Nghiên cứu phát triển khu du lịch sinh thái của vườn quốc gia xuân thủy, huyện giao thủy, tỉnh nam định - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2010
Tác giả luận văn

Trần Thị Huệ

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình ngoài sự nỗ lực của bản
thân, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của của các thầy cô giáo
Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và đã tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi thực hiện tốt khóa luận này, đặc biệt là sự quan tâm tận tình
chỉ dẫn của của cô giáo Đỗ Thanh Thư là người hướng dẫn chính trong suốt
quá trình thực hiện luận khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Vườn quốc gia Xuân Thủy, huyện
Giao Thủy, tỉnh Nam Định, các cán bộ, du khách đến thăm quan Vườn quốc
gia Xuân Thủy, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Ngài giám đốc Nguyễn
Viết Cách trong việc cung cấp số liệu và truyền đạt những kinh nghiệm thực
tế.
Và một lời cảm ơn cuối cùng nhưng không thể thiếu đó là gia đình, bạn
bè những người đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa
luận này.
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2010

nhất của khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển DLST với sự đa dạng của các HST,
động-thực vật và nhiều cảnh quan, di tích tự nhiên. Và nền văn hóa lâu đời, phong phú
của 54 dân tộc anh em, Việt Nam rất thích hợp để phát triển DLST. Các loại hình
DLST ở Việt Nam rất đa dạng gồm: dã ngoại, leo núi, đi bộ trong rừng, tham quan

iii


miệt vườn, quan sát chim, thăm bản làng dân tộc, mạo hiểm, săn bắn và câu cá. Đảng
và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách cho phát triển DLST.
III – Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: VQG Xuân Thủy nằm ở phía Đông Nam huyện
Giao Thủy. Năm 1989 được UNESCO công nhận là thành viên công ước Quốc tế
Ramsar, năm 1995 được công nhận là Khu bảo tồn thiên nhiên, năm 2003 được
công nhận là VQG, năm 2004 được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Tài nguyên DL của VQG: có trên 120 loài thực vật bậc cao, trên 3.000ha
rừng ngập mặn, 100ha rừng phi lao, trên 220 loài chim và có tới 9 loài nằm trong
sách đỏ quốc tế, loài chim điển hình là cò mỏ thìa có lúc chiếm tới 26% số lượng
hiện có của thế giới, trên 500 loài động vật thủy sinh, 10 loài thú, 30 loài lưỡng cư
và bò sát. Cùng nền văn hóa mở đất đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển châu
thổ sông Hồng với các mô hình sinh thái nhân văn, những kiến trúc độc đáo, những
nét sinh hoạt văn hóa và con người nơi đây chân chất, phác thực đã tạo nên bức
tranh thủy mạc hữu tình chắc chắn sẽ thu hút du khách.
Nguồn lực của VQG Xuân Thủy: năm 2009 tổng nguồn vốn là 28.638 triệu
đồng, tổng nguồn lao động năm 2009 là 19 lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật còn
nhiều yếu kém, tại VQG mới chỉ có 2 nhà nghỉ, 1 nhà ăn, hệ thống giao thông đều
đang trong quá trình nâng cấp, xây dựng.
- Phương pháp nghiên cứu: kết hợp khảo sát thực địa, tính toán các chỉ tiêu
về kết quả sản xuất kinh doanh (GO, IC, VA), các chỉ tiêu về hiệu quả (GO/IC,

nhất trong 4 tuyến DL chiếm khoảng 40% tổng doanh thu.
4.2 Khả năng phát triển DL của VQG.
Qua quá trình điều tra 60 khách tôi thấy du khách tham gia tuyến du thuyền
của sông chiếm tỷ lệ cao và du khách thường có sự kết hợp giữa các tuyến. Đa số du
khách khi được hỏi về mức độ hấp dẫn các yếu tố DL đều cho rằng VQG Xuân
Thuỷ có cảnh quan thiên nhiên đẹp, không gian rộng, thoáng đãng tiếp theo là mức
độ hấp dẫn của độ an toàn, môi trường, giá dịch vụ, văn hoá địa phương. Về chất
lượng dịch vụ chưa được đánh giá cao chỉ đạt mức độ trung bình. Bên cạnh đó, du
khách cũng phản ánh một vài bất cập khi tham gia hoạt động DLST, đó là: môi
trường vẫn còn xuất hiện rác thải, cơ sở vật chất chưa tốt, văn hoá địa phương đơn
điệu,…. Tương ứng là những ý kiến về điều kiện cần cải thiện: đó là hệ thống giao
thông, môi truờng, thái độ phục vụ,…. Đây là những ý kiến hữu ích giúp cho hoạt
động phát triển DLST của VQG.

v


4.3 Mô hình SWOT
- Điểm mạnh: tài nguyên DL đa đạng, phong phú; Ban giám đốc có kinh
nghiệm, vị trí địa lý thuận lợi nằm trong tam giác DL Hà Nội-Hải Phòng-Quảng
Ninh, an ninh tốt, được nhiều sự quan tâm của các cấp ngành, địa phương và cộng
đồng địa phương.
- Điểm yếu: cơ sở hạ tầng yếu kém, vị trí đầm lầy, đội ngũ cán bộ DL yếu và
kém, khả năng huy động vốn kém, tuyên truyền quảng cáo chưa hiệu quả, thể chế
quản lý bất cập, người dân địa phương gây nhiều áp lực đến tài nguyên của VQG.
- Thách thức: dịch vụ đơn giản,cạnh tranh khách hàng với các điểm DL khác dẫn
đến kết quả DL thấp, không giữ chân được du khác, trong việc đi lại bằng thuyền.
- Cơ hội: khi Việt Nam gia nhập WTO sẽ có nhiều nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào lĩnh vực DLST từ đó sẽ tạo điều kiện thu hút nhiều vốn đầu tư cùng sự
quan tâm của tỉnh với việc phát triển DLST và xu thế đi DLST ngày càng tăng, từ

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................1
PHẦN II................................................................................................................................4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU...............................4
PHẦN III.............................................................................................................................25
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................25
PHẦN IV.............................................................................................................................43
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN................................................................43
PHẦN V...............................................................................................................................88
KẾT LUẬN.........................................................................................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................91

vii


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1: Nguồn vốn của VQG Xuân Thủy qua 3 năm (2007 – 2009)....Error:
Reference source not found
Bảng 3.2: Nguồn lao động của VQG Xuân Thủy trong 3 năm (2007 – 2009)Error:
Reference source not found
Bảng 3.3: Tình hình kinh doanh của VQG Xuân Thủy qua 3 năm (2007 –
2009).............................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.1: Bảng giá của các loại hình dịch vụ nghỉ ngơi..........Error: Reference
source not found
Bảng 4.2: Bảng giá của các loại hình dịch vụ đi lạiError: Reference source not
found
Bảng 4.3: Bảng số lượng khách du lịch tới VQG Xuân Thủy năm 2007 – 2009
.........................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.4: Doanh thu từ hoạt động du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Xuân
Thủy tính theo loại hình dịch vụ từ năm 2007- 2009....Error: Reference source
not found

:
:
:
:
:

Du lịch
Du lịch sinh thái
Hệ sinh thái
Trung bình cộng
Vườn quốc gia

x


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao thì
du lịch (DL) đã trở thành một nhu cầu cần thiết trong đời sống xã hội. Trong
cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới DL đang được xem là một trong
những ngành kinh tế hàng đầu, ngành kinh tế mũi nhọn phát triển với tốc độ
cao. DL đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong việc đóng góp
vào tỷ trọng tổng GDP của nền kinh tế quốc dân, tăng nguồn thu ngoại tệ cho
đất nước, tạo ra việc làm cho đông đảo quần chúng nhân dân. Năm 2008,
doanh thu DL trên thế giới đạt 1.100 tỷ USD, tức khoảng 3 tỷ USD/ ngày. DL
tạo ra tích lũy ban đầu cho nền kinh tế quốc dân, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát
triển của tất cả các ngành kinh tế. DL hiện nay đã thực sự là sứ giả của hòa
bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc. DL là một cứu cánh để vực dậy
nền kinh tế và được mệnh danh là “con gà đẻ trứng vàng” bởi những đóng
góp của nó trong nền kinh tế.

Trong thời gian vừa qua, các hoạt động DL đặc biệt là DLST của VQG
đã diễn ra và được nhiều tổ chức quan tâm nhưng cái tên VQG Xuân Thủy
với điểm đến DLST thì vẫn chưa được nhiều người biết đến. Xuất phát từ tình
hình thực tế của địa phương, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu
phát triển khu du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Xuân Thủy, huyện Giao
Thủy, tỉnh Nam Định’’.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá thực trạng phát triển DLST của VQG Xuân Thủy trong thời
gian qua. Từ đó tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội, thách thức và một
số giải pháp để phát triển DLST của VQG Xuân Thủy trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DLST.

2


- Đánh giá thực trạng phát triển DLST của VQG Xuân Thủy trong thời
gian qua.
- Đánh giá tiềm năng để phát triển DLST của VQG Xuân Thủy.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tiềm năng DLST của VQG
Xuân Thủy trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các lĩnh vực liên quan đến DLST với chủ thể là VQG Xuân Thủy,
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng và khả năng
phát triển DLST của VQG Xuân Thủy.
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Luận văn được thực hiện tại vùng

Ở Việt Nam, khái niệm về DL đã được định nghĩa chính thức trong
pháp lệnh DL Việt Nam điều 1 (năm 1999): DL là một ngành kinh tế tổng
hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng
và xã hội hoá cao; phát triển DL nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí,

4


nghỉ dưỡng của nhân dân và khách DL quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo
việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2.1.1.2 Du lịch sinh thái
DLST (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng
thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây
là một khái niệm rộng và cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về
nó. Nhìn chung, DLST là loại hình DL dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các
hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái.
Theo Hector Ceballos-Lascurain đưa ra vào năm 1987, một định nghĩa
tương đối hoàn chỉnh về DLST đầu tiên như sau: DLST là DL đến những khu
vực tự nhiên ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham
quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được
khám phá.
Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: DLST là việc
đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường
và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương.
Theo định nghĩa của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) thì:
DLST là thăm quan và DL có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự
nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hoá
nơi đây, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu
cực do khách thăm quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa
phương tham gia tích cực.

thưởng thức bầu không khí trong lành, thoát khỏi cuộc sống đầy áp lực, bận
rộn, vất vả của công việc.
DLST không cho phép con người can thiệp vào các HST tự nhiên cho
dù đó là những can thiệp mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho con người và
cho dù con người chấp nhận đền bù bằng vật chất những thiệt hại mà họ gây
ra đối với tự nhiên.
+ Thứ hai, DLST phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải
về môi trường.

6


Đây là một trong những điểm nổi trội của DLST so với các loại hình
DL khác. Các hoạt động giáo dục gồm: giảng giải về nguồn gốc lịch sử,
nguồn gốc hình thành, tập quán sinh hoạt, mối quan hệ tương tác qua lại giữa
các loài động thực vật và vai trò của chúng trong thiên nhiên. DLST hướng
dẫn cách thức để những người làm DL và khách DL tiến hành hoạt động DL
đúng cách với thái độ trân trọng, gìn giữ và bảo vệ môi trường sống. Hoạt
động giáo dục được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như: hướng dẫn
viên thuyết minh trực tiếp cho khách, phát tờ rơi thông tin về DL, thông qua
các phương tiện nghe nhìn....
+ Thứ ba, DLST thường được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh
nghiệp có quy mô nhỏ ở nước sở tại tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách.
Các công ty lữ hành nước ngoài có quy mô khác nhau cũng có thể tổ chức,
điều hành hoặc quảng cáo các tour DLST cho các nhóm du khách có số lượng hạn
chế.
+ Thứ tư, DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi
trường tự nhiên và văn hoá – xã hội.
Du khách của DLST thường là những người yêu mến, thân thiện với
thiên nhiên. Họ xác định DL là tìm hiểu và thưỏng ngoạn các HST, vì thế họ

giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hoá khu vực.
+ Thứ hai, bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái.
Đây chính là mục tiêu hoạt động của DLST. Sự tồn tại của DLST gắn
liền với môi trường tự nhiên và các HST. Sự xuống cấp của môi trường, sự
suy thoái các HST đồng nghĩa với sự đi xuống của DLST.
Với nguyên tắc này, mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt
chẽ để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ
hoạt động DLST sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường
và duy trì sự phát triển của các HST.
+ Thứ ba, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng.
Các giá trị văn hoá bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời
với các giá trị môi trường của HST tại nơi diễn ra hoạt động DLST. Sự xuống

8


cấp hay sự thay đổi tập quán sinh hoạt văn hoá truyền thống của cộng đồng
địa phương sẽ làm thay đổi HST đó. Hậu quả của quá trình này sẽ tác động
trực tiếp đến DLST. Vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng
đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của
DLST.
+ Thứ tư, tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng
địa phương.
Một phần lợi nhuận từ hoạt động DLST sẽ dành để đóng góp nhằm cải
thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương. DLST luôn hướng tới việc
huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai
trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ ngủ cho khách, cung ứng các nhu cầu về
thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách... qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu
nhập cho cộng đồng địa phương. Cuộc sống của người dân ít phụ thuộc hơn
vào việc khai thác tự nhiên đồng thời họ sẽ thấy được lợi ích của việc bảo vệ

Khi DLST phát triển, người dân địa phương sẽ có cơ hội được nhận
vào làm việc tại các cơ sở kinh doanh DL. Họ sẽ trở thành những hướng dẫn
viên thân thiện truyền lại cảm thụ của họ về vẻ đẹp của quê hương cho du
khách. Hoặc tham gia vào việc đáp ứng các nhu cầu của khách DL như: cung
cấp dịch vụ ăn uống, giải trí, đi lại ... DLST phát triển làm tăng thu nhập của
người dân địa phương và góp phần làm giảm sức ép với các Khu bảo tồn, các
VQG vì khi không có DLST, người dân không còn sự lựa chọn nào khác
ngoài việc khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên để kiếm sống.
DLST còn góp phần nâng cao đời sống văn hoá người dân, trình độ dân
trí được nâng lên do người dân được tiếp xúc với du khách giao lưu, trao đổi,
học hỏi văn hoá. Thông qua phát triển DLST ngân sách địa phương được
nâng lên nhờ đó có điều kiện đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống, cơ sở hạ
tầng như: điện, đường, trường học, cơ sở y tế, nhà văn hoá, chợ búa phát triển
để đáp ứng nhu cầu mua sắm của du khách ... Giao thông đi lại sẽ thuận tiện
hơn, trẻ em được cắp sách đến trường, người bệnh có thuốc, chất lượng sức
khoẻ được nâng cao.

10


Như vậy, có thể nói phát triển DLST là giải pháp tốt để góp phần xoá
đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân địa phương.
2.1.4.3 Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn
Các khu vực có tiềm năng DLST chủ yếu là những vùng sâu, vùng xa,
nền kinh tế hàng hoá chưa phát triển, nền kinh tế chủ yếu là nền kinh tế sản
xuất tự cung, tự cấp hoặc sản xuất hàng hoá nhỏ. DLST là cơ hội để phát triển
kinh tế địa phương.
Các ngành dịch vụ sẽ phát triển như: dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống,
dịch vụ vận chuyển, hướng dẫn viên du lịch ..., sản phẩm của địa phương như:

2.1.5.1 Nhận thức của xã hội:
- Về mặt kinh tế: Ngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới, đã coi DL
trong đó có DLST là một trong những ngành kinh tế quan trọng mang lại
nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia và đã có nhiều sự quan tâm đầu tư có
chiến lược để đưa DL phát triển trở thành ngành ngày càng có vị trí quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó.
DLST mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương góp phần nâng
cao dân trí, tạo việc làm, tăng thu nhập và phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương đó nói riêng và quốc gia nói chung.
- Về mặt xã hội: DL (trong đó có DLST) góp phần tăng cường trao đổi,
giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới, làm tăng cường sự hiểu biết
lẫn nhau về nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.
Để DLST phát triển theo đúng hướng nguyên tắc của nó thì cần có sự
suy nghĩ và hoạt động không chỉ riêng những người làm kinh doanh DL, cộng
đồng địa phương nơi diễn ra hoạt động DLST mà cả du khách hay nói chung
là toàn xã hội. Khi xã hội có nhận thức tốt thấy rõ được tác dụng của nó thì
mọi người sẽ đồng tâm đóng góp sức lực, tài chính, kiến thức để thúc đẩy nó
phát triển. Ngược lại, nếu chưa nhìn nhận được hết giá trị của nó thì mọi
người sẽ không ủng hộ, thậm chí gây khó khăn cho quá trình phát triển DLST

12


vì cảnh quan thiên nhiên mang nét nguyên sơ, nguyên thuỷ, những văn hoá
bản địa đó là những tài nguyên quý giá nhưng không phải ai cũng hiểu được
đó, không phải ai cũng tìm hiểu khám phá nó.
2.1.5.2 Tài nguyên du lịch sinh thái cộng đồng
Tài nguyên của DLST gồm: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân
văn. Hai yếu tố này gắn kết lại với nhau tạo nên sự hấp dẫn của DLST.
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: cảnh quan thiên nhiên, vùng rừng núi

hút du khách.
2.1.5.4 Hoạt động xúc tiến quảng cáo
Cũng như ngành khác, DLST rất cần có các hoạt động xúc tiến quảng
cáo để giới thiệu đầy đủ các thông tin về sự đa dạng sinh học, các điểm danh
lam thắng cảnh, các loại hình DL, nét hấp dẫn của văn hoá bản địa cho du
khách... kích thích sự tò mò muốn tham quan của du khách. Nhu cầu đi DL,
nhất là DLST ngày càng tăng nhưng những thông tin về điểm DL có cảnh
quan thiên nhiên độc đáo, môi trường trong lành thì vẫn còn hạn chế.
Hiện nay, có rất nhiều các hình thức tuyên truyền quảng cáo như: tờ
rơi, gửi thư trực tiếp, phương tiện truyền thông, báo chí, sách, panô, áp
phích ... Nhưng một trong những biện pháp tốt nhất đó là làm tốt công tác
tuyên truyền quảng cáo ngay tại địa điểm diễn ra DL. Công việc này rất cần
có những hướng dẫn viên DL chuyên trách, có kinh nghiệm, làm tốt công tác
tuyên truyền, quảng cáo sẽ góp phần không nhỏ làm tăng lượng du khách
tham quan và sự trở lại của du khách.
2.1.5.5 Dân cư và lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái
Trong DLST, dân cư địa phương và lao động có ảnh hưởng rất lớn và
quan trọng đến hoạt động kinh doanh và chất lượng môi trường sinh thái, hệ
động thực vật.
HST môi trường tự nhiên rất dễ bị phá vỡ nếu mật độ dân cư quá đông ,
trình độ dân trí thấp. Đặc biệt khi các đơn vị điều hành DL, các khách sạn và
chính quyền địa phương khi tiến hành DLST mà không chú ý đến khả năng
quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như sự đóng góp của cư dân bản địa thì

14


hoạt động kinh doanh DL này sẽ nhanh chóng bị thoái trào do không bảo vệ
được cảnh quan thiên nhiên, môi trường.
Chất lượng lao động trong DLST cũng rất quan trọng đó là yếu tố tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status