Ketnooi.com di n n cụng ngh hng u
kết quả nghiên cứu xâm nhập mặn phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội đồng bằng sông cửu long
GS.TS. Lê Sâm1
Tóm tắt: Mặn là thuộc tính vùng cửa sông. Trong sự tơng tác giữa sông và biển, hai dòng
nớc ngọt và mặn giao hội với nhau. Trong thời kỳ triều lên, xáo trộn và nớc mặn rút đi trong
thời kỳ triều xuống tạo thành sự mặn hoá đều đặn trong không gian, theo thời gian dới tác động
của hai yếu tố cơ bản: lu lợng nớc ngọt từ nguồn xuống và thủy triều thể hiện qua biên độ và
cờng suất.
Diễn biến phức tạp của xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long là vấn đề đã đợc dự
báo vì diễn biến này gắn liền với nhu cầu sử dụng nớc cho các mục tiêu kinh tế - xã hội ở đồng
bằng sông Cửu Long.
Xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long những năm gần đây trở nên gay gắt hơn và
ngày càng ảnh hởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long nói
chung, đặc biệt là các tỉnh ven biển.
1. Mở đầu
Với diện tích khoảng 3,9 triệu ha, đồng bằng sông Cửu Long giữ một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Đây là vùng đất có u thế lớn về nông nghiệp (chiếm 50% sản lợng
lơng thực của cả nớc) và thủy sản.
Đồng bằng sông Cửu Long là một hệ thống hở, thấp, chịu tác động của chế độ thủy văn
bán nhật triều biển Đông và nhật triều biển Tây. Hơn 300 năm khai thác, những năm gần đây
sinh thái và môi trờng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là vùng ven biển, không ngừng biến
đổi sâu sắc, đang chuyển dần từ hệ sinh thái tự nhiên sang hệ sinh thái do con ngời điều khiển.
Toàn bộ diện tích tự nhiên của 8 tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long là 2,86 triệu ha.
Trớc đây diện tích bị xâm nhập mặn ở vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long ở mức 1 g/l là
2,1 triệu ha, mức 4 g/l là 1,7 triệu ha, hiện nay đã giảm và đang biến đổi nhiều do sự phát triển
hạ tầng thủy lợi và thay đổi mô hình canh tác. Những năm gần đây việc chuyển đổi cơ cấu sản
xuất ở vùng ven biển từ trồng lúa sang nuôi tôm một cách tự phát trên diện rộng đã làm cho bức
tranh xâm nhập mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long trở nên phức tạp, nhiều nơi nằm ngoài
Hệ thống sông Cửu Long thuộc vào loại hệ thống sông lớn trên thế giới. Sông Mêkông
chảy vào Việt Nam theo 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu. Qua ngã ba sông Vàm Nao có sự
phân phối lại dòng chảy từ sông Tiền sang sông Hậu. Xuôi về phía hạ lu, tại Vĩnh Long, Trà
Vinh, sông Tiền và sông Hậu phân nhánh rồi đổ ra biển trên các cửa sông là: Cửa Đại, Cửa Tiểu,
Ba Lai, Hàm Luông, Cỗ Chiên, Cung Hầu, Định An và Trần Đề. Trong mùa kiệt nguồn nớc
ngọt duy nhất vào đồng bằng sông Cửu Long và chảy ra 8 cửa sông là lu lợng của sông
Mêkông. Đây là nguồn nớc chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Chế độ thủy
văn của sông chịu sự chi phối mạnh của thủy triều biển Đông và chế độ nớc thợng nguồn. Từ
tháng 2 đến tháng 6 hàng năm lu lợng thợng nguồn tơng đối nhỏ và nhỏ nhất vào tháng 4.
Độ dốc lòng sông nhỏ, sông rộng và sâu, địa hình khá bằng phẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho
nớc mặn xâm nhập sâu vào dòng chính và kênh rạch nội đồng. Độ mặn hàng ngày diễn biến
theo chu kỳ của thủy triều biển Đông (bán nhật triều) có hai đỉnh mặn và hai chân mặn, độ mặn
lớn nhất ứng với đỉnh triều, thời gian xuất hiện thờng sau đỉnh triều, chân triều khoảng 2 - 3
giờ.
Độ mặn ở biển Đông địa phận nớc ta trong khoảng 32 - 33 g/l, tại các cửa sông do tiếp
nhận nguồn nớc ngọt nên độ mặn đợc pha loãng.
Từ số liệu đo mặn qua các năm, xu thế chung độ mặn xâm nhập vào toàn vùng tăng dần từ
58
tháng 2 đến tháng 4 và một vài ngày đầu tháng 5. Giữa và cuối tháng 5 và 6 độ mặn giảm nhanh
trên toàn bộ vùng cửa sông trải rộng trên dải đất từ Gò Công tới Sóc Trăng.
Nhìn chung toàn vùng cửa sông diễn biến xâm nhập mặn thay đổi qua từng năm:
Diễn biến xâm nhập mặn vào vùng cửa sông đạt nồng độ cao, bất lợi theo thứ tự giảm dần
1998, 2004, 1993, 1995, 1991, 1992, 1994, 1996, 1997, 1999, 2003, 2002 và nồng độ nhỏ nhất
là năm 2000.
2.2.2. Diễn biến xâm nhập mặn vùng hai sông Vàm Cỏ
Nguồn mặn xâm nhập vào hai sông Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông thông qua cửa sông và
các kênh rạch nối với hai sông này để xâm nhập sâu vào nội đồng.
Chế độ thủy văn cả hai sông chịu ảnh hởng trực tiếp của chế độ thủy triều biển Đông là
4 hàng năm. Xét về trị số nồng độ mặn bất lợi nhất trong khu vực theo thứ tự giảm dần theo các
năm: 1993, 1995, 1996, 1998, 2004, 1995, 1993, 1994, 1997, l999, 2002. Năm 2000 và 2003 là
năm nồng độ mặn có trị số nhỏ nhất trong 14 năm.
Khu vực từ Cái Sắn tới sông Cái Lớn chịu ảnh hởng trực tiếp triều biển Tây, nớc sông
Hậu bổ sung nhiều so với khu vực 1 nên mặn đã đợc pha loãng. Biên độ mặn cũng nhỏ, xảy ra
vào ngày triều cờng. Độ mặn tăng dần từ tháng 2, hầu hết đạt trị số cực đại vào tháng 3 và
giảm mạnh vào tháng 4. Vào tháng 4 trong hai năm 1999 - 2000 đều có ma phân bố đều theo
thời gian, nguồn nớc sông Hậu cung cấp khá phong phú đẩy lùi xâm nhập mặn ở khu vực này.
Tuy năm 2002 mặn có tăng hơi bất thờng, nhng độ mặn đã giảm nhiều trong năm 2003. Độ
mặn bất lợi theo thứ tự giảm dần theo các năm: 1998, 1995, 1993, 1996, 2002, 1992, 1991,
1994, 2004, 1997, 1999, 2000 và năm 2003 .
Khu vực từ sông Cái Lớn đến sông Ông Đốc mang tính đặc thù của vùng ven biển Tây,
chịu ảnh hởng mặn từ biển Tây đặc biệt qua hệ thống sông Cái Lớn, sông Ông Đốc và mặn bổ
sung sang từ phía Bắc kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, diễn biến mặn ở đây khá phức tạp. Mặn xuất
hiện sớm, tăng dần từ tháng 2 hầu hết đạt trị số lớn nhất vào tháng 3, sau đó giảm dần vào tháng
4 và những tháng tiếp sau trong mùa khô hàng năm theo sự gia tăng của ma. Xâm nhập mặn ở
khu vực biến đổi không theo xu hớng chung trong vùng ven biển Tây. Nồng độ mặn lớn nhất
giảm dần theo các năm 1995, 1993, 1998, 2002, 1996, 1992, 1991, 1994, 1999, 1997 và 2000.
2.2.4. Diễn biến xâm nhập mặn vùng trung tâm bán đảo Cà Mau
Chế độ thủy văn vùng trung tâm bán đảo Cà Mau bị chi phối bởi triều biển Đông, biển
Tây, dòng chảy sông Mêkông và chế độ ma trong đồng. Giống nh đồng bằng sông Cửu Long
hình thành hai mùa rõ rệt: mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 và mùa cạn từ tháng 7 đến tháng 4
năm sau.
Nguồn nớc mặn chính xâm nhập vào các kênh rạch vùng trung tâm bán đảo Cà Mau là từ
phía biển Đông thông qua sông Mỹ Thanh, Gành Hào và nguồn mặn xâm nhập từ phía biển Tây
qua sông Ông Đốc, sông Cái Lớn, Cái Bé và các kênh Rạch Sỏi, Nớc Mặn, Chắc Băng, Cán Gáo.
Hiện nay nhờ có hệ thống cống ngăn mặn Mỹ Phớc, Cái Trầu (Thạnh Trị)... cùng với hệ
thống cống vùng Tiếp Nhật nên một số khu vực thuộc hệ thống Tiếp Nhật và Quản Lộ - Phụng
nó liên tục phụ thuộc vào chế độ dòng chảy không ổn định do dao động triều gây ra.
Quy trình lập bản đồ dự báo mặn nền cho vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long trên
mô hình HydroGis trong giai đoạn thử nghiệm bao gồm các bớc công tác sau:
- Thiết lập cơ sở dữ liệu nhập và phác đồ tính toán dự báo
- Kiểm định độ tin cậy của công cụ dự báo và bộ dữ liệu nhập
- Thiết lập điều kiện đầu và điều kiện biên để chạy bài toán dự báo
- Đóng gói sản phẩm dự báo và chuyển đến ngời dùng
- Tiếp nhận các ý kiến đánh giá và đóng góp của ngời sử dụng về chất lợng dự báo và
hình thức sản phẩm để hiệu chỉnh mô hình, dữ liệu nhập và cách làm trong các lần tiếp theo.
Kết luận về dự báo độ mặn nền:
- Dự báo độ mặn nền tại vùng ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long trong các năm 2003,
2004 và 2005 với việc lập các bản đồ dự báo độ mặn nền trong sông rạch vùng đồng bằng sông
Cửu Long trên cơ sở xác định bởi 6 yếu tố thủy lực và khí tợng thuỷ văn chính. Công cụ để làm
dự báo là phần mềm HydroGis, đợc trang bị các trình con để dự báo độ mặn do 6 yếu tố nêu
trên xác định cho khoảng thời gian dự báo tùy ý.
- Các bản đồ dự báo độ mặn nền vùng đồng bằng sông Cửu Long rất có ý nghĩa thực tiễn,
cung cấp các dữ liệu đơn tính quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch, mùa vụ trồng trọt, nuôi
trồng và đánh bắt thủy sản. Các bản tin dự báo này đã đợc chuyển đến các địa phơng trong
khu vực để sử dụng và lấy ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện thêm phơng pháp dự báo.
- Dự báo mặn cập nhật trong cùng một thời gian dự báo độ mặn nền theo mùa (mùa kiệt
năm 2002 - 2005) trên diện rộng toàn vùng ven biển, đề tài đã chọn địa điểm dự án Gò Công
(Tiền Giang) tiến hành dự báo cập nhật ngày nhằm cảnh báo mặn, dẫn ngọt phục vụ kịp thời sản
xuất; có sự cộng tác chặt chẽ giữa Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Tiền Giang và Viện
Khoa học Thủy lợi miền Nam.
61
2.4. Đề xuất giải pháp chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo quan điểm xâm nhập mặn
Trên cơ sở đánh giá thực trạng diễn biến xâm nhập mặn và hệ canh tác vùng ven biển đồng
bằng sông Cửu Long, những hợp lý và cha hợp lý, để từ đó đề xuất giải pháp chuyển đổi cơ cấu
1 vụ mùa + 1 vụ tôm sú; chuyên rau đậu, cây ăn trái trên các giồng cát; nuôi tôm kết hợp trồng
lúa, nuôi tôm biển, phát triển các giống lúa mùa địa phơng có phẩm chất gạo ngon đáp ứng tiêu
dùng và xuất khẩu.
3. Kết luận
Xâm nhập mặn diễn biến rất bất thờng ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác
62
trên hệ thống sông ngòi kênh rạch ở đồng bằng sông Cửu Long. Chúng ta có thể hiểu đợc khá
rõ ràng các yếu tố ảnh hởng đến xâm nhập mặn trên toàn cảnh cũng nh trên từng nhánh sông,
kênh và ở mức độ nhất định đã thấy trớc đợc chiều hớng diễn biến của xâm nhập mặn ở
đồng bằng sông Cửu Long.
Hệ thống hóa và tóm tắt những vấn đề cơ bản của kết quả nghiên cứu về mặn đã đạt đợc
để giải trình, chuyển giao cho những ngời quản lý và khai thác tài nguyên nớc ở đồng bằng
sông Cửu Long và những ngời tiếp tục điều tra nghiên cứu sâu hơn đánh dấu một mốc quan
trọng trên con đờng tìm hiểu và chế ngự mặn xâm nhập ở đồng bằng sông Cửu Long.
Ngoài những mặt tích cực, xâm nhập mặn vốn là hạn chế rất to lớn đối với sự phát triển của
đồng bằng sông Cửu Long. Điều đáng nói thêm là: với yêu cầu phát triển trớc mắt, tình hình mặn
ngày càng trở nên nghiêm trọng và đã bắt đầu bớc vào tình trạng bấp bênh, mất ổn định, có lúc
có nơi trở nên rất bất lợi.
Đối với những vùng vốn bị mặn nhiều trong mùa khô, sự khai thác phát triển còn đang bộc
lộ một số mâu thuẫn, cần nghiên cứu giải quyết hài hòa. Vấn đề tiếp nớc ngọt cho dân sinh;
nớc phục vụ sinh hoạt và cho cảnh quan môi trờng của cộng đồng trong điều kiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trở nên cấp thiết và rất khó giải quyết.
Công việc nghiên cứu về chiến lợc phát triển khai thác vùng mặn còn nhiều việc phải
làm. Công việc điều tra quan trắc tiếp cần đợc chọn lọc cho đúng hớng. Với mức độ hiểu biết
hiện nay về xâm nhập mặn và tác hại của nó mà điều quan trọng lúc này là xây dựng chiến lợc
phòng chống và khai thác hợp quy luật.
Cần đi sâu đề xuất biện pháp cho từng vùng với những đặc điểm khác nhau: vùng thờng
xuyên mặn nhiều, vùng bị mặn một số tháng trong năm, vùng bắt đầu bị đe dọa..., mỗi vùng
much the socio-economic development in Mekong River delta, costal areas especially
64