếu
vật cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và
rất đẹp đó không? để làm rõ nhân vật được nói tới trong tác phẩm là Huấn
Cao liệu người đọc có biết được nhân vật này là người như thế nào, có ảnh
hưởng ra sao đến tác phẩm và liên quan gì đến nội dung mà tác phẩm muốn
đề cập. Chính sự chiếu vật đã thực hiện bước móc nối vô cùng hiệu quả giữa
nội dung tác phẩm và bạn đọc hiểu và tiếp nhận tác phẩm một cách đúng đắn
hơn.
Cũng theo Đại cương ngôn ngữ học (tập 1) thì từ ngữ không tự thân
mình chiếu vật mà chỉ có con người mới thực hiện hành vi chiếu vật. Bằng
hành vi chiếu vật đưa sự vật hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn bằng
các từ ngữ, bằng câu. Quan hệ chiếu vật là kết quả của các hành vi chiếu vật.
Như vậy, chiếu vật là một hành vi ngôn ngữ. Trong giao tiếp, nhờ có chiếu
vật mà người nói vận dụng sự chiếu vật để truyền đạt đến cho người nghe
định chiếu vật và đồng thời người nghe phải có thao tác suy ý để nhận ra được
sự vật - nghĩa chiếu vật mà người nói muốn nói để từ đó hiểu và tìm ra được
nghĩa chiếu vật đúng nhất giúp cuộc hội thoại đi đến thành công.
Ví dụ : Mỗi đêm, ba cái mộng gõ một nhịp phách, bấm một dây tơ và
để rồi phá cười lên vài trận. Để cho cái xã hội đàn ông mặc áo xanh ẩm ướt
phải thèm muốn. [15, 64]
Trong ví dụ biểu thức chiếu vật cái xã hội đàn ông mặc áo xanh ẩm
ướt được sử dụng để miêu tả một lớp người trong xã hội thường xuyên ăn
chơi qua lại những nơi phồn hoa. Nếu người đọc không có sự nhận thức về sự

Nông Thị Trưng


gia hình chữ S ven biển Đông ở Đông Nam Châu Á”. Lúc này biểu thức
chiếu vật thủ đô của quốc gia hình chữ S ven biển Đông ở Đông Nam châu
Á được gọi là chiếu vật cứng hay là biểu thức chiếu vật duy nhất.

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

Ví dụ: Làng Chàng Thôn, tổng Kim Quan, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn
Tây là một khu trung du mà hai phần ba số dân làm nghề thợ mộc. [15,
131]
Biểu thức miêu tả chiếu vật “ một khu trung du mà hai phần ba dân
số làm nghề thợ mộc” là biểu thức chiếu vật cứng vì nó miêu tả đặc điểm của
một vị trí địa lý đã được xác định trên bản đồ, nó là duy nhất và tồn tại chính
xác, khác với những vùng trung du khác không được nêu chính xác về địa
điểm, vì nó mang nghĩa chiếu vật duy nhất.
Ngoài ra, các tên riêng do tính tương ứng cá thể nên về nguyên tắc là
những biểu thức chiếu vật cứng có nghĩa là luôn luôn có một nghĩa chiếu vật.
Ví dụ: Hà Nội, Sài Gòn…..đây là những danh từ riêng chuyên dùng gọi tên
một thủ đô hay một đất nước đã được xác định trên bản đồ.
Phải nói rằng rất khó xác định được tính duy nhất của các biểu thức
chiếu vật. Vì nó luôn luôn móc nối với ngữ cảnh, nếu ngữ cảnh thay đổi thì
nghĩa chiếu vật của nó cũng bị thay đổi. Nói đúng hơn ta khó tìm thấy được
các biểu thức chiếu vật cứng hay có tính duy nhất.
1.1.2.2. Chiếu vật linh hoạt

khác nhau dựa trên sự thay đổi về hoàn cảnh và thời gian. Qua đó, ta thấy rõ
được tính linh hoạt của các biểu thức chiếu vật như thế nào. Chính nhờ những
tính chất này mà văn học Việt trở nên phong phú hơn. Các tác giả đã dùng nó
để hình tượng hoá nhân vật cũng như sự vật, hiện tượng trong tác phẩm của
mình mà không sợ trùng lặp hay đơn điệu. Nó giúp cho người đọc có cái nhìn
đa dạng hơn về thế giới sự vật xung quanh mình. Nhờ có tính linh hoạt của
chiếu vật mà độc giả mở rộng được tầm nhìn về tri thức cũng như trí tưởng
tượng của mình.
Như đã biết, tên riêng có tính cá thể nên thường được dùng như những
biểu thức chiếu vật cứng. Tuy nhiên, ngoài những trường hợp nhiều nghĩa
chiếu vật do được dùng ở nhiều thế giớ khả hữu - hệ quy chiếu khác nhau, do
được dùng trong nhiều phạm vi khác nhau trong cùng một hệ quy chiếu, do
hiện tượng trùng tên đã biết, tên riêng còn được dùng theo phương thức hoán
dụ, ẩn dụ. Ví dụ: Việt Nam chiến thắng ở trận bán kết, với nghĩa nói về “Đội
thi đấu Việt Nam”.
1.1.2.3. Chiếu vật ngoại chỉ

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

Khi thực hiện hoạt động chiếu vật, người nhận phải hướng tới các sự
vật, hiện tượng ngoài diễn ngôn. Hành động như vậy gọi là chiếu vật ngoại
chỉ. Do đó, trong hoạt động chiếu vật ngoại chỉ thì nghĩa chiếu vật của từ ngữ
trong diễn ngôn hướng tới sự vật hiện tượng thế giới ngoài diễn ngôn. Nói


Chuyên ngành ngôn ngữ học

trên thì những biểu thức dẫn nhập thường được xem là biểu thức chiếu vật
ngoại chỉ.
Ví dụ: “Cô giáo bảo vẽ một cái hoa hồng. Một em nhỏ liền vẽ lên giấy
một cái hình vuông biếc màu da trời. Thấy cái hình vuông lạ mắt, cô mẫu
giáo liền tìm đến hẳn gia đình hoạ sĩ “lập thể” tý hon này. Ra ở đây chẳng có
cây có hoa gì cả. Nhà kín bưng chỉ có một khúc cửa sổ nhìn hếch lên trời. Em
nhỏ sống nhiều ngày tha thẩn với cái màu xanh sau cửa sổ cho nó là đẹp lắm
và đối với em cái pha xanh kia đích thị đấy là hoa hồng. Một thứ hoa hồng
xanh biếc, vuông vắn. Chuyện hoa hồng xanh đến tai Lênin. Lênin khóc và
Lênin của chúng ta đã ra lệnh cho Xô Viết khu phố đó phải tìm căn nhà khác
tươi tốt hơn cho gia đình “hoạ sĩ” tý hon của đoá hồng siêu thực kia”. [16,
8].
Biểu thức dẫn nhập một cái hoa hồng được xem là biểu thức ngoại chỉ
vì nó nằm ngoài diễn ngôn chưa có mặt trong diễn ngôn. Nó đưa ra một sự
vật, hiện tượng và hướng diễn ngôn đi sâu vào sự vật hiện tượng đó, để miêu
tả chiếu vật về sự vật hiện tượng đó. Nó đáp ứng được cả ba yêu cầu trên của
một biểu thức dẫn nhập nó dễ nhận biết, dễ duy ý và dễ triển khai.
1.1.2.4. Chiếu vật nội chỉ
Nghĩa chiếu vật có thể là những sự vật, hiện tượng… đã được đưa vào
diễn ngôn, có thể là những yếu tố ngôn ngữ, những nội dung tạo nên diễn
ngôn. Như vậy, sự vật được nội chỉ khi nó đã được đưa vào trong diễn ngôn.
Biểu thức chứa vật nội chỉ là biểu thức tương ứng với sự vật - nghĩa chiếu vật
nội chỉ. Ngược lại, với chiếu vật ngoại chỉ hoạt động chiếu vật nội chỉ không
đòi hỏi người nhận phải hướng từ diễn ngôn ra thế giới bên ngoài mà chỉ cần
hướng vào nội bộ diễn ngôn đến các từ ngữ đứng trước hoặc đứng sau.
Nếu các biểu thức dẫn nhập được xem là các biểu thức chứa vật ngoại
chỉ thì các biểu thức chiếu vật nội chỉ là biểu thức xuất hiện sau biểu thức dẫn

Biểu thức chiếu vật khứ chỉ là biểu thức chiếu vật mà sự vật - nghĩa
chiếu vật của nó xuất hiện ở sau nó.
Nói tóm lại, nếu như biểu thức ngoại chỉ neo diễn ngôn và hiện thực
được nói tới để gắn diễn ngôn vào ngữ cảnh thì biểu thức nội chỉ thả neo vào
diễn ngôn gắn một phát ngôn vào diễn ngôn tạo nên tính liên kết ngữ nghĩa và
hình thức cho diễn ngôn, cho phát ngôn đó với diễn ngôn chứa nó.

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

Quan trọng hơn, trên bề mặt phát ngôn, diễn ngôn, tạo nên hiện tượng
chiếu vật ngoại chỉ, nội chỉ không thể không tính đến biểu thức miêu tả. Nói
cách khác, nhận biết chức năng ở biểu thức miêu tả trên cơ sở nghĩa chiếu vật
nội chỉ, ngoại chỉ sẽ giúp luận văn giải thích ý đồ sáng tạo của nhà văn.
1.1.3. Phương thức chiếu vật
1.1.3.1. Khái niệm phương thức chiếu vật
Như chúng ta đã biết, quá trình tạo lập diễn ngôn là quá trình mà người
nói (người viết) biến thực tế khách quan thành những cái chủ quan, biến cái
trừu tượng thành cái cụ thể để nhằm giúp cho người nghe (người đọc) hiểu và
lĩnh hội một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nhưng bằng cách nào để có
thể thực hiện được thì người tạo lập phải có cách truyền đạt hiệu quả nhất, có
cách truyền đạt hợp lý nhất thì kết quả truyền đạt mới thành công và đạt kết
quả cao. Từ đấy, ta có thể hiểu một cách đơn giản về phương thức chiếu vật
như sau: Phương thức chiếu vật là phương thức mà con người sử dụng để

chất, trạng thái, vận động trong cùng một loại. Bất cứ cá thể nào trong loại
cũng được gọi bằng cùng một tên chung.
Nhưng chỉ gọi bằng tên chung không chưa đủ, để đi vào phát ngôn
(diễn ngôn) tên chung ấy phải được cụ thể hoá nhằm mục đích phân biệt
chúng với các cá thể cùng loại chính vì vậy biểu thức miêu tả được hình
thành.
Biểu thức miêu tả, theo GS. Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình ngữ dụng
học (dành cho học viên ngành ngữ văn hệ đào tạo từ xa) định nghĩa: “Biểu
thức miêu tả là biểu thức gồm một tên chung và một hoặc một vài định ngữ
nêu ra một hoặc một vài đặc điểm của sự vật, nghĩa chiếu vật để người nghe,
người đọc căn cứ vào đặc điểm đó mà nhận biết sự vật nghĩa chiếu vật nào ”.
Ví dụ: “Cái đồng hồ mỏng tang, bé xíu ở cổ tay xinh xắn chị Hoài
Nam thật là hiện đại văn minh…” [16, 8]
Biểu thức miêu tả Cái đồng hồ mỏng tang bé xíu ở cổ tay chị Hoài
Nam có tên chung là “đồng hồ” và các yếu tố phụ ngữ đóng vai trò là định
ngữ : “Cái, mỏng tang, bé xíu ở cổ tay xinh xắn chị Hoài Nam”. Nhờ có
những yếu tố này mà sự vật - nghĩa chiếu vật chiếc đồng hồ được tách ra khỏi
những chiếc đồng hồ khác.

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

Các sự vật, hiện tượng, trạng thái, quá trình hoạt động, được đưa vào
ngôn ngữ bằng các tên chung (danh từ chung). Nếu như danh từ riêng (tên

Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

nghe biết được nhân vật mà người nói muốn nói đến là ai và là người như thế
nào.
Có thể thấy, sau danh từ chung chỉ dẫn chiếu vật của một biểu thức
chiếu vật xác định thường có những yếu tố miêu tả khác nhằm “tách sự vật ra
khỏi các sự vật đồng loại khác” trong thế giới khả hữu được chỉ dẫn bởi các
danh từ chung (hay bởi nghĩa các danh từ tập hợp). Đưa yếu tố miêu tả nào
vào biểu thức miêu tả không phải chỉ tuỳ thuộc vào ý định miêu tả của người
nói. Việc gia tăng cho danh từ chung một biểu thức miêu tả xác định những
yếu tố miêu tả nào là còn tuỳ thuộc vào yếu tố dự đoán của người nói, và hiểu
biết mà đối ngôn đã có về sự vật, vào mức độ, phương tiện của sự vật, dự
đoán là được các đối ngôn quan tâm, còn tuỳ thuộc vào mục đích và chiến
lược giao tiếp mà người nói theo đuổi nữa. Như vậy, một điều chung nhất chi
phối các miêu tả chiếu vật là: các yếu tố miêu tả của biểu thức miêu tả chiếu
vật không cần thật nhiều, thật đầy đủ, chỉ cần nêu ra một vài dấu vết mà người
nói cho rằng đủ cho người nghe dựa vào đó mà xác định được nghĩa chiếu vật
của biểu thức là được. Những yếu tố này thông thường là những yếu tố có thể
trực tiếp quan sát ngay được trong khi dùng diễn ngôn. Quy tắc miêu tả chiếu
vật này giúp ta thấy được bản chất của hành vi chiếu vật. Chiếu vật không
phải là hành vi đơn phương do người nói (viết) quyết định. Nó đòi hỏi sư
cộng tác của người tiếp nhận. Sự cộng tác thể hiện ở dự đoán của của người
nói về năng lực suy ý chiếu vật từ biểu thức miêu tả của người nghe (người
đọc).
Ví dụ: “Ông khách năm nọ - cái người kể câu chuyện ăn mày sành
uống trà tàu - Đi làm ăn xa mấy năm, nhân về qua vùng đất ấy, nhớ lời dặn
của cụ Sáu, đã tìm tới để uống lại với ông già một ấm trà tàu”. [15, 54]
Chỉ cần với một biểu thức miêu tả chiếu vật “cái người kể câu chuyện

tính từ, hay cụm động từ.
Ví dụ:
- Biểu thức miêu tả chiếu vật có cấu tạo là một cụm tính từ:
“Cái áng xanh và cái áng đỏ đuổi giấc ngủ.
Nguyễn nhớ cái xanh đỏ của các đêm nhà ga xe lửa. Lâu lắm chàng
chẳng đi đâu, chỉ lỳ ra với Hà Nội” [15, 344].

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

Trong ví dụ trên biểu thức miêu tả chiếu vật “cái xanh đỏ” chỉ dẫn
chiếu vật đến cái áng xanh, cái áng đỏ được nói lên ở câu trước và biểu thức
miêu tả chiếu vật này được cấu tạo là một cụm tính từ với tính từ trung tâm là
xanh đỏ.
- Biểu thức miêu tả chiếu vật có cấu tạo là một cụm động từ:
“Tôi đã đem cái tiền ấy mua lấy những cái cười hời giá và rã rời nhiều cô đào cười để chẳng bao giờ tỏ một ý vui chân thành - và để tập đòi
lấy những cái khinh bạc hèn nhát cùng những lối ngôn ngữ lếu láo giả dối”
[15, 209].
Biểu thức miêu tả chiếu vật “Cái cười hời giá và rã rời” được cấu tạo
là một cụm động từ với động từ “cười ” làm động từ trung tâm.
- Biểu thức miêu tả chiếu vật có cấu tạo là một cụm danh từ:
“Cái giếng nước ngọt ở dia một hòn đảo giữa bể cái sinh hoạt của nó
vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ như mọi cái chợ trong đất liền”.[16,
460]

vào Tây Bắc”. [16, 59]
Biểu thức miêu tả chiếu vật: “cái thứ vàng mười”, “cái thứ vàng”,
“những thỏi vàng của một khối vàng xã hội chủ nghĩa”
Ngược lại, các biểu thức thuộc ngữ là các biểu thức về mặt hình thức
rất giống với các biểu thức chiếu vật nhưng không có chức năng chiếu vật mà
chỉ có tác dụng làm cái biểu đạt cho một thuộc tính, một đặc điểm nào đó
được sự vật nghĩa chiếu vật thuộc ngữ đại diện mà thôi. Sự vật khi được dùng
trong chức năng thuộc ngữ thì cũng là được dùng theo lối hoán dụ. Chúng
được nêu ra chỉ để đại diện cho những thuộc tính cần được nêu ra trong giao
tiếp. Trong chức năng thuộc ngữ, sự vật trở thành tín hiệu cho những thuộc
tính quan yếu đối với một phát ngôn nào đó.
Ví dụ: “Nhiều người bảo nhỏ tôi rằng dọc Sông Đà, cứ bờ sông từ
Mường Tè kéo về Vạn Yên, chỗ nào cũng có vàng cốm, nhỏ thì bằng gạo tấm,
to thì bằng hạt ngô, có con vịt bầu mổ ra là lấy được trong mề vịt mấy cân
đồng vàng”. [16, 59]
Biểu thức “mấy đồng cân vàng” là biểu thức thuộc ngữ.
1.1.3.2.4. Phân loại biểu thức miêu tả chiếu vật theo chức năng

Nông Thị Trưng

Lớp K32B - Ngữ văn


Khoá luân tốt nghiệp

Chuyên ngành ngôn ngữ học

Biểu thức miêu tả được chia thành biểu thức miêu tả xác định, biểu
thức miêu tả không xác định và biểu thức miêu tả đồng chiếu vật (về biểu
thức miêu tả này chúng tôi xin trình bày ở phần sau).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status