Khãa luËn tèt nghiÖp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân là nhà văn có vị
trí hết sức đặc biệt. Trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã để
lại một khối lượng tác phẩm tương đối phong phú. Nhà văn đã thử sức ở
nhiều thể loại nhưng có lẽ làm nên tên tuổi Nguyễn Tuân phải nhờ đến thể tài
tuỳ bút. Có ý kiến cho rằng ông là người khai sinh ra thể tài tuỳ bút hiện đại
Việt Nam.
Tuỳ bút Sông Đà là tác phẩm tiêu biểu kết tinh phong cách sáng tạo và
đặc sắc nghệ thuật của tuỳ bút Nguyễn Tuân. Với vị thế của một nhà văn lớn
cùng với sự thành công của tập tuỳ bút, bài tuỳ bút Người lái đò Sông Đà một trong 15 bài tuỳ bút của tập Sông Đà đã được đưa vào giảng dạy cho học
sinh trung học phổ thông dưới dạng đoạn trích.
Việc thực hiện đề tài này giúp người viết tổng hợp được kiến thức đã
được chuẩn bị ở trường phổ thông, ở bậc đại học về những tác phẩm của nhà
văn Nguyễn Tuân. Đây là dịp tốt để người viết làm quen với công việc nghiên
cứu khoa học.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn tuỳ bút Sông Đà của Nguyễn Tuân
nghiên cứu trong khoá luận này.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Tuân là một tác gia lớn trong nền văn học dân tộc. Cho đến
nay, khó có thể liệt kê hết các công trình nghiên cứu về mọi khía cạnh văn
chương Nguyễn Tuân. Tìm hiểu về Nguyễn Tuân, ngoài những bài viết của
những nhà văn nhà thơ như: Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đình Thi, Thạch Lam,
Nguyễn Minh Châu… còn phải kể tới những luận văn nghiên cứu về Nguyễn
Tuân ở bậc đại học và sau đại học.
Vò ThÞ Trang
1
nói hết được tình người, chất thơ và sự sống bao hàm trong bấy nhiêu trang
Vò ThÞ Trang
2
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
giấy”. Trương Chính đã thể hiện trong bài viết của mình những nhận định sâu
sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của tuỳ bút Sông Đà. Cuối bài ông còn
tái bút: “Đó là một tác phẩm viết sau khi đi thực tế Tây Bắc. Mong rằng
Nguyễn Tuân sẽ có những cuộc đi thực tế khác về vùng xuôi, về đồng bằng về
tất cả các địa phương trên đất nước tự do của chúng ta. Lúc đó chúng ta sẽ
có trọn một bộ sách về Tổ quốc tươi đẹp, Tổ quốc kiến thiết xã hội chủ nghĩa
rất đặc biệt viết bằng văn xuôi nhưng chính là viết bằng thơ”.
Ngoài ra, còn có rất nhiều khoá luận nghiên cứu về tuỳ bút Nguyễn
Tuân ở bậc đại học và sau đại học. Riêng về tuỳ bút Sông Đà thì chưa có một
bài nghiên cứu cụ thể nào về thế giới nghệ thuật đa màu sắc thẩm mĩ. Khoá
luận này của chúng tôi xây dựng trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và thể hiện
những ý tưởng riêng mang tính chủ quan dựa trên sự cảm nhận bám sát tác
phẩm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu Thế giới nghệ thuật đa màu sắc thẩm mĩ trong tuỳ bút Sông Đà
của Nguyễn Tuân.
- Khoá luận khảo sát chủ yếu trong 15 bài tuỳ bút của tập tuỳ bút Sông Đà, cụ
thể là:
1. Đường lên Tây Tây Bắc
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
- Ngoài ra, chúng tôi tìm hiểu thêm tuỳ bút của các nhà văn như: Thạch Lam,
Vũ Bằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, để có cơ sở so sánh.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ Thế giới nghệ thuật đa màu sắc thẩm mĩ trong tuỳ bút Sông Đà của
Nguyễn Tuân.
- Khẳng định sự độc đáo trong nghệ thuật viết tuỳ bút của nhà văn Nguyễn
Tuân.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
6. Đóng góp của khoá luận
- Đóng góp về mặt khoa học: Chỉ ra được những màu sắc thẩm mĩ, những đặc
sắc nghệ thuật trong tuỳ bút Sông Đà của Nguyễn Tuân.
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công
việc nghiên cứu và giảng dạy của người giáo viên Trung học phổ thông.
7. Bố cục của khoá luận
- Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá
luận được chia thành hai chương:
+ Chương 1: Những vấn đề chung
+ Chương 2: Tuỳ bút Sông Đà - một thế giới nghệ thuật đa màu sắc thẩm mĩ
Vò ThÞ Trang
hướng Âu hoá thì hệ thống văn xuôi cũng thay đổi nhiều. Với Hạn mạn du ký
của Nguyễn Bá Trác, Pháp du hành nhật kí và Một tháng ở Nam kỳ cùng
Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh, thể du ký đã sớm định hình. Đó là giai
đoạn từ 1932 về trước. Kế đó, từ sau 1932, ở vào giai đoạn phát triển đầy đặn
Vò ThÞ Trang
5
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
của văn học tiền chiến thì một thể ký khác lại được ưa chuộng và tạo nên
những mẫu mực ấy là phóng sự. Tung hoành trên nhiều tờ báo, một cây bút
văn xuôi xuất sắc như Vũ Trọng Phụng đã có lúc được mệnh danh là “vua
phóng sự”. Và đó là một sự vinh thăng xứng đáng, các tác phẩm nổi tiếng của
ông như: Cơm thầy cơm cô, Cạm bẫy người, chẳng những có nội dung xã hội
bao quát, mà còn là những thành tựu xuất sắc đẩy tới sự hoàn chỉnh của thể
loại.
Có điều bản thân cái gọi là thể kí cũng là của một không gian rộng rãi,
sau những thể tài nghiêng về sự ghi chép khách quan như du ký, phóng sự nói
trên, cũng ngày càng nổi lên cái nhu cầu của cả người viết lẫn người đọc đối
với những thể tài mà ở đó, cái phần chủ quan của người viết hằn rõ, khiến cho
sự phản ánh khách quan quanh co hơn, qua sự khúc xạ rắc rối hơn, song lại
mang tới niềm vui kì lạ cho bạn đọc. Thể tuỳ bút ra đời từ đó. Trước cách
mạng, Thạch Lam có bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (1943) khá nổi
tiếng. Sau cách mạng, hoà mình vào không khí cả nước đấu tranh, thể tuỳ bút,
bút ký cũng phát triển mạnh. Xuân Diệu có bút ký Những bước đường tư
tưởng của tôi (1958), Chế Lan Viên cũng có nhiều tác phẩm bút ký và tuỳ bút
Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10-07-1910 tại phố Hàng Bạc, Hà
Nội. Quê ông ở ngoại thành, làng Mọc, Thượng Đình, một vùng đất quê nổi
tiếng của nhiều danh nho đời cũ. Cha ông là Nguyễn An Lan, một nhà nho tài
hoa nhưng bất đắc chí trước chế độ thuộc địa của Tây.
Tuy quê ở Hà Nội, nhưng thời nhỏ cho đến lúc qua đời, Nguyễn Tuân
đã cùng với gia đình sống ở nhiều nơi: Khánh Hoà, Phú Yên, Đà Nẵng,
Huế… nhất là Thanh Hoá. Nguyễn Tuân học hết bậc trung học ở thành phố
Nam Định. Ở đây, năm 1929 ông tham gia một cuộc bãi khoá phản đối mấy
giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam và ông bị đuổi học. Nguyễn
Tuân bị ném ra đời như vậy và từ đấy bắt đầu hành trình cuộc đời ông, một
hành trình dài nhiều khúc khuỷu ngóc ngách nhưng cũng không thiếu những
bước ngoặt lớn. Sống trong cảnh nước mất nhà tan, cũng giống như bao thanh
niên khác, Nguyễn Tuân luôn tìm cách bứt khỏi cuộc sống nô lệ. Ông đã chọn
cho mình sự bứt phá bằng những cuộc đi ngoài vòng pháp luật của chế độ
Vò ThÞ Trang
7
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
thuộc địa, kết cục là ông bị bắt tại Băng Cốc - Thái Lan, rồi bị đưa vào trại
giam Thanh Hoá, 1930.
Ở tù ra, Nguyễn Tuân bắt đầu cầm bút, ông vào nghề làm báo và viết
văn, ông viết trên các báo Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam tạp chí…
và sống với ngòi bút từ năm 1937. Vào thời kì có Mặt trận Dân chủ Đông
Dương và phong trào công nhân, nông dân đấu tranh sôi nổi, Nguyễn Tuân đã
viết nhiều trên báo chí, ông được bạn đọc chú ý bằng những bài viết thấm thía
làm Tổng thư kí Hội văn nghệ Việt Nam. Từ đó ông đã có những chuyến đi
không thể nào quên, sau mỗi chuyến đi ấy ông lại cho ra đời những tác phẩm
độc đáo và hấp dẫn. Năm 1948, ông hành quân với một đơn vị ở khu III, 1949
ông lại lên Việt Bắc dự chiến dịch sông Thao mùa hè và chiến dịch đường số
4 mùa đông, sống và được chia sẻ gian khổ với bộ đội, đồng bào dân tộc điều
đó đã giúp ông thấy được những sự hi sinh lớn lao mà vô cùng giản dị cho Tổ
quốc của những con người bình thường mà vĩ đại.
Những tập tuỳ bút Đường vui, Tình chiến dịch đã đánh dấu những ngày
ở Việt Bắc của Nguyễn Tuân. Chín năm kháng chiến thắng lợi, không ngờ
một cuộc chiến đấu thứ hai lại nổ ra, đất nước bị chia cắt, những chuyến đi
của Nguyễn Tuân cũng có hai trọng tâm. Trọng tâm thứ nhất là vùng giới
tuyến Vĩnh Linh, và ông luôn muốn ở nơi đầu tuyến giáp mặt với kẻ địch.
Những bài viết về khu Vĩnh Linh sau đã in thành tập Sông tuyến. Và cũng đều
đặn hàng năm Nguyễn Tuân lên Tây Bắc, từ chuyến đi Điện Biên, Tuần Giáo
năm 1958 ông luôn trở lại với Tây Bắc và đi khắp Lai Châu, Hoàng Liên Sơn,
Hà Giang. Ông xuôi ngược trên sông Đà và suốt dọc hai bờ sông. Tập Sông
Đà là kết quả của những chuyến đi ấy. Đó có lẽ là tác phẩm kết tinh của
Nguyễn Tuân trên chặng đường dài từ sau cách mạng.
Sông tuyến và Sông Đà, hai tên tác phẩm, cũng là hai miền yêu thương
day dứt của nhà văn trong suốt một giai đoạn lịch sử của đất nước. Tới những
năm bọn Mỹ trực tiếp ném bom miền Bắc, tuỳ bút Nguyễn Tuân chính là
những mũi tên bắn tỉa vào kẻ địch. Mười hai ngày đêm B52 ném bom rền
xuống thủ đô, Nguyễn Tuân không đi sơ tán. Sau một ngày bom B52 ác liệt,
trên báo Nhân dân đã có bài viết của ông về một đám cưới trên trận địa cao
Vò ThÞ Trang
9
Khoa Ng÷ v¨n
Vò ThÞ Trang
10
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
thấm thía… Có thể nói, mối quan hệ giữa các nhà văn, nhà thơ với thể loại
luôn là sự tìm tòi, thử sức, gặp gỡ và đồng điệu.
Nhưng khác với Xuân Diệu, Nam Cao hay Thạch Lam, mối quan hệ
giữa Nguyễn Tuân và thể tài tuỳ bút lại rất đặc biệt. Với Nguyễn Tuân, ông
không dừng lại ở việc lựa chọn thể loại mà ông là người khai sinh ra một thể
loại tuỳ bút riêng cho mình, ông hoá thân hoàn toàn vào thể tuỳ bút, viết gì
cũng ra tuỳ bút. Chính vì điều này mà người ta mới không ngần ngại xác định
thể loại cho những trường hợp Nguyễn Tuân không ghi tên thể loại trên tác
phẩm là tuỳ bút. Tất cả là bởi “Người ấy phải có thể tài ấy” [9, tr.5].
Cái khó đầu tiên mà các nhà văn thường nhận xét về tuỳ bút là tính chất
quá tự do của nó. Quả thật là trong lịch sử văn học không mấy ai đứng được
với cái thể văn mà từ tên gọi đã toát ra cái “tuỳ hứng, tuỳ tiện” (Chữ dùng của
Vương Trí Nhàn). Viết một hai bài thì cũng thấy hay hay nhưng sống cả đời
thì không dám. Nó rất kén tác giả, ấy vậy mà tên tuổi Nguyễn Tuân lại gần
như trùng khít với thể tài tuỳ bút ấy.
Nói tới Nguyễn Tuân là ai cũng biết đó là một nhà văn tài hoa, một nhà
nghệ sĩ đa tài và ông còn là một con người có cá tính đặc biệt, tự do, phóng
túng và trung thành với chủ nghĩa “xê dịch”. Cuộc đời Nguyễn Tuân là cuộc
đời của những chuyến đi không nghỉ, không có gì có thể cản trở, níu kéo bước
chân ông. Đó không phải là thứ tự do nông nổi, gặp đâu hay đấy, buông thả
càn rỡ mà đó là một thứ tự do chân chính, muốn vượt ra khỏi lối mòn của thói
tục, muốn khẳng định mình và cá tính bản thân và cũng không quên bám rễ
miêu tả nữa mà sự xuất hiện của con người trong mối quan hệ với gió – cũng
giống như con người nhiều tính cách đã biến “gió” thành một nhân vật rất cá
tính. Và thiên tuỳ bút chính là một tặng phẩm cho những nhà làm phim
chuyên nghiệp. Hay nhân chuyện có mấy cái cà-vát mà khái quát lên cả một
tính cách sống (Cái cà vát đen), nhân một chuyến xe mà trình bày được một
quan niệm về cái đẹp thì chỉ có Nguyễn Tuân mới làm nổi (Chuyến xe tình).
Có cảm tưởng như trong tay nhà văn này, tuỳ bút như không còn phép
tắc luật lệ gì hết mà hoàn toàn phó mặc cho sự điều khiển của ông nhưng nó
vẫn hiện lên vô cùng lung linh, sinh động, “viết như chơi như bời mà văn
chương vẫn như mây như sóng” (Nguyễn Khải).
Vò ThÞ Trang
12
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc một nhà văn bắt tay
vào làm công việc “khai sơn phá thạch” cho một thể tài mà trước mình chưa
có, nhưng khi thể tài định hình rồi thì ai cũng cảm thấy trong các thể loại văn
xuôi không thể thiếu nó. Giờ đây khi nhìn vào bất cứ cuốn từ điển thuật ngữ
hoặc nói chung là bất cứ cuốn lịch sử văn học nào, hễ cứ nói đến tuỳ bút là
người ta phải nhắc tới Nguyễn Tuân, mà Nguyễn Tuân xứng đáng được như
vậy. Qua mối quan hệ giữa Nguyễn Tuân và tuỳ bút đã có một kết luận: “Với
một nhà văn chân chính có tiềm năng sáng tạo thực sự, những quy phạm về
thể loại mà thế hệ trước để lại, chỉ là những điểm xuất phát. Rồi thế nào cái
ngòi bút đầy bản lĩnh kia cũng phải tìm cách bớt đi một chút gì đó, thêm vào
một chút gì đó, để góp phần làm mới cái thể tài mà người ấy sử dụng. Và lịch
Hữu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Riêng chung của Xuân Diệu…;
truyện ngắn được mùa với không ít tập truyện có giá trị, đề tài và bút pháp
khá đa dạng, tiêu biểu với các tác giả như: Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,
Tô Hoài…; tiểu thuyết khá phong phú, vượt trội hẳn so với thời kì kháng
chiến chống Pháp, với các tác phẩm nổi tiếng: Đất nước đứng lên của Nguyên
Ngọc, Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Sống mãi với thủ đô của
Nguyễn Huy Tưởng… Cùng với rất nhiều tác phẩm kí, tuỳ bút, kịch, phê
bình… văn học giai đoạn này không chỉ làm tròn vai trò của nó trước đòi hỏi
lịch sử mà còn có tác dụng to lớn trong việc thức tỉnh, động viên, truyền thêm
sức mạnh và niềm tin cho quần chúng nhân dân, góp phần to lớn cho việc xây
dựng tư tưởng, bồi đắp tâm hồn và phát triển nhân cách của con người Việt
Nam không chỉ ở thời đại ấy mà còn cho các thế hệ tiếp theo.
Cũng mang những đặc điểm chung của nền văn học mới, hình tượng
chính của tuỳ bút Sông Đà là con người lao động. Nhà văn đặc biệt chú ý phát
hiện những điểm quý báu trong tâm hồn người chiến sĩ, người công nhân đi
mở đường, những chiến sĩ biên phòng, những cán bộ địa chất… Dưới ngòi
bút của Nguyễn Tuân, những nhân vật ấy không chỉ là những con người nhiệt
huyết mà còn là những con người tài hoa nghệ sĩ, được mô tả trong những
khung cảnh cũng phù hợp với tính cách tài hoa nghệ sĩ ấy.
Sông Đà có nhiều bức tranh sinh động và nhiều hình tượng giàu sức
hấp dẫn, đồng thời cũng đậm đà cảm hứng lãng mạn trong sáng. Nhiều trang
viết chan chứa chất thơ, chất trữ tình, hướng tới chân trời rộng mở của cuộc
Vò ThÞ Trang
14
Khoa Ng÷ v¨n
2.1. Cảm hứng về đất nước trong thời đại mới
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc với thắng lợi của chiến
dịch Điên Biên Phủ 1954, hoà bình lập lại nhưng đất nước tạm thời chia cắt.
Miền Bắc được giải phóng đi vào phục hồi kinh tế sau chiến tranh, tiến hành
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời nhân dân cả nước ta phải tiếp tục
cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước. Nền văn học cách mạng sau chặng
khởi đầu ở thời kì kháng chiến chống Pháp, nay trong điều kiện mới của lịch
sử đã có sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện.
Trong thời đại mới cũng xuất hiện những cảm hứng mới về đất nước.
Cảm hứng về đất nước chi phối đến đề tài, chủ đề và khả năng bao quát hiện
thực đời sống. Trong đó, đề tài về sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh và
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã thu hút được nhiều cây
bút thuộc nhiều thế hệ. Khẳng định cuộc sống mới, con người mới và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tư tưởng, cảm hứng chung của những tác
phẩm thời kì này. Hoà chung với cảm hứng văn học thời đại, tuỳ bút Sông Đà
của Nguyễn Tuân cũng thể hiện rõ nét cảm hứng yêu nước và niềm tự hào về
đất nước trong thời đại mới.
2.1.1. Cảm hứng yêu nước
Tình yêu nước trong những tác phẩm của Nguyễn Tuân thể hiện vô
cùng đa dạng, đó là tình yêu với những nét đẹp văn hoá cao quý trong Vang
bóng một thời, tình yêu với những nét đẹp cổ truyền đậm đà trong những món
ăn dân tộc như Giò lụa, Cốm, Phở. Sông Đà ra đời trong bối cảnh sôi sục của
thời đại xây dựng đất nước, đấu tranh thống nhất đất nước. Tình yêu nước đã
Vò ThÞ Trang
16
Khoa Ng÷ v¨n
Vò ThÞ Trang
17
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
mà vẽ ngay tại trận” [7, tr.166]. Rồi lên đến đèo “Pha Đin”thì Nguyễn Tuân
lại công nhận rằng: “Đèo Pha Đin thuộc vào loại những đèo vừa cao vừa đẹp
của cả miền Bắc miền Nam nước ta” [7, tr.90]. Sự quanh co, gập góc, trùng
điệp của đèo cũng chẳng khác gì “Vạn lí trường thành” của Trung Quốc.
Tình yêu thiên nhiên Tây Bắc của Nguyễn Tuân còn thể hiện ở cả tình
yêu với những khắc nghiệt của khí hậu nơi đây, đó là sự khắc nghiệt của mưa
Tây Bắc, của gió Tây Trang, gió Than Uyên. “Gió mạnh như sóng bão cấp
năm, cấp sáu, cấp bảy, mùi gió nhàn nhạt, vị gió ngai ngái” [7, tr.263]. Gió
Than Uyên gắn liền với những câu ca ghê sợ: “Ruồi vàng, bọ chó, gió Than
Uyên” – một thứ gió tự do bừa bãi, lồng lên suốt từ sáng tới chiều mà Nguyễn
Tuân lại yêu và cảm nhận được cả mùi vị của nó. Nếu không yêu làm sao ông
có được những cảm nhận tinh tế như vậy.
Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên mà Nguyễn Tuân còn ca ngợi sự
giàu có của đất rừng Tây Bắc, của những quặng mỏ có giá trị kinh tế cao.
Sông đẹp, núi đẹp, “núi Quỳnh Nhai đẹp như núi trong tranh ảnh trong men
sứ”, nhưng ẩn sâu dưới lòng đất là một thứ vàng đen của Tổ quốc: “Từ than
mỡ luyện ra than cốc, rồi từ than cốc mà tiến lên luyện những hợp kim loại
gang thép của khu công nghiệp. Hòn than Quỳnh Nhai thành ra giá trị như
thỏi vàng chín, cái thỏi vàng Quỳnh Nhai” [7, tr.271].
Ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, giàu có nhưng Nguyễn Tuân lại
nhận thấy rằng, có một cái đẹp còn lớn hơn cả cái hùng vĩ thơ mộng của con
“Rủ nhau ta đi mở đường
Mở đường xã hội chủ nghĩa
…
Lũ chúng ta đi làm đường
Cho ngắn lại đêm núi đường trường” [7, tr.252].
Cảm hứng yêu nước luôn đi liền với thái độ căm giận trước những kẻ
bán nước, cướp nước. Một tí về lịch sử và một bản lí lịch là một thiên tuỳ bút
tố cáo tội ác của tên phản động bán nước Đèo Văn Long. Hắn không chỉ phục
vụ cho Pháp, tiếp tế quân đội Pháp đánh Việt Minh mà còn bán đi bán lại Tây
Bắc cho đế quốc thực dân. Chúng “đục dân Thái Trắng đến tận tuỷ, đẽo dân
chỉ còn xương, tính tham lam vô độ” [7, tr.157]. Vơ vét của dân bằng những
thứ thuế vô lí, bắt dân vào những nhà tù, nhà giam để phục vụ, để xây lâu đài
Vò ThÞ Trang
19
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
cho chúng… Trong Xoè Nguyễn Tuân hết lời ca ngợi một nét đẹp văn hoá
nghệ thuật của người dân Tây Bắc, đó là những điệu xoè của nhiều dân tộc.
“Thơ Thái đã hay, mà múa cũng đẹp, mà xoè càng đẹp” [7, tr.181]. Nhưng
bóng tối của đế quốc và phong kiến đã buộc lấy cổ tay, cổ chân những bước
xoè Thái. Tội ác của đế quốc thực dân, của những tên chúa đất đã biến những
đội xoè Thái trở thành những toán tù khổ sai đàn bà chung thân bị cầm tù,
một môn nghệ thuật, một nét đẹp văn hoá trở thành một thứ đồ chơi bị đày
đoạ cả về thể xác lẫn tâm hồn.
“Cả một cái tổ chức bất nhân đại ác của công sứ, quan binh, lê dương,
thay của nơi đây. Nhớ những năm nào bộ đội còn vào Tây Bắc mở rộng căn
cứ, đất chỉ một màu “trúc võ cỏ cháy” nồng lên cái mùi hổ đói, “đường không
có tiếng người đi, toàn là cỏ dại, củ riềng cay”. Vậy mà nay “cuộc đời có tổ
chức, có trật tự, công khai có Đảng có kế hoạch, cuộc đời mới đang bén rễ
đâm chồi mạnh” [7, tr.85]. Nguyễn Tuân vô cùng tự hào về quê hương Tây
Bắc vốn nhiều của chìm của nổi nay đang chuyển mình để vươn lên, đón lấy
ánh sáng của chủ nghĩa xã hội, của cuộc sống mới.
Tây Bắc của xưa kia tràn ngập máu và nước mắt dưới sự bất nhân đại
ác của đế quốc thực dân, của những tên chúa đất thì giờ “trên mình nó đang
âm vang lên cái bản nhạc hợp tấu của thời kì quá độ”. Tất cả nhường chỗ cho
“tiếng các đoàn xe đạp thồ, xe ngựa thồ, tiếng chuông tiếng nhạc chuyển
bánh, tiếng máy nổ, ca mi ông hai guồng máy của vận tải quốc doanh, tiếng
xe của quân đội hoà bình sản xuất” [7, tr.89]. Cuộc sống của “Lai Châu trung
cổ” xưa là ăn đói mặc rét là “ăn mày đường”, ăn nước lá han mà chết rừng
chết suối, là đầy tớ không công cho những “Bang Lợi”, “Bang Khách”. Thì
Lai Châu hôm nay lại đang rất ấm những hơi người: “Khắp nơi, người nông
dân Thái tổ cày cấy đều xin được lên hợp tác xã. Cuộc sống đồng rừng ấy
không ăn rau rừng một cách tự nhiên chủ nghĩa nữa, mà bắt đầu với thói
quen giồng lấy cây rau cỏ cho tươi lành hơn nữa lên đời sống gia đình” [7,
tr.178]. Cuộc sống của Lai Châu trung cổ, ngày nay đã chính thức có chị nữ
đảng viên Thái Trắng, Thái Đen dám nghĩ dám làm và tổ chức nhau học cày
học bừa, họ làm nên những cánh đồng hai mùa vàng tươi khắp các nương rẫy.
Con người Tây Bắc ngày nay luôn giữ bên mình tấm lòng tin tưởng
không bờ bến. Đó là lòng tin lẫn nhau giữa các dân tộc, lòng tin vào cái chế
Vò ThÞ Trang
21
Khoa Ng÷ v¨n
Vò ThÞ Trang
22
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
với tình cảm con người”. Nguyễn Tuân nhận ra một điều đáng tự hào rằng:
“Đủ thấy tổ quốc chúng ta là rộng đẹp, là đủ cả và chúng ta được tự hào mà
gìn giữ và phát triển cái cơ nghiệp của dân tộc để lại từ bao đời nay” [7,
tr.107]. Và Nguyễn Tuân biết Tây Bắc có được sự đổi thay mạnh mẽ và tốt
đẹp như hôm nay, đều nhờ vào sức mạnh đoàn kết của các dân tộc anh em và
hơn hết là có sự chỉ lối đưa đường của Đảng: “Càng thấy cái quán triệt lớn
lao của chính sách Đảng đối với các dân tộc ở Tây Bắc. Các dân tộc nhiều
người, ít người cầm tay nhau cho chặt mà giữ gìn đất nước chung, và giúp đỡ
nhau làm cho giàu đẹp thêm mãi lên cái hương hoả chung ấy” [7, tr.178].
Tinh thần tự hào khơi dậy ở nhà văn một niềm tin mãnh liệt vào tương
lai của Tây Bắc, đó là tương lai của tiếng máy nổ, của kế hoạch kinh tế sẽ
trùm lên tiếng cối nước, của những con đường mới xuyên rừng đem văn minh
tới các bản làng. Và rồi đây sẽ có những đoàn tàu xe lửa nối miền xuôi với
miền ngược, đem hàng hoá, con người lên kiến thiết Tây Bắc và cũng đem
những sản vật hoa thơm trái ngọt của Tây Bắc, quặng mỏ Tây Bắc xuống để
phục vụ miền xuôi… Và rồi đây, núi rừng Tây Bắc cũng ầm vang tiếng máy
nước của nhà máy thuỷ điện, đem ánh sáng xoá đi tăm tối cho tất cả các buôn
làng, cái hung dữ của con Sông Đà sẽ được chế ngự và biến thành sức mạnh
của thuỷ điện Việt Nam. Ngày mai, hàng đoàn người sẽ kéo nhau lên kiến
thiết Tổ quốc miền Tây Tây Bắc, họ sẽ xoá mờ đi khoảng cách địa lí của các
miền đất nước, họ gắn kết sức mạnh để Tây Bắc thực sự là niềm tự hào của
Nam Cao là một trong những cây bút tên tuổi của văn học Việt Nam
với nhiều tác phẩm nổi tiếng, rất nhiều hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm
của ông còn sống mãi trong lòng người đọc. Có được thành công ấy là nhờ
một phần Nam Cao đã xây dựng được không gian, thời gian nghệ thuật độc
đáo cho hình tượng nghệ thuật của mình. Nhưng nói đến tạo dựng không gian,
thời gian nghệ thuật không thể quên được Nguyễn Tuân, có thể nói không
gian thời gian nghệ thuật trong rất nhiều tác phẩm của ông không chỉ tạo nên
cấu trúc nội tại của tác phẩm, tạo nên một thế giới ngôn ngữ đa dạng, mà còn
cho thấy chiều sâu cảm thụ, phân tích, đánh giá đối tượng sâu sắc của nhà
văn. Trong tập tuỳ bút Sông Đà không gian thời gian nghệ thuật chính là nơi
thể hiện những suy tư về đất nước và con người Việt Nam.
Vò ThÞ Trang
24
Khoa Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
2.2.1. Không gian của đất và người Tây Bắc
Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một
“điểm nhìn”, diễn ra trong “trường nhìn” nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật
cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó; cái này bên cạnh cái kia,
liên tục cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài tạo thành viễn cảnh
nghệ thuật. Không gian nghệ thuật chính là những cảm thụ về không gian của
nhà văn. Trong Sông Đà cái viễn cảnh nghệ thuật mà Nguyễn Tuân cảm thụ
được chính là không gian của đất và người Tây Bắc trong sự đổi thay của đời
sống mới, không gian của công cuộc lao động sản xuất xây dựng chủ nghĩa xã
hội.