Đề tài Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy
của Công ty giấy Bi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Ngời thực hiện: Chu Thị Kim Chung
1. Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi nằm trong vùng quy hoạch
nguyên liệu giấy (NLG) trung tâm Bắc Bộ, có diện tích rừng và đất rừng
chiếm 57,3% diện tích tự nhiên của tỉnh. Việc phát triển kinh tế đồi rừng nói
chung và phát triển trồng rừng NLG nói riêng là một trong những định hớng
chiến lợc nhằm khai thác các thế mạnh của tỉnh.
Tỉnh Phú Thọ cũng đã chủ trơng phấn đấu đến năm 2010 định hình
60.000 ha rừng trồng NLG tập trung theo hớng thâm canh rừng có năng suất
cao, khai thác hàng năm 6,0 - 7,5 ngàn ha, sản lợng từ 60 - 75 vạn m3 gỗ,
cung cấp 50% - 60% nguyên liệu cho công ty giấy Bãi Bằng.
Hiện tại, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trờng và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc, việc phát triển vùng NLG của tỉnh Phú Thọ đang phải đối mặt với
nhiều khó khăn và thách thức:
Thứ nhất: trong những năm tới khả năng cung cấp gỗ nguyên liệu
giấy không đáp ứng nhu cầu của công ty giấy Bãi Bằng.
Theo dự báo của công ty, giai đoạn 2006 - 2010, mỗi năm cần từ
700.000 m3 - 750.000 m3; trong khi đó vùng NLG của tỉnh chỉ đáp ứng đợc
từ 30% - 35% nhu cầu hiện nay.
Thứ hai: hệ thống tổ chức sản xuất và cung ứng gỗ nguyên liệu giấy
trong vùng cha đợc tổ chức hợp lý, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch,
1
quản lý vốn và cung cấp gỗ nguyên liệu cho công ty, đồng thời cha tạo đợc
LTQD nh thế nào cho hợp lý? Phát triển vùng NLG nh thế nào cho ổn
định, bền vững? Đề tài Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy
của Công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ sẽ góp phần làm
sáng tỏ vấn đề trên.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng vùng gỗ NLG ở Phú Thọ để đề xuất các
giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng vùng NLG ổn định, lâu dài, đáp ứng nhu
cầu về nguyên liệu đầu vào cho công ty giấy Bãi Bằng.
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hình thành và
phát triển vùng gỗ NLG.
- Phân tích, đánh giá thực trạng vùng NLG của công ty giấy Bãi Bằng
giai đoạn 2001- 2005 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng vùng nguyên liệu
ổn định lâu dài, đáp ứng nhu cầu về NLG của công ty trong những năm tới.
1.3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về nguyên liệu gỗ
cho sản xuất giấy, thực trạng sản xuất và cung ứng gỗ NLG của các lâm
trờng quốc doanh (LTQD) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cho Công ty giấy Bãi
Bằng.
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các LTQD vùng
nguyên liệu giấy của công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Về thời gian: Thu thập số liệu và thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài
chủ yếu từ năm 2001 đến nay. Các giải pháp đề xuất phát triển vùng nguyên
liệu giấy cho Công ty giấy Bãi Bằng chủ yếu áp dụng trong giai đoạn từ nay
đến năm 2010.
4
vậy, đầu ra của các Công ty giấy nói chung sẽ có một thị trờng tiêu thụ khá rộng
rãi, vấn đề chủ yếu là các Công ty giấy có khả năng cạnh tranh
để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thị trờng tới mức nào. Ngoài các yếu tố tác động
khác, nguồn nguyên liệu đầu vào cho các Công ty sản xuất giấy là một yếu tố rất
quan trọng.
Nói tóm lại xã hội càng phát triển văn minh, nhu cầu giấy càng nhiều và càng
đa dạng. Nhng muốn có giấy và có nhiều giấy thì phải cần nhiều nguyên liệu cung
cấp cho chế biến.
Trên thực tế các nguồn nguyên liệu cho sản xuất của các Công ty chế biến
giấy rất đa dạng và phong phú nh giấy vụn, rơm rạ, bã mía, bột giấy, các loại cây
có sợi (gỗ và tre, nứa). Do yêu cầu khối lợng lớn, cung cấp ổn định, liên tục trong
một thời gian dài của công nghiệp chế biến, cho nên đối với đa số các nớc, gỗ các
loại vẫn là một nguồn nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất giấy. Các loại nguyên liệu
khác ít đợc sử dụng bởi vì:
Thứ nhất: Nguồn nguyên liệu giấy loại rất phân tán, chất lợng thấp chỉ phù
hợp cho chế biến giấy ở qui mô nhỏ và yêu cầu chất lợng sản phẩm không cao.
Hiện nay bã mía đợc sử dụng làm nguyên liệu để đốt lò hơi trong qui trình
công nghệ khép kín sản xuất đờng vì vậy phần để cung cấp cho sản xuất giấy
không nhiều. Nguồn nguyên liệu từ rơm rạ, một mặt rất phân tán, chất lợng không
cao, mặt khác đa số rơm rạ hiện nay đợc nông dân dùng làm chất đốt, thức ăn cho
chăn nuôi, phân bón bồi bổ lại cho đồng ruộng.
Thứ hai: Nguồn nguyên liệu từ bột giấy nhập khẩu, một mặt bột giấy cũng
phải sản xuất từ nguyên liệu gỗ, giá bột nhập ngoại khá cao, không chủ động đợc
trong sản xuất. Sử dụng nguyên liệu bột giấy để sản xuất giấy chỉ đợc thực hiện ở
một số nớc không có điều kiện và khả năng trồng rừng nguyên liệu.
ở các nớc vùng ôn đới và cận nhiệt đới, gỗ thông là nguyên liệu chủ yếu để
sản xuất giấy, thứ đến là gỗ lá rộng và phế liệu nông nghiệp ở các nớc thuộc vùng
công nghệ sản xuất công nghiệp
6
- Thứ hai nó có thể bảo đảm cung cấp theo kế hoạch sản xuất, ổn định đầu
vào cho sản xuất công nghiệp.
- Thứ ba nó cung cấp nguồn nguyên liệu tơng đối rẻ trong điều kiện khi
nguồn nguyên liệu rừng tự nhiên bị cấm khai thác, bị cạn kiệt hay ở rất xa cơ sở chế
biến công nghiệp.
Trong điều kiện trồng rừng nguyên liệu, với chu kỳ đầu t kéo dài thì việc ổn
định tiêu thụ đầu ra khi tới kỳ khai thác là một vấn đề hết sức quan trọng.
Ngợc lại để phát triển ngành công nghiệp giấy thì vấn đề quan trọng hàng
đầu là phải tạo ra đợc các vùng nguyên liệu giấy ổn định và bền vững.
Qua đó có thể thấy vùng nguyên liệu đối với công nghiệp sản xuất đóng vai
trò hết sức quan trọng, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau bởi lẽ
dây chuyền công nghiệp mang tính sản xuất hàng loạt rất cao, vì vậy sản xuất công
nghiệp đòi hỏi các đầu vào nguyên liệu có đặc tính ổn định. Việc trồng rừng nguyên
liệu là một giải pháp đáp ứng yêu cầu về đầu vào cho các cơ sở công nghiệp sản
xuất giấy.
Mặt khác trồng và khai thác nguyên liệu theo vùng có nhiều yếu tố cho phép
giảm giá thành nh giảm chi phí vận chuyển và thu gom nguyên liệu do các cây gỗ
đợc khai thác tập trung theo từng vùng nhất định, nguyên liệu đợc khai thác theo
chu kỳ nhất định niên độ đồng đều cao, tỷ lệ hao hụt thấp và cho phép làm giảm bớt
chi phí về hoá chất trong các khâu tẩy, đun, lọc... trong sản xuất giấy. Ngoài ra, một
số chi phí gián tiếp nh làm đờng khai thác, kiểm tra chất lợng đầu vào hay cân
đong đo đếm cũng đơn giản hơn và giảm hơn.
Tóm lại phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy có quan hệ chặt chẽ với phát
triển ngành công nghiệp chế biến giấy vì gỗ nguyên liệu giấy là nguyên liệu chính
của ngành công nghiệp giấy.
nhân dân, cơ sở hạ tầng...). Rừng tự nhiên trong vùng quy hoạch có khả năng cung
8
cấp nguyên liệu giấy cần đợc quan tâm đúng mức, định danh cụ thể để quản lý bảo
vệ và sử dụng theo mục đích phục vụ cho nguyên liệu giấy không thể tùy tiện phá đi
để lấy đất sử dụng cho các mục đích khác. Diện tích đất dành để trồng rừng nguyên
liệu giấy không thể chỉ là những lập địa xấu, dốc cao, khó canh tác mà phải lựa chọn
những nơi phù hợp với đòi hỏi của cây trồng và các điều kiện canh tác cơ giới.
Vùng gỗ nguyên liệu giấy là vùng sản xuất lâm nghiệp chuyên môn hoá,
không những cung cấp gỗ cho công nghiệp giấy mà còn có thể tận thu sản phẩm còn
lại (không đủ quy cách gỗ NLG hoặc lợng d thừa) để sản xuất ván nhân tạo (ván
dăm, ván sợi ép) gỗ ủi và các nhu cầu khác.
Doanh thu từ việc bán gỗ nguyên liệu giấy là một trong những nguồn thu
nhập chính của các doanh nghiệp lâm nghiệp và các hộ gia đình làm nghề rừng,
đồng thời việc trồng rừng nguyên liệu đã và đang tạo công ăn việc làm cho hàng vạn
lao động trên địa bàn nông thôn miền núi.
Phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy góp phần tăng độ che phủ của rừng, góp
phần thay đổi điều kiện sinh thái môi trờng của khu vực theo chiều hớng có lợi,
hạn chế hiện tợng hạn hán, lũ lụt, cung cấp nớc cho sản xuất và sinh hoạt trong
vùng, hạn chế sự ô nhiễm môi trờng do sự phát triển mạnh mẽ của các khu công
nghiệp và tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng.
2.3. Đặc điểm của vùng nguyên liệu giấy
Vùng gỗ nguyên liệu giấy thờng nằm ở vùng trung du và miền núi, nơi có
trình độ kinh tế - xã hội thấp kém, xa nơi tiêu thụ, nên ảnh hởng đến chi phí sản
xuất gỗ nguyên liệu giấy. Sự phân bố đó gắn liền với những quan hệ liên vùng, đồng
thời, sự vận động của sản phẩm ra ngoài vùng và của nguyên vật liệu từ ngoài vùng
vào có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá vùng trung du và miền núi.
Gỗ nguyên liệu giấy là sản phẩm chuyên môn hoá chính của vùng. Sản xuất
liên quan đến việc tổ chức sản xuất nhằm tạo điều kiện cho rừng luôn tồn tại và phát
triển.
10
- Chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp vùng nguyên liệu
thể hiện ở 3 điểm chính sau:
Thứ nhất, bên cạnh gỗ nguyên liệu giấy là sản phẩm chuyên môn hoá của
vùng, có thể phát triển một số sản phẩm khác để tận dụng hợp lý mọi nguồn lực mà
việc sản xuất sản phẩm chuyên môn hoá cha sử dụng hết thông qua trồng xen
những loại cây khác. Tuy nhiên, trồng xen này phải tuân thủ nguyên tắc cây trồng
xen không đợc cản trở, cạnh tranh về dinh dỡng với cây trồng chính.
Thứ hai, mở rộng hoạt động chế biến lâm sản để nâng cao giá trị kinh tế của
rừng nguyên liệu.
Thứ ba, tham gia các hoạt động mang tính công ích nh: quản lý bảo vệ rừng
phòng hộ, rừng đặc dụng, xây dựng đờng trục trong vùng nguyên liệu. Tổ chức
vùng nguyên liệu tập trung vào 2 vấn đề chính: tổ chức không gian rừng và tổ chức
sản xuất trong vùng.
- Tổ chức không gian rừng
Trong lâm nghiệp, trớc đây, khi nói đến không gian rừng ngời ta thờng
hiểu theo nghĩa không gian 2 chiều nh trong sản xuất nông nghiệp và vì vậy tổ
chức không gian rừng thực chất là phân chia đối tợng rộng lớn thành những đơn vị
nhỏ để tiện cho việc lập kế hoạch và tổ chức quản lý. Dần dần, cùng với sự ra đời
của những quan điểm lâm sinh hiện đại cho thấy không gian dinh dỡng của cây
rừng bao hàm cả chiều thẳng đứng (chiều cao), không gian nằm ngang (chiều rộng).
Từ đó cũng xuất hiện khái niệm về không gian tuyến tính và không gian động.
Tổ chức không gian tuyến tính là việc phân chia rừng và đất trồng rừng trên
phạm vi rộng lớn thành những đơn vị nhỏ thuần nhất về điều kiện tự nhiên, thống
nhất về mục đích kinh doanh, thờng bao gồm các nội dung nh phân chia rừng
và bột giấy.
Xenluloza là cao phân tử có nhiều trong gỗ và thực vật nói chung. Phân tử
xenluloza là một cao phân tử glucopyranoza, mỗi chuỗi cơ bản của cao phân tử chứa
12
200 phân tử monimer liên kết với nhau theo trình tự nhất định, các chuỗi hợp thành
sợi hay còn gọi là sợi cơ bản. Độ cao phân tử của xenluloza có thể từ 1.000 đến
3.000 đơn vị glucoza [15], [34].
Tuỳ theo chiều dài sợi mà ngời ta phân chia sợi gỗ thành các cấp nh trên
biểu 2.1.
Biểu 2.1 - Phân cấp về chiều dài sợi gỗ (theo quy định của Hội nghị quốc tế về giải
phẫu gỗ)
Phân cấp chiều dài sợi gỗ
Rất
ngắn
Kích
thớc
(à)
có hiệu quả kinh tế.
Đối với gỗ nhiên liệu, có nhiều loài cây gỗ thoả mãn đợc các yêu cầu kỹ
thuật để sản xuất giấy, song các loại gỗ mềm, nhẹ thích hợp với công nghiệp hơn cả.
Trong các loài đợc phổ biến, khối lợng thể tích của các loài lá kim trung bình vào
khoảng 0,4 - 0,5g/cm3, các loài cây lá rộng 0,5 g/cm3 [15], [34]. ở các nớc châu
Âu, những loài đợc sử dụng phổ biến là vân san, thông các loại; các loài cây lá
rộng nh: giẻ, bạch dơng, dơng, liễu, phong, sồi.... ở các nớc châu Phi nhiệt đới
ngoài các loài thông, còn dùng phổ biến cây lõi thọ (một loài cây lá rộng mọc
13
nhanh).... ở Việt Nam, những loài cây đợc trồng làm NLG đang đợc nghiên cứu.
Một số loài cây đã đợc trồng trên quy mô lớn và đợc dùng trong công nghiệp nh:
bồ đề, bạch đàn, keo, cùng một số loài thông nhập nội [15], [34], [39].
Việt Nam là một nớc có quy mô dân số khá lớn với trên 80 triệu dân, nhu
cầu tiêu thụ giấy là rất lớn. Mức tiêu thụ giấy bình quân của nớc ta còn ở mức rất
thấp 6,4 kg/ngời (năm 2000). Theo dự báo của Tổng công ty giấy Việt Nam, mức
tiêu thụ giấy bình quân vào năm 2010 sẽ tăng lên 14,5 kg/ngời (tăng gấp 2,27 lần
so với năm 2000) và vào năm 2020 sẽ là 33,6 kg/ngời (gấp 2,3 lần so với năm
2010). Nh vậy, cùng với tốc độ tăng dân số ớc tính 1,2%/ năm thì nhu cầu giấy
hàng năm tăng 10% [57]. Dự báo nhu cầu giấy của Việt Nam năm 2010 đợc thể
hiện trên biểu 2.2 nh sau:
Biểu 2.2 - Dự báo nhu cầu giấy của Việt Nam đến năm 2010
Đơn vị tính: 1.000 tấn
TT
1
2
3
Nh vậy, để đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp giấy trong
tơng lai thì vấn đề phát triển vùng nguyên liệu cần đợc quan tâm thích đáng.
2.4.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật gỗ nguyên liệu giấy
2.4.2.1. Về đất trồng rừng
Theo một số nhà nghiên cứu, có 4 yếu tố quan trọng đợc lựa chọn để làm
tiêu chuẩn phân chia dạng lập địa trong trồng rừng NLG, đó là đá mẹ và loại đất, độ
dốc; độ dày tầng đất; thảm thực bì chỉ thị cho sự thoái hoá của đất [52].
- Đá mẹ và loại đất: Có các loại đất phát triển trên đá mẹ nh sau: Đất Feralit
đỏ vàng phát triển trên đá sét và đá biến chất (Fs); đất Feralit đỏ vàng phát triển đá
14
vôi (Fv); đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá Macma axit (Fa); đất Feralit vàng
nhạt phát triển trên đá cát (Fq); đất Feralit vàng nâu phát triển trên phù sa cổ (Fp).
- Độ dốc: Cấp độ dốc trong trồng rừng nguyên liệu đợc chia 3 cấp: Đất ít
dốc < 15o (I), đất có độ dốc 15 - 25o (II), đất dốc 25 - 35o (III).
- Độ dày tầng đất (tầng A +B): Đợc xác định khi đào tới tầng đất ở đó có tỷ
lệ đá mẹ hoặc kết von cao hơn 70% thì độ dày của tầng đất đợc xác định từ đó đến
mặt đất. Độ dày của tầng đất phản ánh độ phì tiềm tàng trong đất liên quan đến khả
năng phát triển và năng suất cây trồng. Về cơ bản có thể chia ra 3 cấp: Cấp I: Đất có
độ dày > 100cm, kết von đá lẫn < 20% (1); cấp II: Đất có độ dày 50 - 100cm, kết
von đá lẫn 20 - 40 % (2); cấp III: Đất có độ dày < 50 cm, kết von đá lẫn > 40% (3).
- Thảm thực bì chỉ thị: Thảm thực bì tự nhiên có vai trò rất lớn trong việc
đánh giá đất về nhiều mặt. Thảm thực bì là yếu tố tổng hợp và đơn giản có thể phản
ánh đúng quan hệ ảnh hởng của đất với cây trồng. Về cơ bản có thể chia ra 3 cấp
chỉ thị nh sau:
- Nhóm thực bì a: Rừng thứ sinh nghèo kiệt có một số cây gỗ tái sinh nh:
hu, vạng, trám.... Số lợng cây tái sinh có mục đích dới 500 cây/ha. Rừng dây leo,
bón phân)
Fv (I1a, I1b, I2a, I2b)
Fs, Fq, Fa, Fp (I1c,
I2c)
1
Fv (I1c, I2c)
Trồng rừng công nghiệp
thâm canh (cày toàn diện,
bón phân)
Loài cây trồng
Bồ đề, Mỡ, Bạch đàn, Keo
Bồ đề, Keo
Bạch đàn, Keo
Keo
B
2
Fs, Fq, Fa, Fp (II1a,
II2a, II1b)
Fs, Fq, Fa, Fp (II1c,
II2c, II2b)
Fv (II1c, II2c, II2b)
Fs, Fq, Fa, Fp (III1a,
2
III2a, III1b, III2b,
2.4.2.2. Về giống cây trồng
Căn cứ vào điều kiện lập địa khu vực và đặc tính sinh thái của mỗi loài cây thì
từ trớc tới nay vẫn tồn tại 2 nhóm cây trồng với mục tiêu cung cấp NLG, đó là
nhóm cây bản địa và nhóm cây nhập nội [38], [39], [42], [43].
+ Nhóm cây bản địa bao gồm các loài cây nh mỡ và bồ đề. Đây là nhóm
cây tại chỗ, đợc trồng gần nh khắp vùng nguyên liệu (trừ một số nơi đất quá xấu ở
Vĩnh Phúc).
- Bồ đề (Styrax tonkinensis) là cây a sáng, a đất Feralit đỏ vàng, nhiệt độ
trung bình hàng năm 19 - 23oC, lợng ma trung bình 1.500 - 2.500mm. Bồ đề có
16
chu kỳ 8 - 10 năm, dễ trồng, đầu t không cao. Gỗ bồ đề trắng, mềm, nhẹ dùng làm
giấy, diêm, đũa... Cây bồ đề chỉ phát triển tốt, cho sản lợng cao trên đất còn tính
chất đất rừng, có thực bì che phủ. Hiện trờng trồng bồ đề phải đợc phát, đốt dọn
sạch trớc khi cuốc hố trồng (tra hạt). Năng suất rừng bồ đề bình quân 70 80m3/ha/chu kỳ.
- Cây mỡ (Mangletia glauca): Mỡ cũng là cây bản địa, gỗ phù hợp với yêu
cầu NLG, ngoài ra còn dùng phổ biến trong xây dựng cơ bản. Cây mỡ có chu kỳ khá
dài 13 - 15 năm, năng suất lại không cao (mức tăng trởng 7 - 8 m3/ha/năm). Cây
mỡ tra a đất tốt, ẩm, đất ít dốc. Cây mỡ hay bị ong phá hoại. Từ năm 1997, cây mỡ
đã không đợc đa vào trồng làm NLG.
+ Nhóm cây nhập nội: Gồm các loài keo, bạch đàn, thông.
- Cây thông (Pinus caribea và Pinus khava ): Thông chính thức đợc đa vào
trồng làm NLG từ năm 1980. Cây thông có u điểm là cho nguyên liệu sợi dài, chất
lợng tốt, dùng để pha trộn hay sản xuất các loại bột cao cấp, giấy in báo. Ngoài ra
nó còn phục vụ cho các mục đích làm đồ gia dụng, xây dựng và đặc biệt nó còn có
tác dụng làm đẹp cảnh quan môi trờng, bảo vệ đất. Cây thông có chu kỳ kinh
doanh dài 20 - 30 năm. Qua thực tế trồng làm NLG ở vùng trung tâm Bắc Bộ và theo
bạch đàn mô có thể đạt bình quân 120m3/ha/chu kỳ.
2.4.2.3. Về kỹ thuật thâm canh
Phơng thức chủ yếu trồng rừng NLG là trồng rừng thâm canh và trồng rừng
chuyên canh. Đối với vùng kinh doanh gỗ NLG thì việc áp dụng những tiến bộ khoa
học và công nghệ có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là trồng rừng thâm canh trên
đất dốc [50], [55]. Hiện nay, Trung tâm nghiên cứu cây NLG (Trực thuộc Tổng
công ty giấy Việt Nam) đang đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, chuyển
giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng rừng NLG.
2.4.2.4. Về khai thác và vận chuyển gỗ nguyên liệu giấy
18
Khi rừng đến tuổi thành thục công nghệ, tức là tuổi mà cây rừng đạt tới kích
thớc hoặc chất lợng đáp ứng yêu cầu gỗ NLG thì tiến hành khai thác. Do phần lớn
rừng nguyên liệu đợc trồng trên đất dốc nên việc khai thác, vận xuất từ nơi chặt hạ
đến cửa rừng rất nặng nhọc và nguy hiểm. Mặt khác, cơ sở hạ tầng nông thôn miền
núi phần lớn kém phát triển, cự ly vận chuyển xa, sản phẩm cồng kềnh nên việc vận
chuyển gặp nhiều khó khăn, chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn trong kết cấu giá
thành gỗ NLG.
2.4.2.5. Yêu cầu về chất lợng sản phẩm gỗ nguyên liệu giấy
Căn cứ theo tiêu chuẩn TC - 05: 2004 và TC - 29: 2004 của Công ty giấy Bãi
Bằng: Chủng loại gỗ nguyên liệu chủ yếu là: gỗ bồ đề, gỗ mỡ, gỗ keo, gỗ bạch đàn.
Tuổi khai thác: 7 - 12 năm tuổi. Kích thớc gỗ nguyên liệu quy định đợc thể hiện
trên biểu 2.4.
Biểu 2.4 - Tiêu chuẩn phân loại kích thớc gỗ nguyên liệu giấy
Gỗ loại A
Gỗ loại B
Tên gỗ
80
2ữ4
60 ữ 80
Nguồn: Phòng Khoa học công nghệ và môi trờng - Công ty giấy Bãi Bằng, 2005
Ngoài các yêu cầu về kích thớc, còn một số các yêu cầu khác đối với gỗ
NLG nh các loại gỗ bạch đàn, keo... phải đợc bóc vỏ trớc khi giao nhận. Cây gỗ
phải sạch, không bị bẩn, dính bùn đất, không bị mối mọt, mục ải. Không lấy phần
cong queo quá 2 lần đờng kính. Không lấy phần gốc, rễ. Không đợc để lẫn lộn
19
các chủng loại với nhau (trừ gỗ bồ đề và gỗ mỡ). Không đợc để lẫn lộn gỗ loại A
và loại B. Tỷ lệ gỗ loại B so với tổng khối lợng nguyên liệu gỗ nhập: Đối với gỗ bồ
đề không quá 20%, đối với gỗ keo, bạch đàn không quá 15%.
2.5. Các nhân tố ảnh hởng tới phát triển vùng nguyên liệu giấy
2.5.1. Nhóm điều kiện tự nhiên
Đất đai, tài nguyên rừng, thời tiết, khí hậu... là những yếu tố tự nhiên có ảnh
hởng thờng xuyên, trực tiếp và lâu dài tới các hoạt động sản xuất và cung ứng lâm
sản. Mức độ tác động của chúng tuỳ thuộc vào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
và luôn luôn diễn ra trong trạng thái động.
* Đất đai: Trong sản xuất nông lâm nghiệp nói chung và trong việc sản xuất
gỗ NLG nói riêng, đất đai là t liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế đợc,
không có đất thì không thể tiến hành hoạt động sản xuất ra các nông, lâm sản đáp
ứng nhu cầu của xã hội đợc. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu đối với lâm
sản ngày càng gia tăng. Tuy nhiên đất đai lại có hạn và đang ngày càng giảm sút cả
về số lợng và chất lợng do sức ép về dân số và nhu cầu lơng thực trớc mắt.
* Tài nguyên rừng: ảnh hởng của tài nguyên rừng đối với việc sản xuất và
cung ứng NVL đợc thể hiện ở các mặt nh trữ lợng, sản lợng, chất lợng rừng,
giải quyết cải thiện quan hệ trao đổi và xúc tiến thơng mại. Chuyên môn hoá trong
sản xuất gỗ NLG phải gắn liền với sự thuận tiện về giao thông, ở đâu có giao thông
thuận tiện thì ở đó có thị trờng phát triển.
Bên cạnh đó, các yếu tố hạ tầng xã hội nh hệ thống giáo dục, y tế, văn hoá,
nguồn năng lợng, thông tin... cũng liên quan trực tiếp đến cuộc sống của con ngời
và ảnh hởng thông qua sự phát triển nguồn lực trong vùng NLG.
* Dân c và lao động: Dân c và lao động đợc xem nh là một yếu tố của
vùng nguyên liệu, nó tác động mạnh đến sản xuất và cung ứng gỗ NLG. Truyền
thống và trình độ lành nghề ảnh hởng trực tiếp đến kết quả sản xuất. Sự chênh lệch
về kinh nghiệm, trình độ lành nghề và trình độ dân trí trong vùng cũng là nguyên
nhân dẫn tới khả năng tiếp thu kỹ thuật khác nhau. Ngoài ra, các vấn đề nh cơ cấu
21
dân tộc, mật độ dân số, tôn giáo, phong tục tập quán, sự di dân, du canh du c...
cũng ảnh hởng rất lớn sự hình thành và phát triển vùng NLG.
* Hệ thống chính sách của Nhà nớc: Chính sách là sự cụ thể hoá các chủ
trơng, chiến lợc phát triển về một phơng diện nào đó của nền kinh tế xã hội do
Chính phủ thực hiện, bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt đợc và cách
làm để đạt đợc mục tiêu đó. Nhà nớc có vai trò to lớn đối với sự phát triển sản
xuất và cung ứng gỗ NLG thông qua hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô do Chính
phủ ban hành.
Việc phát triển sản xuất gỗ NLG ở vùng quy hoạch trồng rừng nguyên liệu
chịu ảnh hởng tổng hợp của nhiều chính sách khác nhau, trong đó có thể kể đến
một số chính sách cơ bản nh chính sách đất đai, chính sách thuế sử dụng đất nông
nghiệp, chính sách đầu t tín dụng, chính sách định canh định c và khuyến nông
khuyến lâm.
- Chính sách đất đai: Mặc dù đất đai thuộc quyền sở hữu của Nhà nớc song
từ khi có Chỉ thị 100 CT/TW của Ban bí th Trung ơng Đảng về cải tiến công tác
sự phát triển sản xuất gỗ NLG. Chính sách đầu t tín dụng phù hợp sẽ có tác dụng
thúc đẩy ngời trồng rừng đầu t thâm canh, sản xuất nguyên liệu ổn định. Đầu t
tín dụng còn giúp các nhà máy hiện đại hoá công nghệ sản xuất bột giấy và giấy để
tạo ra các sản phẩm có đủ sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và quốc tế và
cũng chính việc này sẽ tác động tích cực trở lại với việc phát triển vùng nguyên liệu.
Bên cạnh đó, chính sách đầu t tín dụng còn tạo điều kiện cho việc phát triển các
hình thức hợp tác trong sản xuất trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi, cùng chia sẻ rủi
ro trong kinh doanh.
Để thực hiện mục tiêu phát triển trồng rừng nguyên liệu nói chung và rừng
NLG nói riêng cần phải có chính sách khuyến khích đầu t phát triển rừng phù hợp.
Ngày 27/7/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng Chính phủ) đã ban
hành Quyết định số 264/QĐ về chính sách đầu t phát triển rừng, tiếp theo đó là
Thông t số 11/TT-LB ngày 10/6/1993 hớng dẫn thực hiện quyết định trên. Tinh
23
thần chung của chính sách này là căn cứ vào quỹ đất để trồng rừng, quy hoạch, kế
hoạch chung về trồng rừng, đặc điểm của loài cây cây trồng và khả năng của chủ
rừng (tổ chức, cá nhân), cấp có thẩm quyền giao đất cho chủ rừng để trồng rừng và
cấp vốn ngân sách hoặc cho vay vốn tín dụng trong nớc, tạo điều kiện cho họ vay
vốn hoặc hợp tác kinh doanh với nớc ngoài. Chủ rừng đợc vay vốn tín dụng đầu t
theo kế hoạch Nhà nớc với lãi suất u đãi, đợc Nhà nớc hỗ trợ về cây giống cho
việc trồng cây đặc sản....
- Chính sách định canh định c: Mặc dù đồng bào các dân tộc đã gắn bó với
rừng và đất rừng từ bao đời nay nhng nghề rừng vẫn cha phát triển thành nghề
chính của đồng bào miền núi. Lực lợng sản xuất còn ở trình độ thấp, công cụ lao
động thủ công, lạc hậu, cha tạo nên động lực cho sự phát triển. Nền kinh tế còn
mang tính tự cung tự cấp, hạ tầng cơ sở kém phát triển. Do sức ép tăng dân số đã
dẫn tới thiếu lơng thực, con ngời tìm đến những nơi còn rừng, còn điều kiện tự
theo hớng lâm nghiệp nhân dân (còn gọi là lâm nghiệp xã hội hay lâm nghiệp cộng
đồng). Đây cũng là phơng hớng chung của lâm nghiệp thế giới và khác hẳn với
lâm nghiệp truyền thống là chỉ do Nhà nớc thực hiện mà cha quan tâm đến lợi ích
chính đáng của nhân dân.
Nghị định số 13/CP của Chính phủ về công tác khuyến nông và Thông t
hớng dẫn Liên bộ 02/LB ngày 02/8/1993 là cơ sở cần thiết để ngành lâm nghiệp
chuyển từ lâm nghiệp Nhà nớc sang lâm nghiệp xã hội. Hai lực lợng này cùng
song song tồn tại sẽ tạo đà thúc đẩy nền kinh tế xã hội, nhất là các tỉnh trung du
miền núi ở vùng quy hoạch NLG phát triển. Định hớng phát triển là chuyển lâm
nghiệp từ chỗ khai thác chính sang khai thác kết hợp với việc xây dựng vốn rừng
trên cơ sở phát triển lâm nghiệp xã hội, phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó
chú trọng phát triển kinh tế HGD và đẩy mạnh xây dựng trang trại vờn rừng. Với
chủ trơng trên nhằm thu hút mọi thành phần kinh tế, trong đó có các HGĐ miền
núi, vào việc xây dựng, bảo vệ và phát triển vốn rừng (thông qua chính sách đất lâm
nghiệp).
25