Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào kinh doanh
quốc tế ngày càng đông đảo, hàng nghìn doanh nghiệp được thành lập mỗi năm.
Gắn liền với sự tăng lên này là nhu cầu về vận tải, chuyển giao hàng hóa và các tài
liệu thương mại cũng tăng theo. Với ưu thế về thời gian, độ an toàn và các điều kiện
bảo quản hàng hóa, dịch vụ chuyển phát nhanh ngày càng được nhiều doanh nghiệp
lựa chọn để gửi gắm hàng hóa của mình. Đồng thời với nhu cầu tăng thì sự cạnh
tranh trên thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh cũng ngày càng gay gắt và khốc
liệt, các doanh nghiệp phải đau đầu hơn để giải bài toán cạnh tranh của mình. Để
có thể tồn tại và tăng trưởng một cách bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh trở
thành vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát
nhanh trên thị trường này.
Công ty Chuyến phát nhanh TNT-Vietrans là một công ty liên doanh giữa
Vietrans và TNT – tập đoàn chuyển phát nhanh toàn cầu. Công ty cung ứng các sản
phẩm dịch vụ chuyển phát tài liệu, bưu phẩm, hàng hóa trong thời gian ngắn và các
giải pháp vận chuyển hàng hóa. Sau thời gian thực tập tại công ty, em đã được tìm
hiểu và nghiên cứu về việc tổ chức các hoạt động kinh doanh của công ty, nhận thấy
công ty có những bước thâm nhập thị trường khá tốt song vẫn còn nhiều hạn chế
trong cung ứng dịch vụ, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty. Trước tình
hình cạnh tranh gay gắt trên thị trường chuyển phát nhanh Việt Nam, công ty muốn
duy trì vững chắc thị phần và tăng trưởng bền vững thì phải nghiên cứu biện pháp
khắc phục các hạn chế và nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình. Do đó, em quyết
định chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ chuyển
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phát nhanh của công ty TNT-Vietrans trên thị trường Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu trong chuyên đề thực tập chuyên ngành của mình.
Do hạn chế về thời gian và kiến thức thực tế nên bản chuyên đề thực tập tốt
nghiệp có thể có những thiếu sót. Em mong được sự góp ý và giúp đỡ của cô giáo và
các anh chị, cô chú trong công ty để bài chuyên đề được hoàn thiện hơn. Em xin
chân thành cảm ơn!
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ
CHUYỂN PHÁT NHANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNT-VIETRANS TRONG CUNG CẤP
DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
1.1. KHÁI LUẬN VỀ CẠNH TRANH
1.1.1. Các quan điểm về cạnh tranh
Ban đầu, cạnh tranh là một hiện tượng tự nhiên mà các cá thể có chung môi
trường sống có quan hệ mâu thuẫn về một điều kiện nào đó mà các cá thể cùng
quan tâm. Cùng với quá trình hình thành và phát triển của sản xuất – trao đổi hàng
hóa, khái niệm cạnh tranh trong kinh tế xuất hiện, cạnh tranh trở thành một quy luật
kinh tế cơ bản của nền kinh tế. Tuy nhiên, quan niệm về cạnh tranh rất rộng lớn và
đến nay chưa có một khái niệm thống nhất, có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh
tranh trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, với các đối tượng khác nhau.
Trong trường phái cổ điển, C.Mác đã phân tích như sau: “Cạnh tranh là
hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa dựa trên chế độ sở
hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về
sản xuất và tiêu thụ hàng hóa”. Chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất tạo ra
cạnh tranh, “cá lớn nuốt cá bé”. Các biện pháp được sử dụng để cạnh tranh là các
nhà tư bản thường xuyên cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động làm cho giá trị
của hàng hóa sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận siêu ngạch. Như
vậy, ông đã nhìn nhận cạnh tranh dưới góc độ khá tiêu cực, cạnh tranh gắn với
không bình đẳng, nếu một bên có lợi thì bên còn lại sẽ phải chịu thiệt. Tuy nhiên,
Xét trong tổng thể nền kinh tế, cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển, là
động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Quy luật cạnh tranh sẽ buộc các doanh
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp có khả năng kinh doanh, tăng trưởng bền vững, thường xuyên cải tiến sản
phẩm, công nghệ sản xuất… mới có thể tồn tại. Cạnh tranh lành mạnh hướng doanh
nghiệp phải kết hợp một cách hợp lý lợi ích của mình với lợi ích của người tiêu
dùng và lợi ích cộng đồng. Toàn xã hội và nền kinh tế không ngừng được được đổi
mới và phát triển, đời sống người dân được nâng cao. Đối với người tiêu dùng, nhờ
có cạnh tranh, người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm – dịch vụ ngày càng rẻ hơn,
chất lượng tốt hơn, đẹp hơn, hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn.
Nhà sản xuất muốn có vị thế cao trên thị trường buộc phải nhạy bén hơn,
nắm bắt ngày càng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng để tìm cách đáp ứng nhu cầu
khách hàng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh bằng cách thường xuyên cải tiến kỹ
thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý, nâng cao hiệu quả năng suất, chất lượng và hiệu
quả kinh tế… Nhà sản xuất cạnh tranh thành công sẽ thu hút được nhiều khách
hàng hơn và thu lợi nhuận ngày càng lớn hơn.
Nói chung, cạnh tranh có tác động tích cực trong đổi mới và phát triển
không ngừng doanh nghiệp, nền kinh tế, nâng cao vai trò và lợi ích của người tiêu
dùng.
1.1.3. Phân loại cạnh tranh
1.1.3.1. Phân loại căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh
- Cạnh tranh giữa nhà sản xuất với nhau
Đây là loại cạnh tranh thường thấy trong nền kinh tế, trong đó các nhà sản
xuất tranh giành với nhau để chiếm thị phần và các ưu thế về thị trường. Cuộc cạnh
tranh này ảnh hưởng lớn nhất đến quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nhà sản
xuất thường cạnh tranh thông qua các biện pháp như: chính sách giá cả, quảng cáo,
bán hàng…, trong đó biện pháp cạnh tranh qua giá làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp nên ngày nay, các nhà kinh doanh thường kết hợp cạnh tranh qua giá đồng
1.1.3.3. Căn cứ tính chất cạnh tranh trên thị trường
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Căn cứ vào tính chất của hoạt động cạnh tranh có thể chia thành cạnh tranh
lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Hiện nay Việt Nam đã ban hành Luật
cạnh tranh để điều chỉnh và xử lý vi phạm của các hoạt động cạnh tranh không lành
mạnh, xâm phạm đến lợi ích của doanh nghiệp khác.
Cạnh tranh lành mạnh là cơ sở phát triển bền vững của doanh nghiệp trong
nền kinh tế, đòi hỏi phải có hệ thống quy định điều chỉnh chặt chẽ của Nhà nước,
quan trọng hơn cả là đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp tham gia cạnh tranh.
1.1.4. Các công cụ mà các doanh nghiệp thường sử dụng để cạnh tranh
trên thị trường
Các công cụ mà doanh nghiệp thường sử dụng trong cạnh tranh thường được
thiết kế dưới dạng các chính sách cạnh tranh. Các công cụ này tùy vào từng doanh
nghiệp cụ thể, từng thị trường mục tiêu, thời điểm, tình hình cạnh tranh trên thị
trường mà được sử dụng theo các phương thức khác nhau. Nhìn chung các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ thường sử dụng 7 công cụ sau:
1.1.4.1. Chất lượng sản phẩm dịch vụ:
Khác với hàng hóa hữu hình, khách hàng mua dịch vụ bản chất là mua
những lợi ích, sự tiện lợi của dịch vụ mang lại. Có thể chia sản phẩm dịch vụ thành
hai bộ phận:
- Dịch vụ cốt lõi: là dịch vụ cơ bản, quyết định bản chất dịch vụ mà doanh
nghiệp cung cấp cho thị trường, gắn liền với quy trình cung ứng dịch vụ. Doanh
nghiệp cạnh tranh bằng sự khác biệt sản phẩm có thể thực hiện thông qua việc tạo
ra các sản phẩm dịch vụ khác nhau, thay đổi giá trị của sản phẩm cốt lõi.
- Dịch vụ bao quanh: tạo ra giá trị phụ thêm, giúp khách hàng có cảm nhận
tốt hơn về dịch vụ cốt lõi, thường chiếm khoảng 30% chi phí dịch vụ tổng thể
nhưng có thể gây 70% tác động nhận biết dịch vụ tới khách hàng. Để cạnh tranh,
các nhà kinh doanh cần quan tâm đến các dịch vụ bao quanh vì nó làm tăng giá trị
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.4.4. Mạng lưới phân phối:
Trong dịch vụ, thích hợp nhất là sử dụng kênh phân phối trực tiếp do mối
quan hệ giữa người cung ứng và người tiêu dùng trong kênh này đạt mức cao:
Hình 1.1: Kênh phân phối trực tiếp trong dịch vụ
Đối với các doanh nghiệp lớn, mạng lưới phân phối thường kết hợp phân
phối trực tiếp với gián tiếp, sử dụng nhiều tring gian phân phối để tăng sức phân
phối và tiếp cận với khách hàng, từ đó tăng khả năng cạnh tranh.
1.1.4.5. Quy trình dịch vụ
Quy trình dịch vụ gồm tập hợp các yếu tố, các khâu, bước có tác động tương
hỗ, quan hệ mật thiết với nhau trên cơ sở các quy chế, quy tắc, lịch trình, cơ chế
hoạt động, kết quả là tạo ra sản phẩm dịch vụ tổng thể và chuyển tới khách hàng.
Quy trình dịch vụ quyết định chi phí của doanh nghiệp, nếu có yếu tố trong quy
trình chưa hợp lý, quy trình dịch vụ chưa thông suốt sẽ làm tăng giá thành của sản
phẩm dịch vụ. Quy trình dịch vụ luôn có vị trí tiềm tàng ách tắc, không thông suốt
có thể ảnh hưởng đến chất lượng và uy tín dịch vụ, năng suất cung ứng dịch vụ. Do
vậy, để sử dụng công cụ này hiệu quả, doanh nghiệp phải liên tục cải tiến hoàn
thiện mô hình, tạo ra sản phẩm cốt lõi cho khách hàng.
1.1.4.6. Nguồn nhân lực:
Chiến lược con người đúng đắn có thể giúp doanh nghiệp cung ứng dịch vụ
thành công như mong đợi trong cạnh tranh bởi vì con người trong doanh nghiệp
dịch vụ là lực lượng trực tiếp tạo ra dịch vụ. Động lực làm việc của họ tạo ra uy tín
và sản lượng tiêu thụ cho doanh nghiệp, do đó chính sách về nguồn nhân lực là yếu
tố quan trọng quyết định đối với cạnh tranh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt.
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
10
Người tiêu dùng
dịch vụ
DN cung ứng
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các khái niệm này chưa phản ánh được vị thế lâu dài, đồng thời mới là
biểu hiện bề ngoài của năng lực cạnh tranh, còn vấn đề về tài chính, nhân lực, công
nghệ, trách nhiệm xã hội… tạo ra năng lực cạnh tranh chưa được đề cập tới.
1.2.1.2. Khái niệm và bản chất năng lực cạnh tranh
1. Năng lực cạnh tranh quốc gia: Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã đưa
ra khái niệm: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính
sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia. Nói cách khác, một nền
kinh tế cạnh tranh thì có xu hướng có thể đem tới mức thu nhập cao hơn cho các
công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn hơn và do đó có thể phát triển nhanh hơn
trong tương lai trung và dài hạn”. Năng lực cạnh tranh quốc gia được cấu thành từ
nhiều yếu tố như thể chế chính sách, cơ sở hạ tầng, nền kinh tế vĩ mô, giáo dục và
đào tạo mức cao…
2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài, nhằm tạo
ra những sản phẩm dịch vụ hấp dẫn với người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu
được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh. Bản
chất của năng lực cạnh tranh trước hết phải xuất phát từ thực lực của doanh nghiệp
trong điều kiện môi trường cụ thể.
Năng lực cạnh tranh của một ngành được đánh giá dựa trên năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp và các sản phẩm chủ lực của ngành trên thị trường.
3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là
lợi thế, ưu việt của sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng so với đối thủ cạnh tranh
trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để chiếm thị phần và lợi
nhuận ngày càng cao hơn.
Năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp, ngành có mối quan hệ
ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cao sẽ tác
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
12
nó như là cơ sở vật chất, quy mô dịch vụ, phạm vi địa lý cung ứng…
- Dịch vụ chuyển phát nhanh không lưu kho. Trong quá trình sản xuất, lưu
lượng hàng hóa chuyển không đồng đều trong ngày, trong tháng, có lúc khách hàng
quá đông, có lúc lại quá thưa thớt. Dịch vụ chuyển phát nhanh không thể tích trữ,
chuyển phát từ trước nếu không có khách hàng và hàng hóa của họ. Đặc điểm này
làm phức tạp hóa quá trình quản lý cung ứng dịch vụ, khả năng linh hoạt điều chỉnh
với những biến động của nhu cầu sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn trong
ngành dịch vụ chuyển phát nhanh.
- Việc sản xuất dịch vụ chuyển phát nhanh diễn ra đồng thời với tiêu dùng
dịch vụ. Do vậy, việc phân bổ mạng lưới cung ứng phải rộng để có thể tiếp cận với
điểm đến của mọi khách hàng. Mạng lưới chuyển phát càng rộng, sự có mặt của
doanh nghiệp ở càng nhiều nơi càng đem lại khả năng cung ứng dịch vụ cao, khả
năng cạnh tranh cao cho doanh nghiệp.
Do sản xuất đến đâu bán đến đó nên người bán hàng phải có nhiều kiến
thức và kỹ năng để tránh tối đa những sai sót khi thực hiện cả hai chức năng này,
đồng thời phải có thái độ và tinh thần phục vụ tốt mới có thể thỏa mãn cao những
nhu cầu của khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Dịch vụ chuyển phát nhanh khó tiêu chuẩn hóa và khó định giá. Dịch vụ
chuyển phát nhanh không thể sản xuất đồng loạt để dự trữ và thiếu sự đồng đều về
chất lượng. Chất lượng dịch vụ còn phụ thuộc vào người bán hàng, đồng thời chất
lượng dịch vụ chuyển phát nhanh không chỉ bao gồm việc tuân thủ các đặc tính,
quy định của sản phẩm mà còn tuân thủ các yêu cầu do người sử dụng dịch vụ đặt
ra. Như vậy vấn đề mấu chốt quyết định khả năng cạnh tranh của công ty là ở việc
bảo đảm chất lượng của dịch vụ và chất lượng phục vụ đối với khách hàng.
1.2.2.3. Những đặc điểm riêng có của dịch vụ chuyển phát nhanh
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Dịch vụ chuyển phát nhanh ấn định thời gian chính xác cao, tốc độ cao.
Đối với dịch vụ chuyển phát nhanh, việc đảm bảo thời gian chuyển giao hàng hóa
lợi và bất lợi của doanh nghiệp so với đối thủ trong nâng cao năng lực cạnh tranh,
từ đó doanh nghiệp có được các biện pháp thỏa mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng,
lôi kéo được khách hàng của đối thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
1.2.3.1. Phân tích các yếu tố bên trong doanh nghiệp quyết định đến năng
lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh
Qua thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn
đầy đủ tất cả nhu cầu của khách hàng, mỗi doanh nghiệp có những lợi thế về mặt
này thì lại có những hạn chế về mặt khác. Vấn đề là doanh nghiệp phải nhận biết
được chính xác những điểm mạnh và điểm yếu trong cạnh tranh, tìm cách phát huy
những điểm mạnh để đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn đối thủ của mình. Các
yếu tố ảnh hưởng đến điểm mạnh, yếu trong cạnh tranh xuất phát từ các hoạt động
trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp (Hình1.2).
(Nguồn:
Marketing
trong kinh
doanh dịch
vụ, TS. Lưu
Văn
Nghiêm, ĐH Kinh tế quốc dân, 2001)
Hình 1.2: Chuỗi giá trị của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh
Xuất phát từ các hoạt động hỗ trợ, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh là các nhân tố nguồn lực của doanh nghiệp gồm: Năng lực tài chính, năng lực
nguồn nhân lực, năng lực vật chất – công nghệ.
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
Hoạt động
hỗ trợ
Cơ sở hạ tầng
Quản trị nhân lực
Phát triển kỹ thuật
Mua sắm vật tư
đầu tư cho quy trình khai thác và vận chuyển rất lớn, doanh nghiệp phải đối mặt
trực tiếp với sự biến động liên tục của nhu cầu… Với những lý do trên thì một
doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh khó có thể có năng lực cạnh
tranh mạnh nếu không có năng lực tài chính vững chắc và khả năng huy động kịp
thời cho hoạt động kinh doanh.
Năng lực tài chính mạnh giúp doanh nghiệp thực hiện các hoạt động
marketing, xúc tiến, phân phối mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Năng lực tài chính
hiệu quả đảm bảo cho việc đáp ứng nhu cầu thị trường biến động một cách tốt nhất,
duy trì được sự ổn định trong hoạt động kinh doanh, từ đó chất lượng cung ứng
dịch vụ tốt hơn. Năng lực tài chính vững mạnh còn giúp doanh nghiệp có điều kiện
đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao năng
suất của nhân lực. Ngược lại, nếu nguồn lực tài chính được phân bổ không hiệu quả
có thể dẫn đến lãng phí, tăng giá thành sản phẩm và mất cơ hội kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp nói chung và chuyển phát nhanh nói riêng, phân bổ và
sử dụng vốn là nhân tố quan trọng trong quá trình kinh doanh – cung ứng dịch vụ.
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tất yếu, năng lực tài chính mạnh và hiệu quả giúp doanh nghiệp giải quyết tốt bài
toán giảm chi phí, tăng hiệu quả cung ứng dịch vụ, đồng thời tạo được hình ảnh và
nâng cao uy tín, từ đó nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trênt thị trường chuyển phát nhanh.
1.2.3.1.2. Năng lực về nguồn nhân lực
Trong doanh nghiệp chuyển phát nhanh, nhân lực là yếu tố quan trọng hàng
đầu quyết định năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh bị ảnh hưởng lớn bởi hiệu
quả giao tiếp, thuyết phục và phát triển quan hệ khách hàng của nhân viên. Năng
lực nguồn nhân lực bao gồm trình độ nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc, năng
lực vận hành quy trình dịch vụ chuyển phát, năng suất công việc, khả năng phát
triển trong tương lai. Năng lực nguồn nhân lực còn bao gồm mức độ trung thành,
tinh thần trách nhiệm trong công việc. Không chỉ đối với người lao động, năng lực
Chất lượng sản phẩm vừa là công cụ cạnh tranh, vừa là yếu tố sống còn
quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Chất lượng sản
phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, phản ánh qua các chỉ tiêu định tính và định
lượng. Nhưng cuối cùng chất lượng dịch vụ tốt hay không tốt là do khách hàng
đánh giá, thể hiện thông qua việc đáp ứng các mong đợi của khách hàng về thời
gian vận chuyển an toàn, chuyển đúng nơi, đúng lúc và tiện lợi.
Đối với dịch vụ chuyển phát nhanh, khách hàng là đối tượng sẵn sàng trả
mức phí cao để có chất lượng dịch vụ tốt và đảm bảo, họ ngày càng đòi hỏi cao hơn
về chất lượng dịch vụ vì nó nằm một phần trong hoạt động kinh doanh của họ. Do
đó chất lượng dịch vụ rất quan trọng, quyết định doanh nghiệp cạnh tranh thành
công hay thất bại trên thị trường. Chất lượng dịch vụ càng cao thì càng có khả năng
lôi kéo và gia tăng khách hàng và là cơ sở vững chắc để cạnh tranh trong dài hạn.
Chất lượng cao đem lại giá trị gia tăng cao cho khách hàng, do đó doanh nghiệp có
thể định giá cao hơn đối thủ, nhiều khi cao hơn nhiều chi phí bỏ ra, đem lại lợi
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhuận và tỷ suất lợi nhuận cao. Như vậy chất lượng dịch vụ cao hơn đối thủ cạnh
tranh sẽ đem lại năng lực cạnh tranh cao cho doanh nghiệp.
2. Giá cước dịch vụ
Dịch vụ chuyển phát nhanh là loại dịch vụ vận tải cao cấp, do đó nó được
định giá cao và các doanh nghiệp cũng sử dụng dịch vụ này ít hơn nhiều các dịch
vụ vận tải khác. Ngành chuyển phát nhanh có độ co giãn của cầu theo giá khá lớn,
trung bình giá tăng 5% thì nhu cầu giảm xuống 1%. Do đó giá cước dịch vụ quyết
định khả năng lôi kéo khách hàng, quyết định sức mua sản phẩm dịch vụ. Nếu giá
cả dịch vụ phù hợp với chất lượng dịch vụ cao, nằm trong khả năng thanh toán và
giới hạn sẵn sàng thanh toán của khách hàng thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng
và năng lực cạnh tranh sẽ được nâng cao.
3. Dịch vụ khách hàng
Dịch vụ khách hàng có khả năng tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm và ảnh
(Nguồn: Chiến lược cạnh tranh, Michael Porter, 1996)
Hình 1.3: Năm nhân tố quyết định cuộc cạnh tranh trong ngành.
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
21
Nguy cơ đe doạ từ những
người mới vào cuộc
CÁC ĐỐI THỦ
TIỀM NĂNG
CÁC ĐỐI THỦ CẠNH
TRANH TRONG NGÀNH
Cuộc cạnh tranh giữa các đối
thủ hiện tại
NGƯỜI MUA
SẢN PHẨM
THAY THẾ
NGƯỜI CUNG
ỨNG
Quyền lực
thương
lượng
của người
cung ứng
Quyền lực của
người mua
Nguy cơ đe dọa từ các sản
phẩm và dịch vụ thay thế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.3.2.1. Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là các doanh nghiệp cùng kinh doanh cung ứng
tiềm lực tài chính mạnh hay sử dụng công nghệ hiện đại hơn, hiệu quả hơn sẽ có
nguy cơ cao gây áp lực làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nói chung, các yếu tố trên không phải doanh nghiệp nào cũng đánh giá
được đầy đủ. Dù có khả năng nhận thức được hay không thì điểm mạnh và điểm
yếu của đối thủ cạnh tranh hiện tại vẫn ảnh hưởng quan trọng đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, thường gây ra bất lợi cho doanh nghiệp trong cạnh tranh.
1.2.3.2.2. Khách hàng
Khách hàng luôn có nhu cầu mua dịch vụ có chất lượng đảm bảo cao với
giá thấp, gây sức ép mặc cả cho doanh nghiệp, nếu không sẽ sử dụng dịch vụ của
đối thủ cạnh tranh, còn doanh nghiệp lại luôn muốn định giá cao cho sản phẩm.
Đây là một cuộc cạnh tranh mở rộng giữa khách hàng và doanh nghiệp cung ứng.
Sức mạnh của khách hàng càng lớn khi tầm quan trọng của khách hàng càng cao và
tình hình cạnh tranh trên thị trường càng gay gắt. Sức mạnh khách hàng gây sức ép
lên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và gián tiếp làm tăng tính đối đầu với các
đối thủ cạnh tranh hiện tại.
Nếu doanh nghiệp được khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ tốt hơn,
có sự hài lòng cao với dịch vụ cung ứng so với đối thủ thì sẽ ảnh hưởng thuận lợi
đến năng lực cạnh tranh, làm gia tăng cơ hội tăng trưởng thị phần và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Chính khả năng đáp ứng mối quan tâm của khách hàng một cách kịp
thời sẽ quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.3.2.3. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là những đối thủ có khả năng gia nhập ngành,
có mong muốn chiếm lĩnh một thị phần nào đó. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có thể là
doanh nghiệp từ một ngành có chi phí đầu tư chung với ngành chuyển phát nhanh
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và có năng lực cung ứng dịch vụ. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn với doanh nghiệp
chuyển phát nhanh có thể là doanh nghiệp vận tải hàng không hay vận tải hành
khách đường bộ… Họ sẵn có phương tiện vật chất và có khả năng cung ứng dịch
có thể thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Những sản phẩm thay thế làm tăng mức
cung, tăng năng lực cung ứng dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách hàng, vì vậy nó
làm giảm giá sản phẩm chuyển phát nhanh, làm giảm doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Đồng thời sự có mặt của sản phẩm thay thế cũng đặt ra ngưỡng tối
đa cho mức giá của các hãng trong ngành, do đó cũng giới hạn luôn mức lợi nhuận,
ảnh hưởng bất lợi đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các sản phẩm thay thế thường là kết quả của việc cải tiến, đổi mới công
nghệ, phát minh sáng chế nên có những điểm ưu việt hơn và khả năng cạnh tranh
lớn hơn. Đối với dịch vụ chuyển phát nhanh, sản phẩm thay thế là các phương tiện
truyền tin như điện thoại, dịch vụ internet, dịch vụ chuyển tiền… đang làm giảm
doanh thu từ chuyển phát tài liệu, thư tín của doanh nghiệp chuyển phát nhanh.
1.2.3.3. Phân tích các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh quốc gia và quốc
tế ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong cung ứng dịch vụ
chuyển phát nhanh
Thể chế Nhà nước và khung luật pháp.
Môi trường thể chế thiết lập nên khuôn khổ mà trong đó các cá nhân,
doanh nghiệp, chính phủ tác động qua lại với nhau để tạo ra thu nhập và sự giàu có
cho nền kinh tế. Yếu tố quan trọng nhất trong thể chế Nhà nước là khung khổ luật
pháp, nhất là hệ thống luật pháp kinh tế. Nếu hệ thống luật pháp hướng tới thị
trường và cạnh tranh lành mạnh thì sẽ tạo ra cơ sở thuận lợi cho các doanh nghiệp
phát triển kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Vũ Thị Lan Anh Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
25