Đặc điểm lâm sàng, cậnlâm sàng và tế bào học dịch rửa phế quản ở bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát tại Trung tâm Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư phổi (UTP) hay ung thư phế quản là một bệnh ác tính phát triển từ
biểu mô phế quản, tiểu phế quản, phế nang hoặc từ các tuyến của phế quản .
UTP biết đến từ đầu thế kỉ XX, là loại ung thư hay gặp nhất và ước tính
có khoảng 1,38 triệu người chết mỗi năm trên thế giới .
Tại Hoa Kỳ, những ghi nhận mới nhất (2012) cho thấy, UTP có tỷ lệ tử vong
cao nhất ở cả hai giới và tỷ lệ mới mắc đứng hàng thứ hai ở cả 2 giới [3].
Thế giới hiện đại cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các
nghành công nghiệp đều phát triển trong hầu hết các quốc gia, làm gia tăng sự
biến đổi yếu tố môi trường, thay đổi lối sống, góp phần làm tăng mạnh nhiều
loại bệnh trong đó có UTP với biểu hiện lâm sàng ngày càng phong phú.
Mặc dù với đã có nhiều ứng dụng khoa học kỹ thuật cao vào chẩn đoán
UTP, như chụp CLVT lồng ngực, MRI, PET-Scan và PET-CT, định lượng
các kháng nguyên ung thư như CEA, CYPRA 21-1, NSE… Nhưng nội soi
phế quản ống mềm để hút dịch chẩn đoán tế bào học và sinh thiết tổn thương
trong lòng phế quản chẩn đoán mô bệnh học cũng được xem là một phương
pháp hữu ích để chẩn đoán ung thư phổi.
Tế bào học có một vai trò quan trọng trong việc đánh giá ban đầu và
chẩn đoán ở bệnh nhân ung thư phổi. Có rất nhiều phương pháp lấy mẫu tế
bào hiện nay đang được áp dụng bao gồm tế bào đờm, trong chọc hút dịch,
dịch rửa phế quản, chải phế quản. Ngoài ra còn phương pháp lấy tế bào qua
chọc hút kim nhỏ xuyên thành phế quản trong nội soi, qua da dưới hướng dẫn
của CT... Một số kỹ thuật chẩn đoán có độ nhạy và độ đặc hiệu cao áp dụng
được ở những vùng tổn thương mà kỹ thuật khác không làm được như nội soi


2
phế quản có đầu dò siêu âm phối hợp với kỹ thuật chọc hút bằng kim nhỏ...

lệ mắc đứng thứ 2 ở cả hai giới [4].
Năm 2010, ở Hoa Kỳ ước tính có 222.520 người có chẩn đoán UTP bao
gồm 116.750 nam và 105.770 nữ. 157.300 ca tử vong do UTP trong đó
86.220 nam và 71.080 nữ. Ung thư phổi có tỷ lệ mắc ở nam cao hơn so với
nữ. Tỷ lệ mắc là 37,8/100.000 dân ở nam và 23,0/100.000 dân ở nữ [5].
Năm 2013, ước tính có 228,190 ca chẩn đoán mới chiếm 14% tổng số ca
ưng thư được chẩn đoán. Tỷ lệ mắc ở nam đang có xu hướng giảm trong 2
thập kỷ qua nhưng gần đây bắt đầu giảm ở nữ. Từ năm 2005 đến 2009 tỉ lệ
mắc giảm 1,9% mỗi năm ở nam và 0,3% mỗi năm ở nữ.
Ưng thư phổi vẫn có tỉ lệ tử vong cao hơn bất kỳ loại ung thư nào ở cả
hai giới tại Hoa Kỳ và ước tính có khoảng 159,480 ca tử vong do UTP (27%
trong tổng số tử vong do ưng thư) [6].
1.1.2. Tình hình mắc ung thư phổi tại Việt Nam
Theo số liệu về tỷ lệ ung thư ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai
đoạn từ năm 1995 – 1996, và từ đó ước tính chung tỷ lệ mắc ung thư ở Việt
Nam năm 2000, nam giới có khoảng 36.021 người, chiếm tỷ lệ 91,5/100.000


4
dân và nữ giới có khoảng 32.786 người, chiếm tỷ lệ 81,5/100.000 dân. UTP
đứng hàng đầu ở nam giới. Ước tính cả nước hàng năm có khoảng 6.905 ca
UTP mới mắc. Trong số các trường hợp UTP nhập viện, 62,5% không còn
khả năng phẫu thuật [7].
Tại Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai, số các trường hợp UTP
nhập viện tăng đều hàng năm: từ năm 1996 đến năm 1972 có 89 trường hợp
UTP, từ năm 1974 đến 1978 có 186 trường hợp, từ năm 1981 đến 1985 có
285 trường hợp, từ năm 1996 đến năm 2000 có 693 trường hợp, chiếm 16,6%
tổng số các bệnh nhân điều trị, đứng hàng thứ 2 sau bệnh phổi tắc nghẽn [8].
1.2. Các nguyên nhân gây ung thư phổi
1.2.1. Hút thuốc và hút thuốc thụ động

nhiễm môi trường. Người ta nhận thấy rằng UTP phát sinh nhiều hơn ở những
nước có nền công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, trong từng nước tỷ
lệ UTP ở thành thị cao hơn ở nông thôn. Nghiên cứu thực nghiệm và phân
tích hóa học đã chứng minh nguyên nhân sinh ung thư của những chất thải
công nghiệp. Các chất như amiant, niken, crom, thạch tín khí đốt, dầu mỏ làm
tăng nguy cơ UTP [13].
+ Bức xạ
Bức xạ ion có thể gây ung thư ở tất cả các cơ quan trong đó có UTP.
Người tiếp xúc với nguồn bức xạ, bụi phóng xạ hoặc những công nhân làm
việc trong mỏ đất hiếm, mỏ phóng xạ, vận hành các cơ sở hạt nhân có nguy
cơ mắc ung thư phổi Random là sản phẩm phân hủy dạng khí của Uranium
238 và Radium 226 hủy hoại mô của phổi do phát ra những hạt anpha gây ung
thư phổi [14].


6
+ Bệnh phổi phế quản lành tính
Khí phế thũng, viêm phế quản mạn, xơ hóa phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính, lao phổi cũng được chứng minh làm tăng nguy cơ ung thư phổi [15].
+ Hơn 100 nghiên cứu đã cho thấy rằng chế độ ăn nhiều rau xanh, trái
cây làm giảm rõ rệt nguy cơ ung thư phổi. Vitamin A và E liên quan đến sự
gia tăng ung thư phổi.
+ Gen p53, p16ink4a - CyclinD1- CDk4 - RB và ung thư phổi
Gen p53 nằm trên cành ngắn của nhiễm sắc thể 17. Gen này mã hóa tổng
hợp protein p53, protein này có ở trong nhân của mọi tế bào với hàm lượng rất
ít nó có vai trò điều hòa và kiểm tra việc phân chia của tế bào. Nó giúp sửa
chữa những ADN bị tổn thương hoặc ngăn cản những ADN bị tổn thương
không phân chia, khi không sửa chữa được các ADN bị tổn thương thì thúc đẩy
tế bào chết theo chương trình. Các tác nhân hóa học gây biến đổi gen gây lên
sự mất kiểm soát việc phân chia của tế bào dẫn đến các tế bào ung thư phân

vào do khí quản bị hẹp bởi khối u trong lòng phế quản hay khối u,
khối hạch đè từ bên ngoài vào.
- Đau ngực là triệu chứng chính đứng thứ ba sau ho khan ho ra máu. Đau
có cảm giác căng tức ngực, có khi đau giống như đau thần kinh liên sườn dễ
chẩn đoán nhầm và điều trị như đau thần kinh liên sườn. Đối với ung thư ở
ngoại vi, đau ngực là do khối u xâm lấn thành ngực màng phổi, xương sườn.
- Hội chứng nhiễm trùng phế quản - phổi cấp: Bệnh nhân UTP có thể
nhập viện trong bệnh cảnh của Viêm phổi, áp xe phổi xuất hiện sau chỗ hẹp
phế quản do u chèn ép. Bệnh nhân thường có sốt, đau ngực, ho khặc đờm, lâm
sàng thấy hội chứng đông đặc.


8
1.3.2. Triệu chứng toàn thân
Bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng, hầu như không có triệu chứng cho đến
khi tình cờ phát hiện nhân dịp kiểm tra sức khỏe hoặc đi khám bệnh vì một
bệnh khác.
- Sốt: Dao động xung quanh nhiệt độ 38°C, cũng có khi gặp trường hợp
sốt cao trong bệnh cảnh của viêm phổi.
- Gầy sút cân không rõ nguyên nhân.
- Mệt mỏi là triệu chứng thường gặp trong rất nhiều bệnh, và thường dễ
bị bỏ qua.
1.3.3. Triệu chứng thực thể
Hội chứng đông đặc, hội chứng ba giảm hay hội chứng hang, hội chứng
do xẹp phổi trên lâm sàng có khi chỉ thấy hội chứng tràn dịch màng phổi khi
dịch nhiều, dịch máu, tái phát nhanh.
- Hội chứng đông đặc: Trên lâm sàng hội chứng đông đặc biểu ở một
vùng phổi do khối u phát triển gây kết đặc nhu mô phổi. Hội chứng đông đặc
kết hợp với sốt kéo dài, ho ra máu, đau ngực rất dễ nhầm với viêm phổi.
- Hội chứng ba giảm: Trong ung thư phế quản, nhiều trường hợp biểu

mà phải dùng các thuốc giảm đau có opium.
- Chèn ép thần kinh giao cảm cổ - hội chứng Claude – Bernard – Horner:
gây đồng tử co nhỏ, khe mắt hẹp, nhãn cầu lõm, gò má đỏ bên tổn thương.
- Ngoài ra còn thấy chèn ép thần kinh giao cảm lưng gây tăng tiết mồ hôi,
chèn ép dây phế vị gây hồi hộp, tim đập nhanh. Chèn ép dây hoành gây nấc.
1.3.4.4. Tràn dịch màng phổi, màng tim
- Do khối u di căn hoặc xâm lấn trực tiếp, người bệnh có cảm giác đau
ngực, khó thở và triệu chứng như suy tim phải. Siêu âm tim, siêu âm màng phổi


10
có hình ảnh tràn dịch màng phổi, màng tim. Chọc tháo dịch màng phổi, màng
tim thường là dịch máu đen làm cell block có thể tìm thấy tế bào ung thư.
1.3.4.5. Chèn ép ống ngực gây tràn dưỡng chấp màng phổi.
1.3.5. Triệu chứng di căn của ung thư
Di căn là biểu hiện bệnh lý hay gặp và là các triệu chứng thường xảy ra
vào giai đoạn muộn của ung thư nói chung cũng như ung thư phế quản nói
riêng. Đây là những dấu hiệu cho tiên lượng xấu.
- Di căn hạch: Là thể di căn theo đường bạch mạch.
Biểu hiện là di căn vào hạch, hạch bạch huyết ở ngã ba khí quản, hạch
vùng cựa phế quản thùy, phân thùy. Di căn hạch thượng đòn 1 hoặc 2 bên với
tính chất hạch chắc, căng di động hoặc dính vào tổ chức dưới da.
- Di căn não: Là di căn hay xảy ra sớm biểu hiện nhức đầu, buồn nôn
thay đổi tính tình thay đổi ý thức, liệt vận động. Di căn não gặp 7,4 - 29% các
trường hợp [20], [21].
- Di căn gan: Đau tức vùng gan, gan to bề mặt lổn nhổn, phát hiện nhờ
siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính. Di căn gan chiếm từ 1,9 - 39%.
- Di căn xương: Có thể gặp ở bất kỳ xương nào nhưng thường thấy ở
xương dẹt, như xương chậu, xương sườn. Di căn xương sườn và di căn cột
sống chiếm tỷ lệ khá cao Padley S và Mac Donal thấy có 29,4% có di căn

hormone) được biến đổi thành 40 và 44 - aminoacid peptid chất này gắn vào
thụ thể ở tuyến yến làm tăng sinh hormone tăng trưởng.
- Hội chứng vú to ở đàn ông: Chiếm 3% ung thư phổi có biểu hiện vú to
ở đàn ông do khối u tiết lạc chỗ HCG (Human chorionic gonadotropin) và
estrogen. HCG kích thích tế bào leyding ở tinh hoàn làm cho chúng tăng tiết
estrogen. Sau khi cắt bỏ khối u vú to sẽ trở về bình thường trong 3/4 các
trường hợp.


12
- Hội chứng Carcinoid: U Carcinoid chiếm từ 85% - 95% tất cả những
adenom của phế quản. Biểu hiện lâm sàng đặc trưng bởi các biểu hiện là các
cơn giãn tiểu động mạch, mao mạch tột độ ở trên mặt và phần trên ngực. Hội
chứng Carcinoid có thể để lại các vết tích dưới dạng giãn mạch ở mặt hay
dạng ban xuất huyết kèm theo đi lỏng, những đợt sốt và những cơn hen phế
quản. Biểu hiện tim mạch thường xuất hiện các cơn nhịp nhanh có thể có cả
bệnh van tim mắc phải.
- Tăng hormon sinh dục LSH và FSH.
1.3.6.2. Hội chứng huyết học
Các hội chứng huyết học liên quan tới ung thư phổi đều không đặc trưng
cho tiết hormone lạc chỗ do các hormon lạc chỗ này đều không được phát
hiện ở các khối u phổi.
- Tăng hồng cầu do tăng EPO (Erythropoietin) từ hậu quả của việc giảm
oxy, ảnh hưởng tới tổng hợp các chất EPO hoặc chất giống EPO hoặc làm
giảm chuyển hóa của bản thân EPO.
- Thiếu máu: Là triệu chứng của một số khối u có chảy máu mạn tính,
thay đổi hấp thu một số vitamin B6 và B12 ở ruột và tăng phá hủy hồng cầu
hoặc giảm tạo hồng cầu.
- Đông máu nội mạc rải rác: Đặc thù cho các u biểu mô, ung thư bạch cầu và
u lympho (đặc biệt bạch cầu cấp dòng tiền tủy bào). Thông thường đông máu nội

dấu hiệu đặc trưng của hội chứng Pierre – Maire.
Ngoài hội chứng cận ung thư còn biểu hiện ở thận gây viêm cầu thận
tăng sinh màng, gây rối loạn tiêu hóa, các tổn thương ngoài da như herpes
zoster, vảy nến, ban đỏ, rụng tóc, rậm lông.


14
1.4. Các phương pháp cận lâm sàng trong chẩn đoán ung thư phổi.
1.4.1. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
Các thăm dò chẩn đoán hình ảnh có vai trò đặc biệt quan trọng trong
chẩn đoán, xếp giai đoạn và tiên lượng UTP, tuy nhiên chúng có vai trò và chỉ
định khác nhau sau đây chúng tôi xin trình bày khái quát một vài phương
pháp ứng dụng trên lâm sàng.
1.4.1.1. Xquang phổi chuẩn
Xquang phổi chuẩn: Cùng với lâm sàng, chụp Xquang phổi chuẩn có vai
trò quan trọng trong chẩn đoán cũng như phân biệt tính chất lành tính hay ác
tính của một tổn thương. Tính chất lành tính hay ác tính dựa vào một số triệu
chứng như: Vị trí, hình thể, bờ, đặc điểm vôi hóa, hang hóa, thời gian nhân
đôi khối u, tiến triển của tổn thương trong 2 năm có vai trò lớn nhất. Biểu
hiện trên Xquang của UTP rất đa dạng, thường là khối mờ ở phổi, bờ không
đều, có hình ảnh chân cua có khi kèm theo hình ảnh di căn hạch, đông đặc
phế nang, tràn dịch màng phổi, xâm lấn phá hủy xương sườn.
*Những dấu hiệu trực tiếp [23].
- Hình ảnh nốt, đám mờ trên phim Xquang phổi chuẩn cho phép phát
hiện những nốt mờ đơn độc hoặc hình nhiều nốt mờ có đường kính ≥ 10mm.
- Khối rỗng, vách đặc, bờ ngoài không đều.
- Dấu hiệu hình bóng Felson: Trong trường hợp u nằm ở thùy giữa phổi
phải hoặc thùy lưỡi phổi trái, cùng bình diện với tim, khối dường như dính
liền và không thấy hình ảnh bờ viền ngăn cách với tim (dấu hiệu hình bong
dương tính). Khi thấy hình ảnh đám mờ chồng lên hình ảnh của tim, chứng tỏ



16
+ Tràn dịch màng phổi nhiều :Mờ toàn bộ một bên ngực.
Những dấu hiệu gợi ý tràn dịch màng phổi do nguyên nhân ung thư bao gồm:
+ Tràn dịch màng phổi kèm theo xẹp phổi: khí quản, trung thất, bị kéo
lệch về bên phổi có tràn dịch màng phổi.
+ Tràn dịch màng phổi trên những người hút thuốc lá, thuốc lào > 15
bao-năm, có kèm theo các biểu hiện của hội chứng cận ung thư…
1.4.1.2. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CT: Computed Tomography)
Trên phim chụp CLVT có thể xác định được vị trí, mật độ, cấu trúc, sự
phát triển, xâm lấn, mức độ lan tràn của tế bào ưng thư vào hạch trung thất, di
căn xa và góp phần xếp loại giai đoạn bệnh (TNM) với độ nhạy 70- 90%, độ
đặc hiệu 60-90% [25].
Các hình ảnh tổn thương của UTP trên cắt lớp vi tính có thể là:
+ Hình nốt hoặc đám mờ: Nốt mờ là những tổn thương mờ dạng nốt có
đường kính ≤ 3cm. Những tổn thương có đường kính > 3 được gọi là đám
mờ. Tỷ trọng tổn thương u phổi thường có tỷ trọng 20 – 40 HU. Mức độ
ngấm thuốc nhiều hơn so với tổn thương dạng kén, hoặc khối u lành tính.
+ Hình ảnh phế quản hơi: Trên phim chụp CLVT lớp mỏng, UTP gặp
phổ biến hơn tổn thương lành tính.
+ Hình ảnh hang: Gặp khoảng 10%, có thể gặp trên khối u với bất kỳ
kích thước nào nhưng thường gặp u có đường kính > 3cm, ở ung thư biểu mô
vảy, xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào của phổi, hang thường lệch tâm. Thành hang
dày, đôi khi chứa dịch và những mảnh hoại tử.
+ Hình ảnh lưới - nốt: Trong trường hợp ung thư di căn theo đường bạch mạch.
+ Hình nhiều nốt mờ lan tỏa: Gặp trong ung thư tiểu phế quản phế nang


17


18
Chụp cộng hưởng từ hạt nhân không vượt trội hơn chụp CLVT trong chẩn
đoán nhưng nó đánh giá khối u vùng đỉnh phổi: với việc xác định xâm lấn
thành ngực, xương sườn, mạch máu, đám rối cánh tay… với độ nhạy và độ
đặc hiệu cao hơn chụp CLVT. Chụp cắt lớp bằng phóng xạ positron(PET:
positron Emisson Tomography): có thể phân biệt u lành với u ác đạt hiệu quả
cao hơn các phương pháp khác.
1.4.2. Nội soi phế quản [26].
Kỹ thuật soi phế quản đã được biết từ đầu thế kỷ XIX. Những bước sơ
khai của soi phế quản trên thế giới bắt đầu từ năm 1928. Năm 1895 Jossep
OD dùng ống kim loại để lấy dị vật ở bệnh nhân bị bạch hầu. Năm 1897
Gustave K dùng ống soi phế quản để gắp một mảnh xương lợn ở phế quản
gốc phải của một bệnh nhân nam 63 tuổi.
Hơn 100 năm nội soi phế quản ống cứng góp phần tích cực vào chẩn
đoán các bệnh lý ở phổi-phế quản, ngày nay chỉ sử dụng trong các trường hợp
đặc biệt.
Soi phế quản ống mềm ra đời vào năm 1870 do Jonh Tyndal chế tạo trải
qua gần 100 năm thì đến năm 1964 mẫu ống mềm đầu tiên do Ikeda (Nhật
Bản) phát minh và được hãng Olympus hoàn thiện vào năm 1966.
Ngày nay với sự phát triển của công nghệ khoa học soi phế quản phát
triển với nhiều kỹ thuật cao như siêu âm nội soi, soi phế quản định vị điện tử,
soi phế quản huỳnh quang, nội soi phế quản ảo cho phép pháp hiện tổn
thương và chẩn đoán kết hợp điều trị với độ nhạy và độ đặc hiệu cao.
Ngoài ra người ta còn tiến hành một số phương pháp trong soi phế quản như:
- Sinh thiết phế quản: Khi thấy u trong lòng phế quản người ta tiến hành
sinh thiết khối u bằng kìm sinh thiết đây là phương pháp được đánh giá cao để
chẩn đoán ung thư phế quản.



CA 125.
1.4.4. Chẩn đoán mô bệnh học
Trong các phương pháp chẩn đoán UTP thì chẩn đoán mô bệnh học là
tiêu chuẩn vàng. Việc xác định typ mô bệnh học là rất quan trọng và cần thiết
vì ngoài chẩn đoán xác định, typ mô bệnh học còn giúp nhà lâm sàng lựa
chọn phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh.
- Ung thư biểu mô dạng vảy và biến thể: Các tế bào u có kích thước lớn,
tế bào hình tròn hay đa diện, bào tương rộng, ưa toan hay ưa kiềm nhẹ, nhân
to nhỏ không đều, màng nhân dày, chất nhiễm sắc thô, hạt nhân to và rõ, có
thể thấy hình nhân quái và nhân chia không điển hình. Các tế bào u cho thấy
sự sừng hóa và hoặc các cầu nối gian bào, xếp thành đám mảng kiểu lát tầng.
Các biến thể:
+ Dạng nhú.
+ Tế bào sáng.
+ Tế bào nhỏ.
+ Tế bào dạng đáy.
- Ung thư biểu mô tế bào nhỏ (UTBMTBN) và biến thể: Các tế bào u
nhỏ (bằng 3-4 lần kích thước lympho bào), bào tương ít, nhân tế bào lớn, chất
nhiễm sắc mịn, không thấy hạt nhân nhưng có nhiều nhân chia. Trong đa số
các trường hợp tế bào u phát triển thành dải hoặc dây bám vào nền liên võng
hoặc bao quanh các mạch máu có thành mỏng. Sự liên kết giữa các tế bào
lỏng lẻo, các tế bào thường phân tán, xâm nhập vào nhu mô phổi, đặc điểm
này giải thích tính chất ác tính của UTBMTBN.
Các biến thể là ung thư biểu mô tế bào nhỏ phối hợp


21
- Ung thư biểu mô tuyến: Các tế bào u gợi hình ảnh cấu trúc tuyến, tế
bào hình khối vuông, trụ hay dạng trụ, nhân tế bào có xu hướng lệch về đáy,
chất nhiễm sắc mịn, ít nhân quái nhân chia và có sản sinh chất nhầy, các tế

chiếm khoảng 10% của khối u.
- Ung thư biểu mô với các thành phần đa hình thể, sarcome và dạng
sarcome.
- Ung thư biểu mô dạng tuyến nước bọt.
- U carcinoid: Đặc điểm là các hình thái phát triển như cách sắp xếp
dạng cơ quan, bè, đảo, đậu, giống hoa hồng gợi ý sự biệt hóa thần kinh nội
tiết. Thêm vào các hình thái đó có thể có các hình thái nhú, nang, tuyến gồm
hai loại:
+ U carcinoid điển hình.
+ U carcinoid không điển hình.
- Ung thư biểu mô không xếp loại: Là u biểu mô ác tính vẫn còn chưa
xếp loại được, chúng thuộc về loại UTBM tế bào không nhỏ hoặc là ở đó các
bệnh phẩm sinh thiết nhỏ hoặc tế bào học làm cho không thể định typ mô
bệnh học dứt khoát được.
1.4.5. Chẩn đoán giai đoạn
Hệ thống xếp giai đoạn chỉ dựa trên một yếu tố duy nhất đó là phạm vi
giải phẫu của bệnh, các yếu tố khác như triệu chứng lâm sàng, đặc điểm sinh
học phân tử của khối u không được tính đến, sự gia tăng mức độ khối u (T)
phản ánh u lớn hoặc sự phâm lấn nhiều hơn ở ngoại vi (màng phổi tạng, thành
ngực) hoặc nhiều hơn ở trung tâm (phế quản gốc hoặc phế quản phân thùy,
trung thất). Trong UTP, giai đoạn hạch tùy thuộc vào vị trí hạch có di căn
(tương phản với số lượng hạch). Giai đoạn lâm sàng được biểu thị bởi tiền tố
“C”, giai đoạn tổ chức được biểu thị biểu tiền tố “p’’, ngoài ra, UICC còn định
nghĩa hệ thống phân loại cho sự xuất hiện hoặc vắng mặt phần tồn dư của u sau
điều trị [1].


23
Bảng 1.1. Định nghĩa ký hiệu T, N, M theo AJCC và UICC 2009
Phân loại T

T2a
5cm < U ≤ 7cm
U > 7cm
Hoặc xâm lấn trực tiếp vào thành ngực, vòm hoành,
T3 >7
thần kinh hoành, màng phổi trung thất, hoặc màng T3 xâm lấn
tim
Hoặc u ở phế quản gốc cách carina < 2cm. Hoặc T3 trung tâm
xẹp phổi/viêm tắc nghẽn toàn bộ phổi hoặc có T3 trung tâm
những u khác ở cùng thùy
T3 vệ tinh
U có đường kính bất kỳ xâm lấn vào tim, mạch máu T4 xâm lấn
lớn, khí quản, thần kinh quặt ngược, thực quản, thân
đốt sống, hoặc carina. Hoặc có những u khác ở thùy
phổi cùng bên.
T4 khác
thùy, cùng
bên

N : Hạch lympho vùng
N0

Dưới nhóm

Không di căn vào hạch vùng


24

N1

T
T1a,b
T2a
T1a,b
T2a
T2b
T2b
T3
T1-3
T3
T4
T4
T1-4
Bất kỳ

Ký hiệu
N
No
No
N1
N1
No
N1
N0
N2
N1
N0-1
N2
N3
N bất kỳ

các mẫu dịch được quay li tâm trong vòng 5 phút với tốc độ 1500 vòng/phút
Sơ phết 3 - 4 lam kính đựng các tế bào thu được sau li tâm, sau đó được cố
định bằng haematoxylin và eosine. Các tiêu bản được các bác sỹ giải phẫu bệnh
đọc tại khoa giải phẫu bệnh. Những tế bào hình thái ác tính chưa rõ cũng được
xếp vào nhóm có tế bào ác tính. Vai trò của tế bào trong dịch rửa phế quản làm
tăng giá trị trong chẩn đoán các tổn thương ở phổi. Tuy nhiên việc xác định tế
bào ung thư trong dịch phế quản cần chú ý các dương tính giả và âm tính giả do
trong tể bào trong dịch rửa phế quản có nhiều dạng tế bào khác nhau. Các dạng
tế bào gặp trong dịch rửa phế quản có thể là phế bào 2 phản ứng. Các tế bào này
thường chiếm dưới 5% số lượng tế bào bề mặt phế nang và có vai trò quan trọng
trong việc bài tiết chất sunfactan và tái tạo biểu mô phế nang khi bị tổn thương
[29]. Các phế bào typ II là tế bào nhỏ đứng riêng lẻ hoặc thành cụm, tế bào chất
mịn, tỷ lệ nhân và nguyên sinh chất thấp.
Phản ứng của tế bào này khi biểu mô phế nang bị tổn thương như viêm,
tình trạng thiếu oxy… dẫn đến hình thái tế bào không đặc trưng có nhân lớn,
tăng tỷ lệ nhân và nguyên sinh chất, màng nhân không đều và dễ nhầm với tế
bào ung thư dẫn đến chẩn đoán dương tính giả [30]. Các tế bào có chân tăng
sinh lành tính ở đường thở nhỏ gặp trong hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính,viêm nhiễm… Các tế bào này có thể gặp trong dịch rửa phế quản với sự
tăng lượng mucin giống như tế bào ung thư biểu mô tuyến. Ngoài ra còn có
thể gặp các tế bào phế quản tăng sản gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn, lao,


Trích đoạn Triệu chứng lõm sàng Đỏnh giỏ giai đoạn TNM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status