Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác và phương pháp đàm thoại trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4 - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

VŨ THỊ THU

VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
HỢP TÁC VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI
TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Toán Tiểu học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. PHẠM HUYỀN TRANG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong
khoa Giáo dục tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khóa
luận này.Đặc biệt tôi xin bày tỏ làng cảm ơn sâu sắc đến cô Phạm Huyền Trang –
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã rất cố gắng nhưng do thời
gian và năng lực có hạn nên vẫn chưa đi sâu khai thác hết được, vẫn còn nhiều thiếu
sót và hạn chế. Vì vậy, tôi mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các
thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

1.1.2. Một số vấn đề về phương pháp dạy học hợp tác, đàm thoại. ............................6
1.1.3. Một số vấn đề về dạy – học giải toán có lời văn ở lớp 4. ...............................19
1.1.4. Đặc điểm tâm lí của HS lớp 4. ........................................................................24
1.2. Cơ sở thực tiễn. ..................................................................................................25
1.2.1. Mục đích..........................................................................................................25
1.2.2. Nội dung. .........................................................................................................26
1.2.3. Phương pháp điều tra. .....................................................................................26
1.2.4. Kết quả điều tra. ..............................................................................................26
CHƢƠNG 2: VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC, PHƢƠNG
PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 4.
...................................................................................................................................31
2.1. Nguyên tắc vận dụng phương pháp đàm thoại và hợp tác trong dạy học giải
toán có lời văn ở lớp 4. ..............................................................................................31
2.1.1. Phải xác định rõ mối quan hệ và nhiệm vụ của GV và HS trong quá trình dạy
học. ............................................................................................................................31


2.1.2. Tạo nhu cầu và hứng thú cho HS. ...................................................................31
2.1.3. Tạo môi trường học tập cho HS có điều kiện thuận lợi để thảo luận trao đổi ý
tưởng của mình vứi bạn bè và GV. ...........................................................................32
2.1.4. GV phải thường xuyên chủ động trong việc điều khiển hoạt động nhận thức
của HS. ......................................................................................................................32
2.1.5. Thường xuyên kiểm tra đánh giá và giúp HS tự kiểm tra đánh giá. ...............32
2.1.6. Coi trọng những kiến thức và kinh nghiệm đã có của người học. ..................33
2.2. Một số biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng dạy học hợp tác và
đàm thoại. ................................................................................................................. 33
2.2.1. Bồi dưỡng một số kĩ năng trong dạy học hợp tác và đàm thoại cho...............33
GV và HS. .................................................................................................................33
2.2.2. Hỗ trợ phương pháp dạy học hợp tác thông qua phiếu giao việc, phiếu hỗtrợ
học tập. ......................................................................................................................35

Trong chương trình Toán ở Tiểu học, giải toán có lời văn là mạch kiến thức tổng
hợp của các mạch kiến thức toán học, bao gồm các loại toán về số học, các yếu tố
đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng. Có thể nói toán có lời văn là cầu nối các
mạch kiến thức này, đặc biệt còn là cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa
toán học với các môn học khác. Thông qua giải toán có lời văn, HS đi sâu vào lập
luận, tìm lời giải với những lập luận chặt chẽ của mình. Giúp HS nâng cao năng lực
suy nghĩ, thúc đẩy HS phát triển sự thông minh sáng tạo, rèn luyện kĩ năng đọc,
viết, diễn đạt, tính toán cho HS và làm cho quá trình rèn luyện tư duy ở HS diễn đạt
một cách tự nhiên, mang lại hiệu quả cao.
Tuy nhiên đó cũng là một nội dung khó, đặc biệt là giải toán có lời văn lớp 4.
Ở lớp 3 các em đã nắm vững cách giải một bài toán có lời văn xong đó chỉ là các
bài toán hợp vận dụng trực tiếp các phép tính, nhưng lên lớp 4 các em được tiếp xúc
với các bài toán điển hình do vậy các em gặp không ít khó khăn và dẫn tới việc giải
sai bài toán. Vì vậy nếu không đổi mới phương pháp dạy học thì có thể dẫn đến tình
trạng truyền thụ một chiều, HS không hiểu cốt lõi của vấn đề. Để giải quyết mâu
thuẫn trên đây người thầy cần tăng cường giao lưu giữa thầy và trò trong quá trình

1


dạy học. GV cần khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho HS
sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những
tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống, nhằm
giúp HS củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những tri thức đã tiếp
thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp HS tự kiểm tra, tự đánh giá
việc lĩnh hội tri thức. Đó là lý do chúng ta cần vận dụng phương pháp đàm thoại
trong dạy học giải toán có lời văn.
Để trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4 đạt được hiệu quả tối ưu thì việc
giao lưu giữa thầy và trò thôi là chưa đủ mà cần phải có thêm sự trao đổi giữa các
HS, các nhóm HS với nhau. Và dạy học hợp tác giải quyết được yêu cầu này trong

trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4 ở Tiểu học.
4. Phạm vi, khách thể nghiên cứu
- Phạm vi: Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng
lại ở việc vận dụng phương pháp hợp tác và đàm thoại trong dạy học giải toán có lời
văn lớp 4.
- Khách thể: Nghiên cứu quá trình dạy học giải toán có lời văn lớp 4.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp hợp tác và phương
pháp đàm thoại trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4.
- Vận dụng phương pháp hợp tác và phương pháp đàm thoại trong dạy học
giải toán có lời văn ở lớp 4.
- Thực nghiệm sư phạm.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp quan sát.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng đúng các biện pháp vận dụng phương pháp đàm thoại và hợp
tác trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4 thì chất lượng dạy học môn học sẽ được
nâng cao.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận khóa luận gồm 3 chương:

3


Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chƣơng 2: Vận dụng phương pháp hợp tác và phương pháp đàm thoại trong
dạy học giải toán có lời văn cho HS lớp 4.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm.

khiển, hoạt động của trò có vai trò tích cực, chủ động – tự điều khiển, tự tổ chức.

5


1.1.2. Một số vấn đề về phƣơng pháp dạy học hợp tác, phƣơng pháp đàm thoại.
1.1.2.1. Phương pháp dạy học hợp tác.
a. Khái niệm phương pháp dạy học hợp tác.
Thuật ngữ “dạy học hợp tác”
Trong cuốn “Lí thuyết phương pháp dạy học” của Đặng Thành Hưng có viết:
Thuật ngữ “dạy học hợp tác” chỉ kiểu dạy học nhằm giúp người học tiến hành học
tập theo chiến lược hợp tác, tức là dạy người học “học tập hợp tác”. Theo đó, các
nhóm nhỏ được tổ chức nhằm thực hiện những phương thức học tập hợp tác của học
sinh, trong đó HS phân chia công việc với nhau, tương trợ nhau, động viên, phê
phán nhau cùng nỗ lực và đóng góp nhằm giải quyết công việc chung của nhóm và
cùng chấp nhận điểm đánh giá chung dành cho nhóm – gọi là nhóm hợp tác.
Theo PGS.TS Trần Kiều và một số tác giả khác, dạy học hợp tác được hiểu
là phương pháp dạy học trong đó lớp học được phân chia thành các nhóm nhỏ từ 4
đến 6 người. Tùy vào mục đích sư phạm hay yêu cầu của các vấn đề học tập mà
nhóm được chia một cách ngẫu nhiên hoặc có chủ định, được duy trì ổn định trong
cả tiết hay thay đổi trong từng hoạt động, từng phần của tiết học, được giao cùng
một nhiệm vụ hay nhiều nhiệm vụ khác nhau, thực hiện trong một thời gian nhất
định để đạt được hiệu quả học tập nhất định.
Theo các tài liệu của dự án phát triển GV Tiểu học, dạy học hợp tác là một
hoạt động trong đó GV tổ chức cho HS hoạt động hợp tác với nhau trong nhóm
nhằm đạt được mục tiêu học tập. Ở đây, dạy học hợp tác lại được hiểu là một hoạt
động mà GV tổ chức cho HS nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập theo nhóm.
Học tập hợp tác.
Dưới đây là định nghĩa về học tập hợp tác của David và Roger Johnson, hai
nhà tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng, những người đã có những đóng góp lớn

và tình đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm thông qua quá trình làm việc được
xây dựng và phát triển một cách tốt đẹp.
b. Đặc điểm và bản chất của phương pháp dạy học hợp tác.
- Đặc điểm.
Dạy học hợp tác phải tạo một quy tắc chung cho một lớp hoặc một nhóm hợp
tác, mọi người đều phải tuân theo quy tắc chung đó một cách bình đẳng.

7


Dạy học hợp tác trên cơ sở khai thác tốt các nội dung dạy học và dự tính các
năng lực cá nhân của đối tượng HS.
Dạy học hợp tác dựa trên cơ sở là tính đa dạng (không đồng nhất) của các
đối tượng HS và những quan hệ bình đẳng của các HS trong nhóm.
Dạy học hợp tác phải đảm bảo sự tham gia tích cực của tất cả các đối tượng
HS.
a. Về phía HS.
Thông qua hoạt động nhóm, HS có thể cùng làm với nhau để hoàn thành
những công việc mà một mình không thể tự mình hoàn thành được trong một thời
gian nhất định.
Trong dạy học hợp tác theo nhóm, HS có cơ hội bộc lộ và thể hiện mình về
các mặt giao tiếp, làm việc hợp tác… cũng như có cơ hội rèn luyện, phát triển các
kĩ năng về các mặt đó. Đặc biệt, một số em HS có những nhược điểm nhút nhát hay
khả năng diễn đạt kém… sẽ có điều kiện rèn luyện, tập dượt, từng bước khắc phục
nhược điểm, khẳng định được mình trong tập thể.
Dạy học hợp tác theo nhóm tạo điều kiện cho HS học hỏi lẫn nhau, hình
thành và phát triển các mối quan hệ qua lại trong các em góp phần đem lại bầu
không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập.
Hiệu quả của hoạt động nhóm phụ thuộc vào hoạt động của từng thành viên
trong nhóm. Nếu có HS nào có thái độ xấu, bất hợp tác hay quá yếu kém, không

nhóm trưởng nếu cần. Các thành viên trong nhóm sẽ thay phiên nhau làm nhóm
trưởng. Sự lãnh đạo của nhóm trưởng là rất quan trọng. Nhiệm vụ chính của nhóm
trưởng là phát huy tinh thần trách nhiệm và những sáng kiến của các thành viên.
Dưới sự chỉ huy, điều khiển của nhóm trưởng, các thành viên trong nhóm sẽ giúp
nhau giải quyết vấn đề trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả là việc
của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của lớp.
- Phân loại nhóm.
a. Phân loại dựa vào số lượng: gồm có nhóm nhỏ và nhóm lớn.
+ Học tập theo nhóm nhỏ: số lượng HS trong mỗi nhóm ít, cụ thể hai hoặc ba
người hoặc bốn đến sáu người một nhóm.
Ưu điểm: mỗi cá nhân đều phải nỗ lực, đều được giao một nhiệm vụ và toàn
nhóm phải phối hợp với nhau để hoàn thành công việc chung. Thông qua sự hợp

9


tác, nghiên cứu, thảo luận trong nhóm, ý kiến của mỗi cá nhân sẽ được khẳng định,
điều chỉnh hay bác bỏ. Qua đó sẽ tạo được hứng thú và sự tìm tòi trong học tập, tạo
điều kiện cho các em rèn luyện năng lực làm việc theo nhóm.
Nhược điểm: đôi khi gây mất trật tự và có thể vẫn có một số thành viên ỷ lại.
+ Học tập theo nhóm lớn: “nhóm trong nhóm”, hình thức chủ yếu là vòng
tròn bên ngoài bao quanh vòng tròn bên trong. Những người ngồi vòng tròn bên
trong thảo luận một vấn đề nào đó, những người ở vòng tròn bên ngoài quan sát, kết
quả được thu thập, ghi chép sau đó đổi vị trí cho nhau. Loại hình nhóm này ít được
vận dụng hơn.
b. Phân loại dựa vào nhiệm vụ được giao.
Gồm có nhóm đồng việc (tất cả các nhóm đều thực hiện chung một nhiệm
vụ) và nhóm khác việc (mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ khác nhau phục vụ cho
bài học).
- Cách chia nhóm.

khoá, mỗi nhóm gồm những HS có cùng sở trường, hứng thú.
Tóm lại, có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách đều có ưu và nhược
điểm riêng, GV phải cân nhắc dựa vào mục tiêu bài học, loại bài học, không gian
học tập, trình độ, sở trường của HS để chọn cách chia nhóm phù hợp.
- Ưu điểm của phương pháp dạy học hợp tác:
Dạy học hợp tác theo nhóm là một hoạt động tích cực:
+ Đem lại cho HS cơ hội được sử dụng kiến thức và kĩ năng mà các em được
lĩnh hội và rèn luyện, thực hành các kĩ năng tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp..)
Dạy học hợp tác theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối quan
hệ qua lại giữa các HS, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau
trong học tập.
+ Tổ chức cho HS học tập theo nhóm giúp các em nhút nhát, khả năng diễn
đạt kém …có điều kiện rèn luyện, tập dượt. Từ đó khẳng định bản thân trong sự hấp
dẫn của hoạt động hợp tác theo nhóm.
+ Khi dạy học hợp tác theo nhóm, GV có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sự
sáng tạo của HS trong học tập.
+ Cho phép HS được diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình.

11


+ Mở rộng suy nghĩ.
- Hạn chế của phương pháp dạy học hợp tác.
Ngoài những ưu điểm kể trên, dạy học hợp tác còn tồn tại những hạn chế
sau:
Nếu sử dụng dạy học hợp tác theo nhóm một cách tùy tiện, không có sự lựa
chọn thích hợp sẽ không đạt được mục tiêu đề ra.
+ Trong hoạt động hợp tác theo nhóm chỉ có một số em tham gia, số còn lại
ít tham gia hoặc tham gia không tích cực.
+ Nhóm có thể bị lạc hướng hoặc bị một cá nhân làm rối loạn.

các kết quả giúp HS nhận biết ý kiến đúng sai. Sau đó GV khẳng định giải pháp tối
ưu để giải quyết vấn đề bài học.
- Bàn ghế HS cần được thiết kế phù hợp với hoạt động nhóm, dễ di chuyển.
Ngoài ra cần phải có đầy đủ phiếu học tập. tranh,…phù hợp với yêu cầu thảo luận.
Có được những trang thiết bị phục vụ học tập trên thì việc thảo luận thành công
hơn.
1.1.2.2. Phương pháp dạy học đàm thoại.
a. Khái niệm phương pháp dạy học đàm thoại.
Là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời hoặc có thể
tranh luận với nhau và cả GV, qua đó lĩnh hội được nội dung bài học.
b. Đặc điểm và bản chất của phương pháp dạy học đàm thoại.
- Đặc điểm.
+ Phân loại: Tuỳ theo cơ sở để phân loại , nên có những phương pháp đàm
thoại sau:
- Dựa vào mục đích dạy học mà phân ra đàm thoại gợi mở, đàm thoại củng
cố, đàm thoại tổng kết, đàm thoại kiểm tra.
+ Đàm thoại gợi mở là phương pháp GV khéo léo đặt câu hỏi hoặc một
chuỗi câu hỏi nhằm dẫn dắt HS giải quyết một câu hỏi cơ bản, từ đó rút ra kết luận,
nhờ vậy mà họ lĩnh hội tri thức mới.
+ Đàm thoại củng cố là phương pháp GV khéo léo đặt ra một câu hỏi hoặc
hệ thống câu hỏi nhằm giúp HS củng cố những tri thức cơ bản hoặc giúp họ mở
rộng, đào sâu những tri thức đã thu lượm được.

13


+ Đàm thoại tổng kết là phương pháp vấn đáp nhằm giúp HS khái quát, hệ
thống hoá những tri thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất
định.
+ Đàm thoại kiểm tra là phương pháp vấn đáp nhằm kiểm tra những tri thức

-Theo mục đích dạy học có thể phân ra câu hỏi định hướng, câu hỏi gợi mở.
- Dựa theo chức năng, có thể phân ra câu hỏi phân tích - tổng hợp, câu hỏi so
sánh, đối chiếu, câu hỏi hệ thống hóa tri thức, câu hỏi đòi hỏi sự cụ thể hóa tri thức.
- Dựa theo mức độ tính chất hoạt động nhận thức của HS, có thể phân ra câu
hỏi giải thích, minh họa, câu hỏi tái hiện, câu hỏi có tính vấn đề.
Câu hỏi có tính vấn đề là câu hỏi tạo cho HS gặp phải một tình huống có vấn
đề, nghĩa là gây nên trạng thái tâm lí khi gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết và
điều chưa biết nhưng muốn biết. Câu trả lời cho câu hỏi có tính vấn đề chưa có
trong tri thức đó của HS, tạo nên tri thức mới. Để có tri thức đó, cần phải có hành
động trí tuệ nào đó một quá trình tư duy có chủ đích nhất định.
Với những điều kiện sau, câu hỏi trở thành câu hỏi có tính vấn đề:
- Câu hỏi phải có mối liên hệ logic với những khái niệm đã lĩnh hội được
trước đây và những tri thức phải đặt trong tình huống nhất định.
- Câu hỏi phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, câu hỏi phải gây nên sự ngạc
nhiên, điều nghịch lí khi đối chiếu điều đã biết từ trước đối với điều đang học và
không thỏa mãn với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trước đây và xuất hiện nhu cầu phải
lĩnh hội tri thức mới để giải quyết câu hỏi đang đặt ra.
- Kĩ thuật đặt câu hỏi:
Việc sử dụng phương pháp đàm thoại phụ thuộc vào kĩ thuật đặt câu hỏi của
GV. Biết đặt câu hỏi và tăng dần tính phức tạp, tính khó khăn của câu trả lời là một
trong những kĩ năng sư phạm quan trọng và cần thiết đối với GV.
Kĩ thuật đặt câu hỏi phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Trong tình huống học tập nhất định GV phải đặt câu hỏi như thế nào để đòi
hỏi HS phải tích cực hóa tài liệu đã lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của
tri thức đã học.

15


- Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi HS tái hiện tài liệu đã lĩnh hội mà phải


+ Trong cùng một nội dung nếu đặt câu hỏi chỉ theo một hình thức nhất định
sẽ hạn chế sự linh hoạt trong suy nghĩ của HS và giờ học dễ trở nên nhàm chán.
c. Cách tổ chức hoạt động của HS trong công tác đàm thoại:
Theo Nguyễn Ngọc Quang có thể nêu 3 phương án:
- Phương án 1: GV đặt ra những câu hỏi nhỏ riêng rẽ, chỉ định từng HS trả
lời (hoặc để HS tự nguyện trả lời). Mỗi HS trả lời một câu. Tổ hợp các câu hỏi (H)
và đáp án (Đ) là nguồn cung cấp thông tin mới cho cả lớp.
- Phương án 2: GV nêu trước lớp một câu hỏi tương đối lớn, thường kèm
theo những gợi ý liên quan đến câu hỏi. GV để cho HS lần lượt trả lời từng bộ phận
của câu hỏi lớn, người sau bổ sung, hoàn chỉnh thêm câu trả lời của người trước. Cứ
thế cho đến khi tổ hợp các câu trả lời của HS đủ để giải đáp các câu hỏi đã nêu ra
một cách đầy đủ, đúng đắn. Ở đây nguồn thông tin mới cho HS là câu hỏi lớn và tổ
hợp các lời giải đáp bộ phận. Trên thực tế GV có thể thỉnh thoảng nêu thêm những
câu hỏi phụ để định hướng, gợi ý, giúp cho HS tìm câu trả lời.
- Phương án 3: GV nêu ra một câu hỏi chính kèm theo gợi ý nhằm tổ chức
cho HS thảo luận hoặc đặt những câu hỏi phụ để giúp nhau tìm lời giải đáp. Câu hỏi
chính do GV nêu thường kích thích yếu tố tranh luận, chẳng hạn một nghịch lí, một
vấn đề có nhiều giải pháp để lựa chọn. Trước những vấn đề như vậy, ý kiến HS
thường khác nhau, hình thành những nhóm bảo vệ từng loại ý kiến, mỗi nhóm tìm
ra những lí lẽ bảo vệ ý kiến của nhóm mình. GV đưa ra những lời tổng kết hoặc đưa
ra những câu hỏi phụ, hỗ trợ cho HS tự lực đi tới kết luận, tổng kết đoạn hội thoại.
d. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đàm thoại.
Một là: Xây dựng được một hệ thống câu hỏi thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Các câu hỏi phải phù hợp với các loại đối tượng HS, không quá khó hoặc
không quá dễ.
- Mỗi câu hỏi cần có nội dung chính xác, phù hợp với mục đích, yêu cầu nội
dung bài học. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng không mập mờ, khó hiểu hoặc có thể
hiểu theo cách khác.


nhiều chiều GV – HS, HS – HS, HS – GV.

18


1.1.3. Một số vấn đề về dạy – học giải toán có lời văn ở lớp 4.
1.1.3.1. Mục tiêu của dạy học giải toán có lời văn.
- HS biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ.
- Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến ba bước tính, trong đó có
các bài toán: Tìm số trung bình cộng, Tìm phân số của một số, Tìm hai số khi biết
tổng và hiệu của hai số đó, Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó.
- Các em có thể nêu bài toán rồi giải theo sơ đồ cho trước.
1.1.3.2. Nội dung mạch giải toán có lời văn trong chương trình toán lớp 4.
a. Thế nào là giải toán có lời văn?
Bài toán có lời văn: Là những bài tập mà dữ kiện, ẩn số cũng như các quan
hệ giữa chúng được mô tả bằng các tình huống ngôn ngữ (Ngữ nghĩa, cú pháp).
Mỗi bài toán bao gồm 3 yếu tố:
- Dữ kiện bài toán: Là những cái đã cho, đã biết trong bài toán.
- Những ẩn số: Là những cái chưa biết và cần tìm (ở Tiểu học thường diễn
đạt dưới dạng câu hỏi).
- Những điều kiện: Là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số (hoặc giữa cái đã
cho và cái cần phải tìm).
Ở Tiểu học, những tình huống ngôn ngữ trong một bài toán có lời văn
thường là những tình huống thực tiễn rất gần gũi với đời sống hàng ngày. Việc giải
bài toán buộc HS phải phân tích tình huống ngôn ngữ để tìm ra thuật giải.
Giải toán nói chung và giải toán ở Tiểu học nói riêng là một hoạt động quan
trọng trong quá trình dạy và học toán. Khi giải toán, chúng ta thường quan tâm tới
hai vấn đề lớn là: Nhận dạng bài toán và lựa chọn phương pháp giải toán thích hợp.
Thực hành giải toán là rèn luyện kĩ năng cho hai hoạt động nêu trên.
Tùy theo quan điểm của từng tác giả mà vấn đề nhận dạng các bài toán ở

- Các bài toán về tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của chúng.
- Các bài toán về tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của chúng.
- Các bài toán về tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng.
- Toán về tìm số trung bình cộng.
- Các bài toán về quan hệ tỉ lệ.
- Toán về chuyển động đều.
b. Đặc điểm của mạch giải toán có lời văn trong chương trình toán lớp 4.

20


Trích đoạn Mục đích, nguyên tắc thực nghiệm kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status