BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN HỒNG DUẨN
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN BÁ MINH
NGHỆ AN - 2013
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với :
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau Đại học, Khoa Giáo dục, Hội đồng
khoa học trường Đại học Vinh; Các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy
và tư vấn cho tôi trong quá trình học tập và viết luận văn; Đặc biệt tác giả
xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS - TS Nguyễn Bá Minh, người
trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ dẫn cho tôi viết luận văn này.
Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn: Lãnh đạo Sở Giáo dục - Đào
tạo và các phòng ban chức năng của Sở Giáo dục - Đào tạo Nghệ An; Lãnh
đạo Huyện uỷ, HĐND, UBND và các phòng chức năng của huyện Đô Lương;
Lãnh đạo và chuyên viên phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Đô Lương; Cán bộ
quản lý và giáo viên, học sinh các trường THPT Đô Lương 1, THPT Đô
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU......................16
1.2. Các khái niệm cơ bản........................................................................19
1.2.1. Kỹ năng sống..................................................................................19
1.2.2. Giáo dục kỹ năng sống...................................................................21
1.2.3. Quản lý, giải pháp quản lý công tác GDKNS cho học sinh THPT 22
1.3. Một số vấn đề về GDKNS cho HSTHPT..........................................26
1.3.1. Một số đặc điểm tâm lý và tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ
năng
sống
cho
học
sinh
THPT
.....................................................................................................26
1.3.2. Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống cho HSTHPT.......................27
1.3.3. Các kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh THPT......................28
1.3.4. Các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.................34
1.3.5. Các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.......................35
1.4. Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT..........36
1.4.1. Mục tiêu quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh....36
5
1.4.2. Nội dung quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh...37
6
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN...................................74
3.1. Nguyên tắc xây dựng giải pháp.........................................................74
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu.................................................74
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn.................................................75
3.2. Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh ở các trường THPT huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An..........75
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên, học
sinh và phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của kỹ năng sống
và công tác giáo dục kỹ năng sống..............................................75
3.2.4. Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp trong giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT ......................95
3.2.5. Nâng cao vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên trong công tác giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh THPT.........................................98
3.2.6. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường - gia đình và xã hội trong
việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT........................103
3.3. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp quản lý nhằm
nâng cao công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các
trường THPT huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.........................111
Kết luận chương 3..................................................................................115
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................116
1. Kết luận..............................................................................................116
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên, học sinh và
phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của kỹ năng sống và công
tác giáo dục kỹ năng sống..........................................................116
- Nâng cao vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên trong công tác giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh THPT..............................................117
HĐGDNGLL
HSTHPT
HS, SV
KHTN
KNS
LLXH
NGLL
PP
QL
THCS
THPT
TN
TTGDTX
UBND
XH
Ban giám hiệu
Cán bộ giáo viên
Cán bộ quản lý
Cha mẹ học sinh
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Cơ sở vật chất
Giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục
Giáo dục công dân
Giáo dục ngoài giờ lên lớp
Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên trung học phổ thông
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa
học - công nghệ là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2011-2020.
Trải qua 26 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã
hội, đất nước ta cơ bản đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống vật
chất, tinh thần của người dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về
mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ
vững, vị thế và uy tín của của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được
nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn
trong giai đoạn mới. Đối với giáo dục và đào tạo cũng đã đạt được những thành
tựu to lớn và quan trọng trên các lĩnh vực: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và
bồi dưỡng nhân tài. Quá trình toàn cầu hóa cùng với cơ chế thị trường hiện nay
đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội đất nước, trong
đó có giáo dục. Bên cạnh những mặt tích cực của quá trình toàn cầu hóa và cơ
chế thị trường mang lại thì nó cũng bộc lộ những mặt hạn chế, tồn tại. Một
trong những biểu hiện quan trọng là sự thay đổi giá trị và suy thoái đạo đức
nhân cách, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng của một bộ phận
10
dân cư trong đó số lượng thanh thiếu niên là tương đối. Đó cũng chính là nỗi lo
và gánh nặng của gia đình, nhà trường và xã hội.
Một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục nước ta là giáo
dục nhân cách, giáo dục làm người. Tư tưởng, lối sống là biểu hiện của nhân
cách phát sinh, phát triển trong môi trường xã hội, nhà trường và gia đình.
Hiện nay HS, SV đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc lựa chọn
những giá trị phù hợp truyền thống của dân tộc, vừa đáp ứng xu hướng phát
triển của xã hội hiện đại, nhất là việc lựa chọn lối sống, hành vi ứng xử trong
cuộc sống, học tập, công tác và các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh biểu hiện
của những tư tưởng, đạo đức, lối sống tích cực, lành mạnh và hành vi ứng xử
của bản thân cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học
và trong trường; giúp HS, SV trưởng thành nhanh chóng hơn.
Có thể nói, nhà trường được xem là thiết chế giáo dục chính thống, có
vai trò quan trọng trong giáo dục HS, SV về kiến thức, kỹ năng sống một mặt
cũng để có tư tưởng chính trị, đạo đức tốt. Việc dạy học phải bắt đầu từ những
kỹ năng sống gắn với thực tế, tình huống cụ thể và những quy tắc, quy định
văn hóa đạo đức phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi của các em trong nhà trường.
Giáo dục kỹ năng sống cho mọi người nói chung và cho học sinh nói
riêng trở thành vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết và đặt ra cho ngành giáo dục
nhiều thách thức mới. Việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là rất quan
trọng, nhất là đối với các học sinh bậc THPT - lứa tuổi có nhiều thay đổi về
tâm sinh lý và dễ gặp phải những khó khăn, thử thách trước khi bước vào
cuộc sống. Đây cũng là một nội dung thiết thực trong chiến lược giáo dục
toàn diện. Ngay từ đầu năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có
quyết định đưa kỹ năng sống vào giảng dạy đại trà cho tất cả các cấp học.
Tiếp đến, trong năm học 2011 - 2012, Bộ đã có Chỉ thị tăng cường nội dung
12
giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh, bên cạnh các nội dung như giáo dục
đạo đức, pháp luật, an toàn giao thông đã đề ra từ các năm học trước [11].
Song song với việc triển khai những chương trình cụ thể, Bộ Giáo dục
và Đào tạo cũng đã phát động phong trào rộng khắp liên quan trực tiếp đến
việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Đó là phong trào “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2008 - 2013 trong toàn ngành
giáo dục.
Để nâng cao chất lượng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh, phải thực hiện đổi mới toàn diện mà trong đó tất yếu phải có những giải
pháp QL hoạt động này một cách có hiệu quả.
Huyện Đô Lương với 4 trường THPT công lập, là một trong những
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh THPT.
- Khảo sát và phân tích thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh ở các trường THPT huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh ở các trường THPT huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số giải pháp quản lý công tác giáo dục
kỹ năng sống của Hiệu trưởng ở 04 trường THPT công lập huyện Đô Lương ,
tỉnh Nghệ An: Trường THPT Đô Lương 1, Trường THPT Đô Lương 2,
Trường THPT Đô Lương 3 và Trường THPT Đô Lương 4.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
14
Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu nhằm xác lập cơ sở lý
luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng ankét:
- Phỏng vấn trực tiếp:
- Phương pháp quan sát: nhằm thu thập thông tin về các vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, khảo nghiệm sư phạm.
Các phương pháp này được sử dụng đồng bộ nhằm xác lập cơ sở thực
tiễn của đề tài.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý số liệu thu được.
7. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng sống, quản
lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm và chưa phải ứng phó, đương
đầu, cũng có nhiều vấn đề mặc dù đã xuất hiện nhưng chưa mang tính phức
tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong giai đoạn hiện nay nên con người
khó bề đối phó. Muốn thành công và sống có chất lượng trong xã hội ngày
nay, con người nói chung và học sinh nói riêng cần phải có sự hiểu biết về kỹ
năng sống. Giáo dục kỹ năng sống trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ
trong giáo dục nhân cách toàn diện.
Chính vì vậy, nhu cầu vận dụng kỹ năng sống một cách trực tiếp hay
gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao
gồm cả trong Diễn đàn giáo dục cho mọi người, trong việc thực hiện Công
ước quyền trẻ em; trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển, giáo dục
cho mọi người. Kế hoạch hành động DaKar về Giáo dục cho mọi người
(Senegan - 2000) đã đặt ra trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho
người học được tiếp cận với chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp và
kỹ năng sống cần được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục.
17
Gần đây nhất là tuyên bố về cam kết của tiểu ban đặc biệt của Liên
Hiệp quốc về HIV/AIDS (tháng 6 năm 2001), các nước đó đồng ý rằng “Đến
2005 đảm bảo rằng có ít nhất 90% và vào năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên
và phụ nữ tuổi từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông tin, giáo dục và dịch vụ cần
thiết để phát triển kỹ năng sống để giảm những tổn thương do sự lây nhiễm
HIV” (Nguồn: Uniceflife skils).
UNESCO đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn
đề khác nhau liên quan đến kỹ năng sống. Kết quả của dự án là bức tranh tổng
thể các nhận thức, quan niệm về kỹ năng sống mà các nước tham gia dự án
đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng. Dự án chia làm 2 giai đoạn với hai nhóm
nghiên cứu:
Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước về kỹ năng sống. Câu
Trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh
toàn cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm qua trọng của việc
học các kỹ năng sống để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường
kinh tế - xã hội và thiên nhiên. Đặc biệt với HS, SV, việc trang bị KNS càng
trở nên bức thiết, bởi đây là yếu tố không thể thiếu, giúp các em biết định
hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất. Nhận thức được điều đó nên đã có
rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này của
các tác giả: Nguyễn Thanh Bình [3]; Nguyễn Thị Hường, Lê Công Phượng
[22]; Lưu Thị Lịch, Nguyễn Thị Chính, Đoàn Thị Hương [29]; Nguyễn Dục
Quang [33]; Huỳnh Văn Sơn [36]; Lưu Thu Thủy [40]; Nguyễn Quang Uẩn
[43]...
Những năm gần đây đã xuất hiện một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về đề tài quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
THPT [21], [26], [44]. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên
cứu về quản lý công tác giáo dục KNS cho học sinh THPT ở huyện Đô
Lương, tỉnh Nghệ An. Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu về vấn đề này
19
với nguyện vọng góp một phần sức lực và tâm trí nhỏ bé của mình vào việc
nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THPT thuộc
huyện Đô Lương, nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục của huyện nhà ngày
càng phát triển mạnh hơn.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Kỹ năng sống
Kỹ năng sống là khái niệm có nhiều định nghĩa, được sử dụng rộng rãi
nhằm vào mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động. Vào đầu thập kỷ 90 thế
kỷ trước, các tổ chức Liên hợp quốc như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ
cứu trợ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa
LHQ (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho
Có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kỹ
năng sống. Song tựu trung thì kỹ năng sống là những khả năng tâm lí xã
hội của mỗi cá nhân để tương tác với người khác và giải quyết những vấn
đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một cách tích cực, có hiệu
quả. Nói một cách khác, nó còn có khả năng nhận biết và thích ứng với
những vấn đề của cuộc sống của mỗi cá nhân để có cuộc sống an toàn,
khỏe mạnh và hiệu quả. Nó được thể hiện trong hành vi thích nghi và tích
cực của cuộc sống thường nhật.
Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Kỹ năng
sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân. Kỹ năng sống còn
mang tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở
mỗi vùng, miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những kỹ năng sống thích hợp. Nó
chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hoá của gia đình, cộng đồng, dân tộc.
Kỹ năng sống cần thiết đối với thanh thiếu niên để họ có thể ứng phó một
cách tự tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi của bản thân trong giao tiếp, giải
quyết các vấn đề của cuộc sống với mọi người xung quanh, mang lại cho mỗi
21
cá nhân cuộc sống thoải mái, lành mạnh về thể chất, tinh thần và các mối
quan hệ xã hội.
Kỹ năng sống được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và
trải nghiệm của bản thân, nó giúp cho mỗi cá nhân nâng cao năng lực ứng phó
trong mọi tình huống căng thẳng mà mỗi người phải gặp hàng ngày.
1.2.2. Giáo dục kỹ năng sống
Trong thực tiễn giáo dục kỹ năng sống được xem xét dưới 2 khía cạnh
khác nhau:
- Như là một lĩnh vực học tập: giáo dục sức khoẻ, HIV/AIDS. Ở lĩnh
vực này đã tồn tại cách tiếp cận kỹ năng sống từ khá lâu.
- Như là một cách tiếp cận giúp giáo viên tiến hành giáo dục có chất
nhất định. Con người không thể đạt được mục tiêu với tư cách là những cá
nhân riêng lẻ nên QL xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những
nỗ lực cá nhân, hướng tới những mục tiêu chung, mục tiêu của mọi nhà. QL là
nhằm hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục
đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất
nhưng thỏa mãn nhiều nhất.
Theo cách tiếp cận hệ thống thì QL là sự tác động của chủ thể QL đến
khách thể QL (hay là đối tượng QL) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của
con người trong các quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định.
Quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể
quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể
quản lý. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ
23
hởi, phấn khởi đem hết tài lực và trí tuệ của mình để sáng tạo ra giá trị vật
chất và tinh thần cho tập thể tạo ra các tác động.
- Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể,
mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động.
- Chủ thể phải thực hành việc tác động.
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người; còn đối tượng có thể là
một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần
phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động đạt được mục
đích của mình.
Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt
yếu tố liên kết một cách hữu cơ theo một quy luật nhất định trong không gian
và thời gian nhất định. Hệ thống xã hội gồm hai phân hệ đó là chủ thể QL và
khách thể QL.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ,
nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Những
khái niệm trên về QL khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn cho thấy một ý
nghĩa chung: QL là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể QL lên
đối tượng QL và khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng,
các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động
của môi trường. Hoạt động QL phải là sự tác động có định hướng, có mục
đích, có kế hoạch để đưa hệ thống vào một trật tự ổn định, tạo đà cho một sự
phát triển nhanh, mạnh và bền vững.
25
Chúng ta có thể thống nhất với định nghĩa khái quát như sau: Quản lý
là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [39, tr5].
1.2.3.2. Giải pháp quản lý công tác GDKNS cho học sinh
- Giải pháp:
Theo Từ điển tiếng Việt do NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh
xuất bản thì: “Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề nào đó” [31, tr265].
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì: “Giải pháp là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [32].
Như vậy, nói đến giải pháp là chúng ta nói đến những cách thức tác
động nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái
nhất định để đạt được mục đích hoạt động. Giải pháp càng thích hợp, càng tối
ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra và càng
thu được hiệu quả cao. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần hiểu rằng để có được