Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nội soi của xuất huyết tiêu hóa trên trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương - Pdf 31

1

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất huyết tiêu hoá là một cấp cứu thường gặp trong nội khoa và ngoại
khoa. Là biến chứng của nhiều bệnh, nó có thể do tổn thương trên đường tiêu
hóa hay ngoài đường tiêu hóa gây chảy máu từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng
thậm trí có thể sốc và tử vong [17], [18], [19].
Tại các khoa hồi sức cấp cứu, tỷ lệ trẻ bị XHTH trên vào khoảng 6-20%
và tỷ lệ tử vong chung 0,4-2% [17], theo Đỗ Văn Niệm tỷ lệ tử vong do XHTH
trên ở trẻ vào khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 1 là 5,7%, trong đó nguyên
nhân hàng đầu gây XHTH trên là bệnh lý dạ dày - tá tràng và biến chứng đáng
ngại nhất trong điều trị bệnh xảy ra do truyền máu khối lượng lớn [17], [18].
Trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ của y học trong việc
chẩn đoán và điều trị XHTH trên ở trẻ em. Với sự xuất hiện của nội soi cấp
cứu đường tiêu hóa giúp cho việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân, vị trí
xuất huyết và điều trị đặc hiệu cho từng bệnh cảnh đã không ngừng được cải
thiện, góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng điều trị bệnh giảm tỷ lệ
các biến chứng và tử vong[17], [58], [85], [86], [96]. Tuy nhiên nội soi cấp
cứu không phải lúc nào cũng thực hiện được, đặc biệt ngoài những giờ hành
chính và đòi hỏi phải có một kíp chuyên nghiệp. Do vậy cần dựa vào lâm
sàng và hầu hết các bệnh nhân được điều trị nội khoa trước khi được thực
hiện thủ thuật [21].
Việc sử dụng các yếu tố lâm sàng và hình ảnh nội soi để tiên lượng tỉ lệ
xuất huyết tái phát và tỉ lệ tử vong là rất quan trọng, từ đó có thái độ điều trị
phù hợp đối với từng bệnh nhân. Đồng thời trên thực tế bệnh nhân xuất huyết
tiêu hóa vào Khoa Cấp cứu thường có mức độ mất máu nặng, cần phải có

1


nhân và người nhà bệnh nhân. Điều may mắn là nó hiếm khi đe dọa đến tính
mạng và thường ngừng hẳn. Mặc dù các nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa trên
vẫn không đổi, nhưng những tiến bộ trong việc điều trị như sử dụng liệu pháp
nội soi cầm máu hay dùng octreotide đã cho những kết quả tốt. Xuất huyết
tiêu hóa trên được xem là một dấu hiệu “cờ đỏ” của tổn thương hệ tiêu hóa và
luôn luôn đặt ra câu hỏi cần phải tìm hiểu rõ nguyên nhân và những biện pháp
điều trị ban đầu [57], [61], [90].
1.1. SƠ LƯỢC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC.

Xuất huyết tiêu hóa trên là cấp cứu về tiêu hóa phổ biến ở trẻ em, bằng
cách sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội soi về nhi khoa kết hợp với phương
pháp nghiên cứu về các kết quả lâm sàng, Bancroft và cộng sự đã xác định được
rằng nôn ra máu chỉ chiếm khoảng 5% (327 trong số 6.337) bệnh nhân có các
chỉ định cho nội soi dạ dày, tá tràng ở trẻ em [59]. Ở trẻ em nhập vịện tại các
khoa điều trị tích cực, xuất huyết tiêu hóa trên phổ biến hơn, có tỷ lệ mắc bệnh từ
6 - 25% [17], [19]. Tuy nhiên, trong nhóm bệnh nhân nặng này, xuất huyết tiêu
hóa trên đe dọa đến tính mạng xảy ra chỉ khoảng 0,4% ở trẻ em [17], [18], [57].
Theo các nghiên cứu ở người lớn, thống kê nguyên nhân gây xuất huyết
tiêu hóa trên ở Việt Nam cũng như trên thế giới cho thấy hay gặp nhất là chảy
máu do loét dạ dày - tá tràng trong đó tỷ lệ loét hành tá tràng cao hơn loét dạ
dày. Theo thống kê của Nguyễn Khánh Trạch tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa do loét
dạ dày tá tràng trên tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa nói chung là 34,56%, Nguyễn
Thị Hòa Bình - 42,1%, Hà văn Quyết - 52%. Nghiên cứu của E.M Vreeburg
3


4

4



1.3. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA TRÊN.

Việc quan trọng đầu tiên là phải xác định các chất nghi ngờ trong chất
nôn hay trong phân chính xác có máu không. Ở trẻ em, nhiều đồ uống và thức
ăn có thể có màu sắc như máu khi trẻ bị nôn ra. Ví dụ thức ăn có màu đỏ, như
được xác định trong thạch hay các loại thức ăn màu đỏ khác như cà chua và
dâu tây, có thể có màu sắc giống máu nhìn thấy khi trẻ nôn ra. Xuất huyết tiêu
hóa trên khi trẻ đi ỉa có thể phân có màu đen. Một lần nữa cần nhắc lại là các
thực phẩm như rau chân vịt, cam thảo và các loại thuốc nhất định như
bismuth và sắt có thể làm cho phân cũng có màu đen. Cần chẩn đoán phân
biệt dựa vào xác định máu có trong dịch dạ dày và trong phân, tốt nhất có thể
sử dụng “kỹ thuật cạnh giường” để xác định hemoglobin (ví dụ như
Hemocult, Gastrocult, SmithKline Diagnostics) hoặc dùng test nhanh Fecal
Occult Blood - FOB để xác định máu trong phân. Nguyên lý ở cả hai sản
phẩm dựa trên sự ôxi hóa của thuốc chiết xuất bằng nhựa cây guaiac bởi nước
ôxi già thành một hợp chất quinone màu xanh. Guaiac là một hợp chất không
màu, chuyển thành màu xanh khi cho tiếp xúc với các chất có hoạt động
peroxidase hóa và sau đó tiếp xúc với nước ôxi già. Loại giấy thí nghiệm
được ngâm tẩm với guaiac, một chất keo tự nhiên được chiết xuất từ gỗ cây
guaiac. Nếu trong phân có chứa máu, thì hoạt động peroxidase hóa của phần
hem của hemoglobin sẽ xúc tác quá trình ôxi hóa của axit guaiaconic khi
nước ôxi già (thuốc tráng) được đổ lên giấy. Quá trình thử nghiệm này đơn
giản và thuận tiện, nhưng có những hạn chế nhất định. Phản ứng oxi hóa
guaiac không đặc hiệu cho máu, nhưng lại đặc hiệu đối với hoạt động
peroxidase hóa. Nhiều loại thức ăn như thịt đỏ tươi và các loại rau nhất định
như dưa hấu, nho, củ cải, cải trắng, xúp lơ và cây bông cải v.v... có chứa đủ
hoạt động peroxidase hóa để sinh ra được một phản ứng guaiac dương tính.
Thật may mắn là các quá trình peroxidases hóa thực vật tương đối không ổn
5

1.5.1. Lâm sàng
1.5.1.1. Tiền triệu:
Thường có các triệu chứng báo trước, đặc biệt ở trẻ lớn như: Đau
thượng vị hoặc ở các điểm khác của ổ bụng, có thể có rối loạn tiêu hoá, hoặc
không đau bụng [3], [4], [5], [11], [25].
6


7

7

Cảm giác cồn cào, nóng bỏng, mệt lả sau uống các thuốc hạ sốt - giảm
đau - chống viêm hay các thuốc khác.
Lúc thời tiết thay đổi, sau gắng sức, hoặc không có một lý do gì tự
nhiên thấy hoa mắt chóng mặt, mệt mỏi, lợm giọng buồn nôn, có thể ngất [3],
[4], [5], [11], [32].
1.5.1.2. Lâm sàng
Nôn ra máu có thể biểu hiện là nôn đột ngột ra máu đỏ tươi và nhìn
chung là do các tổn thương gây chảy máu nhanh. Chất nôn có thể như màu cà
phê, thành cục... do ảnh hưởng tác động của axit dạ dày lên máu, nó thường là
chảy máu chậm hơn và từ một tổn thương gây xuất huyết lành tính hơn. Đặt
sonde dạ dày có máu đỏ tươi hoặc máu nâu đen là một dấu hiệu gợi ý quan
trọng [3], [5], [17], [19], [65].
Đại tiện ra máu đen giống màu hắc ín, mùi khẳn. Màu đen sẫm thường
là do hetamin, sản phẩm oxi hóa của hem sản sinh ra bởi sự lên men của vi
khuẩn đường ruột. Đại tiện ra máu đen cũng có thể do những lượng máu
tương đối nhỏ khoảng từ 50 - 100ml trong dạ dày tá tràng. Đại tiện máu đen
có thể kéo dài 3 - 5 ngày và do đó, không thể chẩn đoán là xuất huyết vẫn
đang diễn ra, số lượng và hình thái phụ thuộc vào mức độ chảy máu.Nói

[23], [60].
Hút dịch dạ dày là một thủ thuật đơn giản và có giá trị chẩn đoán xuất
huyết tiêu hóa trên. Dịch hút có máu cho thấy xuất huyết vẫn đang tồn tại,
thường là ở dạ dày hoặc thực quản, nhưng chưa loại trừ chảy máu từ tá tràng và
đường mật [3], [5], [19], [27], [57].
Trong một cuộc hội thảo quốc gia về xuất huyết tiêu hóa trên ở người
lớn, theo báo cáo của Gibert và các cộng sự, xuất huyết tiêu hóa trên ở người
lớn được xác định có trong 16% bệnh nhân hút dịch dạ dày [57].
Phương pháp trị liệu bằng việc rửa nước muối sinh lí với nước đá
không còn được khuyến cáo. Nghiên cứu được chứng minh là làm chậm quá
trình xuất huyết tiêu hóa trên không hiệu quả ở động vật và có nguy cơ gây ra
hạ thân nhiệt và rối loạn điện giải ở trẻ sơ sinhvà trẻ nhỏ [57], [97].
8


9

9

Sau khi đánh giá nhanh về các dấu hiệu chức năng sống, việc khám xét
lâm sàng kỹ lưỡng và một số xét nghiệm ban đầu có thể đưa ra dấu hiệu của
bệnh, gợi ý nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa trên. Chẳng hạn, các thương tổn
ở ngoài da tương tự với thương tổn mà chúng ta có thể thấy ở đường tiêu hoá
trên. Các phát hiện về da như sao mạch, u mạch hình mạng nhện và vàng da
có thể là biểu hiện rối loạn chức năng gan. Các phát hiện ở ngoài da khác như
u mạch máu và dãn mao mạch có thể là thương tổn ở dạ dày - tá tràng. Ban
xuất huyết thể hiện rõ trên da có thể là ban xuất huyết Schonlein - Henoch.
Khi khám lâm sàng phát hiện gan lách to có thể là triệu chứng của bệnh xơ
gan [5], [14], [57], [71], [73].


1.5.2. Cận lâm sàng.
1.5.2.1. Xét nghiệm
Các xét nghiệm ban đầu nói chung cần phải tính đến [3], [5], [17], [57],[97].
- Công thức máu: Số lượng hồng cầu, số lượng tiểu cầu và hồng cầu
lưới, hemoglobin, hematocrite.
- Thời gian prothrombin và thời gian thromboplastin một phần, Fibrinogen.
- Nhóm máu và phản ứng chéo.
- Các xét nghiệm bổ sung để đánh giá chức năng gan: Men alanine amino
transferase (AST), aspartate amino transferase (ALT), protein và albumin.
- Chức năng thận như ure máu và creatinin máu cũng cần thiết.
Sự tăng bất thường men gan và giảm albumine hoặc tăng protein có thể
chỉ điểm bệnh gan mạn tính gây xuất huyết tiêu hóa trên. Hay các enzym thận
bất thường hay albumin thấp hay proteine tăng có thể là một biểu hiện của
bệnh thận mãn tính. Urê máu tăng có thể là một biểu hiện của xuất huyết tiêu
hóa trên vì có thể là kết quả của việc hấp thu sản phẩm giáng hóa máu của
ruột và giảm thể tích máu lưu thông [5], [57].
Bảng 1.1. Các xét nghiệm cơ bản đánh giá xuất huyết tiêu hoá trên ở trẻ em[57]
Xét nghiệm đánh giá mức độ mất máu
Số lượng hồng cầu, hồng cầu lưới, hemoglobin, hematocrit.
Thời gian prothrombin (PT) và thời gian thromboplastin (APTT), Fibrinogen.
Nhóm máu và phản ứng chéo.
ALT, AST, albumine.
Nitơ máu: Ure, creatinin máu.

11


12

12

13

13

1.5.2.5. Nội soi tiêu hoá.
Nội soi thực quản, dạ dày, tá tràng (EGD) là phương pháp rất có giá trị
hay dùng để đánh giá vị trí xuất huyết tiêu hóa trên [3], [5], [14], [18], [96].
Triệu chứng nôn ra máu được coi là một dấu hiệu rất quan trọng gợi ý
và là dấu hiệu báo trước cho chỉ định EGD [3], [5], [59], [86].
EGD nhìn chung rất cần cho việc đánh giá xuất huyết tiêu hóa trên cấp
tính bắt buộc phải truyền máu hoặc xuất huyết tái phát không xác định được
nguyên nhân [14], [18], [19], [57].
EGD có thể xác định vị trí xuất huyết trên 90% các trường hợp nếu nội
soi trong vòng 24h có biểu hiện XHTH [3], [4], [18], [58].
EGD đặc biệt hiệu quả trong chẩn đoán tổn thương niêm mạc ví dụ viêm dạ
dày, viêm thực quản, loét cơ quan tiêu hóa, hội chứng Mallory - Weiss [65].
Trong một nghiên cứu gần đây về 6.337 trường hợp EGD sử dụng cơ sở
dữ liệu PEDS-CORI, Bancroft và đồng nghiệp đã thấy rằng 20% trường hợp
bị viêm thực quản, 17% bị bất thường niêm mạc dạ dày, 6% loét dạ dày - tá
tràng, 2% hội chứng Mallory-Weiss, và 8% giãn tĩnh mạch thực quản [57],
[59], [90]. Nghiên cứu này khác đôi chút với các báo cáo của các nhóm khác
như Cox và Ament đã báo cáo 20% trẻ em khi EGD bị loét hành tá tràng, 18%
bị loét dạ dày, 15% viêm thực quản, 13% viêm dạ dày, và 10% bị dãn tĩnh
mạch thực quản [59], [64].
Hầu hết xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ em tự cầm một cách tự nhiên; vì
vậy, nội soi cấp cứu chỉ cần thiết khi các phát hiện dự kiến trên nội soi sẽ ảnh
hưởng đến quyết định lâm sàng, chẳng hạn như yêu cầu cần phẫu thuật điều
trị [19], [45], [57], [62].
EGD chống chỉ định khi tình trạng lâm sàng bệnh nhân không ổn định,
ví dụ như bị sốc giảm khối lượng máu, thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc mất máu

Thoát vị hoành
Thoát vị hoành
Dị dạng mạch
Tắc ruột

TRẺ LỚN
Loét dạ dày - hành tá
tràng
Bệnh liên quan đến
tiêu hóa do tăng tiết
axit
Giãn tĩnh mạch thực
quản
Viêm mao mạch dị
ứng
(Schonlein - Henoch)
Bệnh Crohn
Tắc tiêu hoá trên
Tổn thương dieulafoy
và chảy máu đường
mật.
Nuốt chất ăn mòn
Hội chứng Mallory Weiss

1.6.1. Trẻ sơ sinh
Nôn ra máu ngay từ những ngày đầu sinh ra là dấu hiệu cho thấy có
nhiều khả năng máu của người mẹ đã bị trẻ nuốt vào. Thật đơn giản là có thể
chẩn đoán phân biệt đượcmáu của mẹ và máu của trẻ mới sinh khi làm xét
nghiệm tìm hemoglobin của mẹ và trẻ.
Xét nghiệm thực hiện bằng lấy chất nôn hoặc lấy phân (1ml chất nôn

Xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ mới sinh thường đi kèm với tình trạng
bệnh lý nguy kịch như sốc, suy hô hấp hay nhiễm khẩm nặng. Đường tiêu hoá
của trẻ dễ bị tổn thương do niêm mạc bị thiếu máu cục bộ do sốc gây ra,
dosang chấn về thần kinh (stress) gây viêm loét dạ dày và tá tràng. Những
nguyên nhân này có thể gây ra xuất huyết tiêu hóa trên nghiêm trọng [57],
[60], [88].
1.6.2. Trẻ nhỏ
Các sang chấn về thần kinh (stress) có thể gây ra viêm loét dạ dày-tá
tràng và xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ nhỏ trong tình trạng nguy kịch. Tuy
15


16

16

nhiên tình trạng xuất huyết nghiêm trọng trên lâm sàng chỉ xảy ra ở 0,4% đến
2% ở trẻ em nói chung[46], [57], [88], [94].
Bệnh liên quan đến tăng tiết axit gây viêm loét thực quản, viêm loét dạ
dày - hành tá tràng tuy không phổ biến nhưng vẫn xảy ra và có thể gây ra xuất
huyết tiêu hóa trên ở nhóm tuổi này ở mức độ nhẹ hơn. Nôn ra máu là biểu
hiện ít gặp và có thể duy nhất, thường là đi kèm với biểu hiện, ăn kém và nôn
[3], [5], [55], [63], [92], [95].
Các dị dạng ở mạch máu thường xuất hiện trên da và mô mềm trong
suốt thời kì trẻ nhỏ. Các dị dạng có thể là các u mạch máu và dị dạng mạch
máu. U mạch máu là u phổ biến nhất có thể thấy từ 4 đến 12% trẻ em [57],
[64]. Triệu chứng lâm sàng u mạch máu ở ống tiêu hoá rất nghèo nàn, thường
xuất hiện cùng các tổn thương da. Xuất huyết tiêu hóa trên có thể rất nặng,
thậm chí cần truyền máu. Hầu hết các khối u không cần điều trị và sẽ thoái
triển theo thời gian. Khi các tổn thương u máu lớn xảy ra ở nhiều vị trí và

[37], [40], [68], [69], [92], [93].
Viêm dạ dày do vi khuẩn Helicobacter pylori có thể dẫn đến loét dạ dày
- tá tràng gây xuất huyết tiêu hóa mà loét hành tá tràng là phổ biến nhất [9],
[10], [14], [19], [44], [70]. Các trường hợp hiếm gặp hơn là u bạch huyết dạng
lympho liên kết màng nhầy (MALToma) đã xảy ra thứ phát với nhiễm khuẩn
H. pylory, và cũng có thể gây ra xuất huyết tiêu hóa trên [17], [18], [19], [94].
1.7. BỆNH CĂN - BỆNH SINH LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG Ở TRẺ LỚN

Nhiều công trình nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng đã nêu ra
nhiều thuyết về cơ chế bệnh sinh, nhưng cho đến nay bệnh căn - bệnh sinh
của loét dạ dày - tá tràng vẫn chưa được giải quyết rõ ràng và thống nhất.
Ngày nay người ta cho rằng bệnh loét dạ dày - tá tràng là do mất cân
bằng giữa hai nhóm yếu tố: yếu tố gây loét (aggressive factor) và yếu tố bảo
vệ (protective factor) [4], [9], [10], [70].

17


18

18

Hình 1.2. Hình ảnh nội soi loét dạ dày - tá tràng
1.7.1. Vai trò gây bệnh của Helicobacter pylori[4], [9], [10], [22]:
Helicobacter pylori được các nhà khoa học Đức tìm ra từ năm 1875.
Đến 1979 Robin Warren và Barry Marshall (người Australia - giải Noben y
học năm 2005 về việc tìm ra Helicobacter pylori) phân lập được, đến năm
1983 Warren và Marshal nuôi cấy được và chứng minh vai trò gây loét dạ dày
- tá tràng của Helicobacter pylori. Helicobacter pylori là vi khuẩn Gram âm,
hình xoắn, d = 3×5 micrometres, ưa khí, có 4 - 6 roi, sống ở trong niêm dịch

hợp khác khuyến cáo dùng test nhanh ureasecó độ nhạy và độ đặc hiệu cao
hơn [4], [9], [39], [42], [70].

Hình 1.3. Vi khuẩn Helicobacter Pylori dưới kính hiển vi điện tử [4], [22].
Sơ đồ cơ chế viêm loét dạ dày do HP [10]

19


20

20

Sơ đồ cơ chế gây viêm loét HTT bởi HP[10].
Nhiễm HP
Viêm hang vị
Tế bào D giảm tiết Somatostatin
Tăng tiết Gastrin
Tăng tiết HCl
PH dạ dày giảm
PH tá tràng giảm
Dị sản DD
Viêm HTT mạn
Loét HTT
20


21

21

hợp dãn tĩnh mạch là ở thực quản, thứ phát sau tăng áp lực tĩnh mạch cửa, làm
rối loạn dòng chảy trong tĩnh mạch, bề mặt thành mạch máu dãn mỏng nằm
nông ở vùng thực quản ngoại biên dễ vỡ, xuất huyết tiêu hóa trên do dãn tĩnh
mạch tự cầm khoảng 50% bệnh nhân, và có 40% bệnh nhân bị xuất huyết tái
phát [14], [15], [57]. Nguy cơ của xuất huyết tái phát do dãn tĩnh mạch thực
quản là khoảng 40 - 50% [15], [88] [98].
Tùy theo nguyên nhân gây dãn tĩnh mạch thực quản, các biểu hiện lâm
sàng như nôn ra máu là biểu hiện thường gặp nhất hoặc đại tiện ra máu đen, ở
trẻ em ỉa máu tươi ít gặp hơn, nhưng trong các trường hợp dãn tĩnh mạch đã
được điều trị bằng tiêm xơ, tỉ lệ ỉa máu tăng cao hơn. Ở một số trẻ em, đau
bụng lâm râm không điển hình có thể có trước xuất huyết do dãn tĩnh mạch
thực quản trong khoảng 48 giờ [15], [17], [71]. Lách to, xuất hiện ở 80 - 90%
bệnh nhân có tăng áp lực tĩnh mạch cửa, thường mật độ chắc, hình dạng ít
thay đổi và là một dấu hiệu quan trọng. Khi không sờ thấy lách hoặc hình ảnh
lách trên X-quang không to, chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa trên do tăng áp lực
tĩnh mạch cửa phải hết sức thận trọng [15], [17], [18], [19], [98]. Giai đoạn
22


23

23

đầu lách chưa bị xơ, nên co lại nhiều sau mỗi đợt xuất huyết tiêu hóa. Sau đó
lách bị xơ khả năng co hồi kém nên thường xuyên sờ thấy trên lâm sàng. Gan
có thể to hoặc bình thường tuỳ theo nguyên nhân tăng áp lực tĩnh mạch cửa,
cần đánh giá mật độ và bề mặt gan, mật độ mềm thường gợi ý tăng áp lực tĩnh
mạch cửa do tắc tĩnh mạch cửa trước gan giai đoạn sớm, gan mật độ chắc hay
gặp trong xơ gan. Tuần hoàn bàng hệ là tuần hoàn phụ hay phát triển ở những
nơi mà hệ thống mạch máu trong thời kỳ bào thai chúng đã có lúc nối thông

Mạch máu bất thường là nguyên nhân hiếm gặp của xuất huyết tiêu hóa
trên. xuất huyết tiêu hóa trên thể nhẹ được tìm thấy với u mạch máu dạ dày hay
tổn thương Dieulafoy rất hiếm gặp nhưng gây xuất huyết tiêu hóa trên dữ dội
có thể bắt đầu với việc rò động mạch chủ vào thực quản [14], [88], [75].
Rất nhiều nguyên nhân khác gây xuất huyết tiêu hóa trên được phát
hiện ở trẻ em [52]. Chúng có thể là viêm mạch máu dạ dày hoặc tá tràng, như
ban xuất huyết Schonlein - Henoch [14], [18], u nang giả tuyến tụy bị vỡ [14],
[57], và chảy máu từ polyp dạ dày gặp ở trẻ bị bệnh Menkes [14], [57], [88].
Các khối u dạ dày có thể là nguy cơ gây loét và chảy máu, ví dụ như sarcoma
cơ trơn và u quái. Bệnh Crohn liên quan với dạ dày - tá tràng được coi là
nguyên nhân của xuất huyết tiêu hóa trên [14], [19], [57].
1.8. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ MẤT MÁU.

Đánh giá mức độ mất máu rất quan trọng giúp xử trí kịp thời và hiệu
quả nhất nhằm cứu sống tính mạng trẻ, đồng thời giúp tiên lượng gần, xa về
bệnh, có tái phát hay phải can thiệp ngoại khoa không [2], [11], [23].
1.8.1. Triệu chứng sốc mất máu
Mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ, áp lực tĩnh mạch trung tâm hạ và thường
hạ trước huyết áp động mạch. Huyết áp giảm xuống trên 10mmHg so với bình
thường là lượng máu mất khoảng 20% [2], [11].
Chóng mặt, ù tai, vật vã, rối loạn ý thức.
Da niêm mạc nhợt nhạt.
Rối loạn hô hấp: thở nhanh, tím môi, đầu chi.
Khát nước, nhiệt độ hạ, đái ít, vô niệu.

24


25





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status