1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoái hoá khớp là một bệnh hay gặp nhất ở khớp. Tỷ lệ mắc thoái hóa
khớp trong dân số rất cao, đặc biệt ở người lớn tuổi, bệnh thường dẫn đến mất
chức năng khớp và do đó trở thành nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tàn phế ở
người già [47]. Kinh tế đất nước ngày một phát triển, tỷ lệ người béo phì cũng
như người cao tuổi ngày một tăng kéo theo sự tăng nhanh tỷ lệ người mắc
thoái hóa khớp. Tỷ lệ này ở Mỹ được ước tính sẽ tăng 66-100% vào năm
2020 [47]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, 20% người mắc bệnh về
khớp là thoái hóa khớp với tỷ lệ thoái hóa khớp gối là 12,57% trong khi tỷ lệ
mắc bệnh khớp nói chung là 0,3 – 0,5% dân số [9]. Theo điều tra dịch tễ tình
hình bệnh xương khớp trong cộng đồng một số quần thể dân cư ở phía Bắc
Việt Nam năm 2002, bệnh thoái hóa khớp chiếm tỷ lệ cao nhất, ở nông thôn
là 5,7% và ở thành thị là 4,1%. Qua điều tra 2119 người từ 16 tuổi trở lên ở
thành thị cho thấy tỷ lệ có biểu hiện đau xương khớp là 14,9%, trong đó đau
khớp gối chiếm tỷ lệ cao nhất (18,2%) [73].
Để chẩn đoán thoái hóa khớp gối thầy thuốc thường dựa vào các biểu
hiện lâm sàng như đau khớp kiểu cơ học kéo dài, cứng khớp buổi sáng, lạo
xạo khớp… kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng như x quang quy ước,
cộng hưởng từ, xét nghiệm dịch khớp hoặc các kỹ thuật xâm lấn như nội soi
khớp để chẩn đoán thoái hóa khớp gối. Ở những giai đoạn sớm, thoái hóa
khớp thường phát triển âm thầm, rất nhiều biểu hiện bệnh lý đã được phát
hiện nhờ chẩn đoán hình ảnh ngay từ khi chưa có triệu chứng lâm sàng [43].
Trước đây nhiều người cho rằng chỉ cần căn cứ vào các biểu hiện lâm
sàng và x quang quy ước là đủ để chẩn đoán thoái hóa khớp gối, cộng hưởng
từ là đắt đỏ và không cần thiết. Tuy nhiên ngày nay quan điểm này đã dần
thay đổi. Hình ảnh cộng hưởng từ của thoái hóa khớp gối ngày càng được
nghiên cứu kỹ hơn và chứng tỏ chúng có thể cung cấp nhiều thông tin quý
giá, không những phục vụ mục đích chẩn đoán mà còn phục vụ rất tốt việc
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU KHỚP GỐI
1.1.1. Định khu của khớp gối
Là đoạn nối giữa đùi và cẳng chân, được giới hạn phía trên bởi đường
vòng ngang trên bờ trên xương bánh chè khoảng 3 khoát ngón tay và bên
dưới bởi đường vòng qua phía dưới lồi củ xương chày. Gối được chia thành 2
vùng: vùng gối trước và vùng gối sau [5], [16].
1.1.2. Giải phẫu khớp gối
Khớp gối là khớp bản lề do sự tiếp khớp giữa các lồi cầu của xương đùi
và mâm chày và giữa xương bánh chè với diện bánh chè (rãnh ròng rọc) của
xương đùi. Đây là một khớp phức hợp có bao hoạt dịch rất rộng, dễ bị sưng
và phồng to. Khớp gối ở nông nên dễ bị va chạm và tổn thương [5], [16].
Khớp gối là một khớp phức hợp gồm 2 khớp:
- Giữa xương đùi và xương chày (thuộc loại khớp bản lề)
- Giữa xương đùi và xương bánh chè (thuộc loại khớp phẳng)
1.1.3. Mặt khớp
1.1.3.1. Đầu dưới xương đùi
Đầu dưới xương đùi có hai mặt khớp lồi gọi là lồi cầu trong và ngoài,
khớp với hai mặt lõm của đầu trên xương chày. Lồi cầu trong hẹp hơn nhưng
dài hơn lồi cầu ngoài.
Phía trước hai lồi cầu dính liền nhau tạo thành hai má của một hình
ròng rọc, hướng ra trước gọi là diện bánh chè hay rãnh ròng rọc.
Phía sau hai lồi cầu cách xa nhau bởi hố gian lồi cầu.
1.1.3.2. Đầu trên xương chày
trở thành vật chướng ngại chèn ở giữa khớp. Trong động tác duỗi gối quá
mạnh khi cẳng chân đang ở tư thế xoay ngoài hoặc xoay trong, sụn chêm có
thể bị tổn thương. Sụn chêm có ít mạch máu nuôi nên khi tổn thương khó hồi
phục và có thể trở thành một vật chèn không cho khớp gối hoạt động.
1.1.3.4. Xương bánh chè
Xương bánh chè là một xương vừng nằm trong gân cơ tứ đầu đùi. Phần
gân cơ tứ đầu đùi từ đỉnh xương bánh chè chạy xuống dưới gọi là dây chằng
5
bánh chè. Mặt sau xương bánh chè có sụn khớp che phủ và tiếp khớp với hai
lồi cầu xương đùi bằng hai diện khớp, diện ngoài lớn hơn diện trong.
1.1.4. Phương tiện nối khớp
1.1.4.1. Bao khớp
* Màng xơ (hay bao xơ) bọc quanh khớp.
- Về phía xương đùi: bám vào đường viền trên diện ròng rọc, trên hai
lồi cầu và hố gian lồi cầu.
- Về phía xương chày: Bám ở phía dưới hai diện khớp mâm chày.
- Phía trước: bám vào các bờ của xương bánh chè.
- Ở giữa hai xương đùi và xương chày: Bao dính vào sụn chêm nên
chia khớp thành hai tầng: Tầng trên sụn chêm (rất rộng) và tầng dưới sụn
chêm (hẹp hơn).
Khi bị chấn thương mạnh, mảnh sụn chêm có thể bong khỏi xương
chày và bao khớp, đứt mạch nuôi dưỡng và trở thành vật chướng ngại ở khớp
gối.
* Màng (hay bao) hoạt dịch: phủ mặt trong lớp xơ bao khớp nhưng rất
phức tạp.
- Ở trên bám vào xương đùi, ở dưới bám vào xương chày và ở giữa
bám vào sụn chêm, do vậy chia ổ khớp thành hai tầng: trên và dưới sụn chêm.
ngoài, dây sau ở phía trong. Hai dây chằng chéo rất chắc giữ cho khớp gối
không trật theo chiều trước sau.
* Các dây chằng sụn chêm
- Dây chằng ngang gối nối hai sừng trước của hai sụn chêm với nhau.
- Dây chằng chêm đùi trước: là một số sợi của dây chằng chéo trước, đi
từ lồi cầu ngoài của xương đùi đến bám vào sừng trước của sụn chêm trong.
- Dây chằng chêm đùi sau là một số sợi của dây chằng chéo sau đi từ
lồi cầu trong xương đùi tới sụn chêm ngoài.
* Khối mỡ sau bánh chè lấp đầy khoang nằm giữa dây chằng bánh chè
và hố gian lồi cầu xương đùi. Màng hoạt dịch bao bọc khối mỡ này nhô vào
khớp thành hai nếp gọi là các nếp cánh.
7
1.1.5. Màng hoạt dịch
Màng hoạt dịch bao phủ toàn bộ mặt trong của khớp, là một màng
mỏng giàu các mạch máu và mạch bạch huyết. Mặt hướng vào khoang khớp
nhẵn bóng có lớp tế bào biểu mô bao phủ. Các tế bào này có nhiệm vụ tiết ra
dịch khớp. Chất dịch khớp có tác dụng bôi trơn ổ khớp, giảm ma sát giữa các
bề mặt sụn khi cử động khớp và dinh dưỡng trong ổ khớp.
Dịch khớp có tính chất vật lý giống như lòng trắng trứng, có độ nhớt
cao, không màu và trong suốt. Thành phần của dịch khớp chủ yếu là chất
mucin (hyaluronic acid) và các chất dinh dưỡng thấm từ huyết tương. Ở phía
trên của khớp gối, màng hoạt dịch tạo thành những túi thanh mạc khác xung
quanh khớp.
Trong trường hợp màng hoạt dịch thoát vị qua lớp xơ bao khớp hoặc do
các nang bám màng ở quanh khớp bị giãn sẽ tạo nên kén (nang) Baker ở vùng
hõm khoeo (kén hoạt dịch này do Baker mô tả). Kén Baker thường căng và có
thể phình ra, chiếm toàn bộ hõm khoeo, có khi kéo dài đến bắp chân, gây đau,
1.1.6.2. Proteoglycan
Proteoglycan có bản chất là các mucopolysaccarid gắn với một protein
có dạng bàn chải và được gọi là chondromucoprotein (bao gồm chrondroitin
sulfat và keratan sulfat), các đơn vị proteoglycan được tập trung theo đường
nối protein với một acid hyaluronic làm xương sống giống các cành cây.
Proteoglycan chiếm khoảng 4 – 7% trong lượng tươi của sụn, các
proteoglycan phân bố không đồng đều trong sụn. Nói chung, tỷ lệ
9
proteoglycan ít nhất ở lớp bề mặt và tăng dần theo hướng từ bề mặt sụn đến
xương dưới sụn [99].
Hình 2. Tế bào sụn và các sản phẩm của nó [47]
1.1.6.3. Dịch kẽ
Thành phần nhiều nhất của sụn là dịch kẽ, nó chiếm khoảng 60 – 89%
tổng trọng lượng tươi của sụn, tùy thuộc vào nguồn gốc và tính nguyên vẹn
của sụn. Lượng nước trong dịch kẽ nhiều nhất ở lớp bề mặt và giảm dần khi
vào các lớp sâu bên trong [76].
1.1.7. Hình ảnh bình thường của x quang qui ước khớp gối
1.1.7.1. Trên phim thẳng.
* Các lồi cầu xương đùi
- Mặt khớp trước – dưới của các lồi cầu trong và ngoài xương đùi tạo
các hình cong – lồi nằm ở phía trong và ngoài của một đường cong – lõm
nông tạo ra bởi bờ trước – dưới của rãnh gian lồi cầu.
10
hình lên nhau; bóng của lồi cầu trong tròn hơn bóng của lồi cầu ngoài.
* Xương bánh chè tạo một bóng cản quang hình tứ giác.
- Gân cơ tứ đầu đùi xuất hiện là một giải có đậm độ cản quang giống
nước, kéo dài từ vùng trước – dưới đùi đến cực trên của xương bánh chè.
- Vùng có ranh giới không rõ với đậm độ mỡ phía sau gân cơ tứ đầu
đùi là vùng đệm mỡ trên bánh chè, khoang hoạt dịch trên bánh chè chui từ
dưới vào vùng đệm mỡ này.
- Dải có đậm độ nước kéo dài từ cực dưới xương bánh chè tới gai chày
là gân bánh chè.
- Vùng có ranh giới không rõ với đậm độ mỡ phía sau hình ảnh của gân
bánh chè là vùng đệm mỡ dưới bánh chè (đệm mỡ Hoffa).
Hình 4. Đặc điểm giải phẫu khớp gối trên phim x quang nghiêng [84]
* Hình ảnh của các mâm chày chồng hình lên nhau. Lồi xương phía
trước dưới các mâm chày là gai chày, nơi bám của gân bánh chè.
* Một phần đầu trên xương mác bị các lồi cầu xương chày chồng hình.
nhưng phần còn lại của nó và thân xương mác vẫn có thể nhìn thấy.
12
* Khoảng 10% đến 20% số người có một xương vừng nhỏ nằm ở đầu
ngoài cơ dép. Nếu có, nó sẽ có hình hạt đậu cản quang mạnh ngay sau lồi cầu
xương đùi.
1.1.8. Hình ảnh bình thường của cộng hưởng từ khớp gối
Hình 5. Hình ảnh cắt ngang khớp gối trên cộng hưởng từ [88].
Hình 6. Hình ảnh cắt đứng dọc khớp gối trên cộng hưởng từ [88].
Cộng hưởng từ (CHT) không những cho hình ảnh chi tiết về các cấu
14
1.2. BỆNH THOÁI HÓA KHỚP
1.2.1. Định nghĩa bệnh thoái hoá khớp
Thoái hóa khớp (THK) là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm
mất cân bằng giữa tổng hợp và huỷ hoại của sụn và xương dưới sụn. Sự mất
cân bằng này có thể được bắt đầu bởi nhiều yếu tố: di truyền, phát triển,
chuyển hoá và chấn thương. Thoái khớp liên quan đến tất cả các mô của khớp
động, cuối cùng biểu hiện bởi các thay đổi hình thái, sinh hoá, cơ sinh học của
tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hoá, nứt loét và mất sụn khớp,
xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn.
1.2.2. Dịch tễ học bệnh thoái hóa khớp
THK là một trong những nguyên nhân lớn nhất gây ra tàn phế nhất là ở
người lớn tuổi. Ở các nước đang phát triển THK là bệnh khớp phổ biến nhất,
nguyên nhân hàng đầu dẫn đế tàn phế mà chủ yếu là hậu quả của THK gối
và/hoặc khớp háng [44]. THK gây hậu quả đáng kể về kinh tế do việc điều trị,
điều chỉnh cuộc sống của người bệnh cũng như của gia đình, giảm năng xuất
lao động [32].
Khoảng 13% phụ nữ và 10% nam giới ở tuổi trên 60 có triệu chứng của
THK gối và tỷ lệ này sẽ ngày càng tăng lên do dân số già đi cũng như sự phát
triển của hiện tượng thừa cân trong các cộng đồng [105]. 25% số người trên
55 tuổi có đau khớp gối và 10% cộng đồng này đau khớp gối ảnh hưởng rõ
đến việc đi lại [32]. Tỷ lệ THK gối ở nam thấp hơn nữ, ngoài ra phụ nữ, nhất
là ở lứa tuổi ≥ 55 khi mắc bệnh thường có triệu chứng nặng hơn nam giới
nhất là sau mãn kinh [93]. Trong một tiến cứu có sự tham gia của các nhà lâm
sàng kết hợp với chẩn đoán hình ảnh bắt đầu năm 1996 (sau đó có sự hỗ trợ
của CHT) khi các đối tượng được khám lại vào năm 2007 và 2008 thì tỷ lệ
đau vừa đến nặng ở khớp gối từ 3,7% sau 11 năm đã trở thành 26,7% với tỷ lệ
mắc bệnh cũng như mức độ nặng của triệu chứng cao hơn ở nữ giới [91]. Tuy
16
- Giai đoạn 3: nứt sụn: các
đường nứt kéo dài và phân nhánh đi
sâu vào tổ chức sụn, sụn mất điện
tích âm sâu tới 2/3 chiều dày, tăng tỷ
lệ collagen, các đám tế bào sụn chết,
tái tạo, tăng sinh xuất hiện nhiều
hơn.
- Giai đoạn 4: mất sụn: Lớp
ngoài cùng bong tróc, hình thành
nang, kén trong tổ chức sụn, mất sụn
thành từng ổ sâu từ bề mặt tới vùng
giữa.
- Giai đoạn 5: hở xương: Bề mặt
xương hở xơ hoá, tân tạo xương và
tổ chức sụn xơ, có các đường đứt gẫy
nhỏ ở bề mặt xương.
- Giai đoạn 6: biến dạng
xương: xương tái cấu trúc (bao gồm
cả gai xương). Các đường đứt gẫy đi
sâu xuống dưới được lấp bằng tổ
chức sụn xơ hoặc tổ chức xương mới
[55].
* Tổn thương màng hoạt dịch: Viêm màng hoạt dịch rất hay gặp trong
THK, cả ở giai đoạn sớm và muộn. Bình thường màng hoạt dịch có từ 1 đến 4
lớp tế bào phủ trên một lớp sợi collagen lỏng lẻo có chứa các tế bào mỡ,
cytokine tiền viêm thúc đẩy quá trình dị hóa, thoái hóa sụn và chất căn bản.
Quá trình này làm kích thích gây tăng phản ứng viêm, mô bệnh học màng
hoạt dịch trong THK là hình ảnh không đồng nhất, từ biểu hiện tăng sinh rõ
rệt lớp liên bào phủ và tập trung nhiều lympho và monocyte, đến màng xơ
18
dầy do sự thâm nhiễm cá sợi xơ hóa mạnh. Các biểu hiện này gợi ý rằng trong
THK các tế bào mặt màng hoạt dịch giữ vai trò chủ yếu như là các yếu tố kích
thích tiền viêm.
* Yếu tố cơ sinh học: Trong các hoạt động lao động và sinh hoạt, sụn
cũng như các thành phần khác của khớp phải chịu lực tì nén cũng như các
xung lực, các tác động cơ học đó có thể tạo các vi gãy ở bề mặt sụn, làm suy
yếu các cấu trúc collagen, hư hỏng các cấu trúc proteoglycan. Thành phần chủ
yếu của sụn là collagen type II và một số collagen khác, proteoglycan và tế
bào sụn. Tế bào sụn được nuôi dưỡng bởi sự thẩm thấu chất dinh dưỡng từ
mạch máu ở xương dưới sụn và từ hoạt dịch vào. Các collagen type III, IV,
IX và XI chiếm 10% đến 20% lượng collagen của sụn và bảo đảm sự bền
vững cho collagen type II. Proteoglycan rất ưa nước, có độ keo thấp. Khả
năng thải nước và hút nước khi tăng hoặc giảm tải khiến sụn có khả năng hấp
thu xung lực. Bất thường trong cấu trúc của các protein này sẽ làm giảm chức
năng của sụn và dẫn đến thoái khớp [54].
* Thuyết tế bào: Các chấn thương gây các vi gẫy và quá trình viêm có
thể tạo ra các “mảnh vụn” bình thường được các đại thực bào làm sạch. Đến
một lúc, sự xuất hiện của các mảnh này nhiều hơn khả năng làm sạch của đại
thực bào, lúc này chúng sẽ trở thành các chất trung gian gây viêm, kích thích
tế bào sụn tiết ra các men gây thoái biến. Các phân tử có nguồn gốc từ
collagen và proteoglycan thoái biến cũng được các đại thực bào ở màng hoạt
dịch ăn và chúng tiết ra các cytokine tiền viêm. Cả IL-1 và TNF đều gây tăng
metalloprotease (MMPs). Trong đó các collagenase mà đặc biệt là
collagenase-1 (MMP-1) và collagenase-3 (MMP-13), được cho là có vai trò đi
đầu làm thoái biến collagen type II trong THK. Stromelysin-1 (MMP-3) và
aggrecanase-1 (ADAMTS-4) cũng thể hiện vai trò của chúng trong quá trình
làm thoái biến proteoglycan. Trong môi trường dịch khớp, hoạt động của các
MMP chịu tác động của các yếu tố kích hoạt như cathepsin B và yếu tố hoạt
hóa plasminogen và các yếu tố ức chế của các tổ chức với MMP như các
TIMP. Người ta đã phát hiện sự mất cân bằng giữa các TIMP và các MMP ở
tổ chức khớp thoái hóa [20].
* Vai trò của Nitric oxide: Yếu tố nhân kb (NF-kb), bằng chứng cho
sự hoạt động của gen tiền viêm và NO, đã được phát hiện trong màng hoạt
dịch và dịch khớp của khớp thoái hoá. NO làm chết các tế bào sụn, làm tăng
20
tác dụng ức chế tổng hợp glycosaminoglycan và collagen, tăng tác dụng kích
thích sản xuất metalloproteinase của IL-1, đồng thời ngăn chặn quá trình sản
xuất chất cạnh tranh thụ thể IL-1(IL-1a, một chất ức chế tự nhiên của IL-1).
Ức chế tổng hợp NO đã làm giảm THK ở động vật thí nghiệm. Phương pháp
điều trị THK bằng chẹn hoặc ức chế tổng hợp NO có thể là phương pháp điều
trị THK của tương lai [54].
Sự phát sinh THK gối là hậu quả của nhiều yếu tố toàn thân và tại chỗ
phối hợp với nhau gây ra [105]. Bệnh thường tiến triển nặng dần, dẫn tới tàn
phế và có thể có sự đóng góp của các yếu tố như tuổi cao, di truyền, chấn
thương, lệch trục khớp gối, tăng tải cơ học do béo phì, giảm mật độ xương
[36].
1.2.4. Cơ chế gây đau trong bệnh thoái hóa khớp
Đau khớp gối là triệu chứng mà bệnh nhân THK gối than phiền nhiều
nhất. Do sụn khớp không có hệ thần kinh nên đau có thể theo các cơ chế sau:
tỷ lệ mắc THK gối lên 3,86 lần [26]. Tuổi cao, giới tính nữ, thừa cân hay béo
phì, chấn thương đầu gối, sử dụng khớp gối quá mức, loãng xương, yếu cơ,
lỏng khớp là các yếu tố nguy cơ gây THK gối. Phát hiện các yếu tố này,
khống chế chúng có thể làm giảm nguy cơ THK, ngăn chặn sự xuất hiện của
các triệu chứng cũng như tàn phế sau này [105], [86]. Lực cơ học liên tục đè
nặng lên khớp là một nguyên nhân quan trọng gây THK, tuy nhiên nếu lực đó
là do béo phì thì đây là một trong số ít yếu tố nguy cơ có thể khắc phục được.
Giới tính nữ, học vấn thấp, béo phì, yếu cơ liên quan rất nhiều đến sự xuất
hiện triệu chứng của bệnh cũng như tàn phế sau này [62]. Một số hoạt động
nghề nghiệp (ngoại lai) hoặc hoạt động cá nhân (nội lai) cũng được coi là các
yếu tố nguy cơ. Quỳ và ngồi xổm được coi là hai yếu tố nguy cơ chính trong
loại nguy cơ này [86].
Ngồi xổm thường xuyên có thể dẫn tới THK. Khoảng 40% nam giới và
khoảng 68% nữ giới cho biết họ phải ngồi xổm ≥ 1 tiếng mỗi ngày khi ở tuổi
25. Ngồi xổm kéo dài là nguy cơ gây tổn thương mặt khớp chày đùi khi về già
[104]. Những nghề nghiệp phải ngồi xổm nhiều hơn 2 tiếng mỗi ngày có thể
làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện hình ảnh tổn thương khớp gối mức độ vừa
và nặng trên phim x quang quy ước (XQQƯ). Không đến mức như ngồi xổm
22
nhưng béo phì (dù có hoặc không kết hợp với hội chứng chuyển hoá) cũng
làm tăng nguy cơ xuất hiện hình ảnh THK trên XQQƯ [44]. Chỉ số khối cơ
thể (BMI) và THK gối có mối tương quan tuyến tính và thời gian thừa cân
cũng có vai trò tương tự. 27% số ca phải thay khớp háng và 69% khớp gối có
nguyên nhân là béo phì [44].
Béo phì cũng còn liên quan đến THK ở háng và tay. Có vẻ như tổ chức
mỡ tiết ra một hormon nào đó làm biến đổi chuyển hoá ở sụn. Có ý kiến cho
rằng hệ leptin có thể chính là cầu nối giữa béo phì, cùng những rối loạn
thanh thấp hơn rõ so với nhóm không THK. Thiếu hụt vitamin D tăng nguy
cơ THK gối với OR=2,63 [50]. Có thai nhiều hơn 6 lần cũng làm tăng nguy
cơ THK gối lên 1,95 lần [51].
1.3.
CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN
THOÁI HÓA KHỚP GỐI
1.3.1. Đặc điểm lâm sàng
1.3.1.1. Triệu chứng lâm sàng
* Triệu chứng cơ năng
- Đau kiểu cơ học: đau khớp gối 1 hoặc 2 bên, đau âm ỉ ở mặt trước
hoặc trong khớp gối, đai tăng khi đi lại, lên xuống dốc, ngồi xổm, giảm đau
về đêm và khi nghỉ. Đau diễn biến thành từng đợt, dài ngắn khác nhau và hay
tái phát.
- Hạn chế vận động: bệnh nhân không đi bộ được lâu vì đau, khi bệnh
trầm trọng hơn nhiều bệnh nhân đi khập khiễng, phải dùng gậy, nạng thậm trí
không đi lại được [2], [7], [14].
- Lạo xạo khớp gối khi vận động.
- Cứng khớp buổi sáng kéo dài từ 15 đến 30 phút. Cứng khớp sau khi
nghỉ ngơi cũng thường gặp.
Trong các triệu chứng cơ năng thì đau là triệu chứng hay gặp nhất. Có
khi đau cả hai bên nhưng thường là đau luân phiên từng bên, đau tăng khi vận
động, giảm khi nghỉ ngơi. Đau hay gặp ở vùng trước trong, trước ngoài hoặc
trong khớp, đôi khi lan xuống một phần ba trên cẳng chân, ít khi thấy đau ở
phía sau.
* Triệu chứng thực thể [2], [3], [7], [13].
24
25
các tổ chức trong khớp. Ngày càng có nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ
giữa các tổn thương về cấu trúc với các biểu hiện lâm sàng [100]. Khả năng
chủ yếu của XQQƯ là thể hiện các cấu trúc của xương trong khi CHT có thể
thể hiện rõ tất cả các cấu trúc của khớp bao gồm phần mềm, sụn, tổn thương
tuỷ xương [31].
Các bất thường ở tuỷ xương dưới sụn xác định được nhờ CHT mới đây
đã được coi là một yếu tố tiên lượng cho sự phát triển của THK gối [41]. Rất
nhiều thay đổi về cấu trúc khớp có thể được phát hiện rất sớm nhờ CHT.
X quang quy ước
Cho đến nay, XQQƯ vẫn được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán THK.
Mặc dù là một xét nghiệm đơn giản về kỹ thuật, ít tốn kém song nó vẫn phản
ánh được một phần giải phẫu bệnh học, thực hiện được và phù hợp với hiểu
biết chung của bác sỹ tại nhiều tuyến điều trị.
Các dấu hiệu x quang quy ước trong thoái hoá khớp gối hay gặp là:
- Gai xương
- Hẹp khe khớp
- Xơ xương dưới sụn
- Hốc xương dưới sụn
Bằng các tổn thương trên XQQƯ người ta có thể đánh giá được phần
nào mức độ cũng như giai đoạn của THK. Cho đến nay, hệ thống chia giai
đoạn THK của Kellgren-Lawrence (K/L) (Bảng 1.1) vẫn là hệ thống được sử
dụng rộng rãi nhất. Hệ thống này chia giai đoạn bệnh dựa trên các mức độ của
gai xương, hẹp khe khớp và sự xuất hiện của xơ xương dưới sụn [60].