1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gây mê, gây tê (vô cảm) trong mổ lấy thai là một phương pháp điều trị
đặc biệt vì cùng một lúc phải đảm bảo điều trị cho hai đối tượng là sản phụ và
thai nhi, nhất là khi mổ lấy thai được xem như một điều trị cấp cứu. Sự lựa
chọn phương pháp vô cảm cho mổ lấy thai là tổng hòa sự cân bằng giữa mong
muốn của bệnh nhân với rủi ro và lợi ích của kỹ thuật cho mẹ và con. Như
vậy, yêu cầu đặt ra cho các nhà gây mê sản khoa là: (1) Đảm bảo tính mạng,
sức khỏe và sự hài lòng cho mẹ; (2) Đảm bảo tính mạng cho thai nhi và sự
phát triển lâu dài cho con; (3) Thuận lợi tối đa cho phẫu thuật viên tiến hành
cuộc mổ [1].
Hiện nay có hai phương pháp vô cảm trong mổ lấy thai là gây mê toàn
thân và gây tê vùng. Gây mê toàn thân trong mổ lấy thai có các yếu tố nguy
cơ cao như tình trạng dạ dày đầy, thay đổi của hệ hô hấp và tuần hoàn của sản
phụ; do vậy có thể có các tai biến trong gây mê cho mổ lấy thai như: đặt nội
khí quản (NKQ) thất bại và không thông khí do nội khí quản khó, trào ngược,
chấn thương răng, nôn và buồn nôn sau đặt ống, ức chế sơ sinh do thuốc mê.
Gây tê tủy sống (TTS) là một trong những biện pháp gây tê vùng được áp
dụng phổ biến trong mổ lấy thai vì tránh được các tai biến do gây mê trên sản
phụ và sơ sinh; là phương pháp đơn giản, khởi phát nhanh, tỷ lệ thất bại thấp,
liều lượng thuốc tối thiểu, giảm đau, vô cảm và giãn cơ tốt trong phẫu thuật,
quá trình theo dõi hậu phẫu đơn giản, mẹ tỉnh táo được chứng kiến sự ra đời
của đứa trẻ, mẹ và con tiếp xúc với nhau sớm và đứa trẻ được bú sớm [2]
Bên cạnh những ưu điểm trên, TTS trong mổ lấy thai còn có những
nhược điểm nhất định. Một trong những biến chứng thường gặp nhất là tụt
huyết áp (HA). Theo tác giả Kang và Caritit tỷ lệ này là 90% nếu bệnh nhân
2
TỔNG QUAN
1.1. LỊCH SỬ.
1.1.1. Lịch sử gây tê tủy sống.
Gây tê tủy sống là một kỹ thuật đã có từ lâu đời. Năm 1885, J. Leonard
Corning nhà thần kinh học người Mỹ đã phát hiện tác dụng làm mất cảm giác và
vận động hai chi sau của chó khi ông tiêm nhầm Cocain vào khoang dưới nhện
trong một lần làm thực nghiệm. Kỹ thuật này đã được Corining mô tả rất kỹ. So
với hiện nay kỹ thuật đã khác xa, song ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ
gây TTS và gợi ý áp dụng phương pháp này giảm đau trong phẫu thuật.
Đầu năm 1898, Bier một nhà ngoại khoa người Đức là người đầu tiên mô
tả một cách chi tiết tác dụng gây TTS bằng cocaine trên chính bản thân ông và
tiến hành trên 6 bệnh nhân phẫu thuật chi dưới. Trong những năm tiếp theo,
Tuffier người Pháp và Taif, Caglieri, Matas người Mỹ cũng báo cáo thành
công kỹ thuật giảm đau phẫu thuật bằng Cocaine tiêm vào khoang dưới nhện.
Đồng thời với phát triển kỹ thuật này cũng có nhiều tai biến do độc tính của
Cocaine. Đến năm 1904, khi tổng hợp độc tố Stovacaine ít độc hơn Cocaine
thì phương pháp này được áp dụng rộng rãi hơn. Năm 1907, Basker đưa ra kết
luận ảnh hưởng của tỷ trọng thuốc tê liên quan đến tác dụng gây TTS. Năm
1927, Pitkin đã dùng dung dịch Procaine tăng tỷ trọng gây TTS đạt kết quả
khả quan.
Năm 1935, Sise giới thiệu kỹ thuật gây tê bằng Tetracain và sử dụng
dung dịch tủy sống một cách thông dụng. Năm 1938, Babcock một nhà phẫu
thuật Mỹ đã báo cáo thực hiện thành công 40.000 lần gây TTS và là người
gây TTS nhiều nhất. Trong cùng thời gian này, cuốn sách giáo khoa kinh điển
về gây TTS do Masxon biên soạn đã xuất bản cùng với sự hiểu biết thêm về
4
thời kỳ này tỷ lệ tử vong do mổ lấy thai còn rất cao do hạn chế về gây mê và
nguy cơ nhiễm trùng cao. Cùng với sự phát triển của chuyên ngành Gây mê hồi
sức, vào những năm sau, phương pháp phẫu thuật lấy thai đã có tiến bộ vượt bậc.
Đến đầu thế kỷ 19 đã giảm tỷ lệ chết mẹ từ 100% xuống 2% [11].
Đầu thế kỷ 20, phẫu thuật lấy thai tiếp tục phát triển và có nhiều tiến bộ
vượt bậc. Tỷ lệ tử vong giảm xuống dần qua từng năm và những tử vong
trong thời kỳ này không phải do nhiễm khuẩn hay chảy máu như trước đây
mà do Gây mê hồi sức. Ở Mỹ nguyên nhân tử vong do gây mê là 28% trong
năm 1937 – 1950 (trước đây tỷ lệ này là 1%)[12].
Sự đảm bảo an toàn của phẫu thuật lấy thai đã dẫn đến sự thay đổi về
quan niệm của thầy thuốc và bệnh nhân. Nhận thức phẫu thuật lấy thai là một
phương pháp an toàn, thực sự yên tâm về tính mạng của mình và con mình
cũng đã trở thành điều mong ước thực tế của người mẹ. Vì vậy, chỉ định phẫu
thuật lấy thai ngày càng mở rộng. Vô cảm cho phẫu thuật lấy thai là công việc
hết sức quan trọng của người gây mê hồi sức nhằm vừa đảm bảo thuận lợi tối
ưu cho cuộc phẫu thuật, vừa đảm bảo tuyệt đối an toàn cho mẹ và đứa trẻ sơ
sinh khi chào đời trên bàn mổ. Phát triển gây TTS là một xu thế ngày càng
tăng trong nước cũng như trên thế giới trong lĩnh vực sản khoa. Vì đơn giản,
hiệu quả, kinh tế, ít tai biến, tốt cho mẹ và sơ sinh. ở Việt Nam, có đến 80 –
90% gây TTS trong mổ lấy thai ở các bệnh viện, có nơi đến 95% (trừ các
chống chỉ định).
Nếu như trên thế giới có 15% sản phụ được chỉ định mổ lấy thai thì ở
Việt Nam tỷ lệ này là 40% (ở đồng bằng sông Cửu Long lên đến 60%, thành
phố Hồ Chí Minh 35%[13].
1.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢM PHẪU, SINH LÝ CỦA PHỤ NỮ CÓ THAI
LIÊN QUAN ĐẾN GÂY MÊ HỒI SỨC.
6
7
Áp suất DNT được điều hòa rất chặt chẽ bởi sự hấp thu của DNT qua
nhung mao của màng nhện bởi vì tốc độ sản xuất DNT rất hằng định. Khi người
phụ nữ có thai, tử cung bị chèn ép vào tĩnh mạch chủ dưới nên hệ thống tĩnh
mạch quanh màng nhện bị giãn do ứ máu, do đó khi gây tê liều thuốc tê sẽ giảm
hơn người bình thường mà vẫn đạt được ngưỡng ức chế khoanh đoạn thần kinh
như người không mang thai được gây tê không giảm liều [16].
Tuần hoàn của DNT: sự tuần hoàn của DNT bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
mạch đập của động mạch, thay đổi tư thế, một số các thay đổi áp lực trong ổ
bụng, trong màng phổi … Tuần hoàn DNT rất chậm do vậy ta có thể thấy các
biến chứng muộn sau gây TTS bằng Morphin. Các chất có khả năng thấm qua
hàng rào máu não đều bị đào thải rất nhanh chóng, đó chính là các chất có độ
hòa tan trong mỡ cao, chính vì vậy Fentanyl có tác dụng ngắn còn Morphin có
tác dụng kéo dài vì Morphin ít hòa tan trong mỡ lại ít gắn vào protein so với
Fentanyl.
8
Hình 1.1: Xương cột sống [15]
Tủy sống nằm trong ống sống tiếp theo hành não tương đương từ đốt sống
cổ 1 đến ngang đốt lưng 2, phần đuôi tủy sống hình chóp, các rễ thần kinh chi
phối thắt lưng, cùng cụt tạo ra thần kinh đuôi ngựa. Mỗi một khoanh tủy chi phối
cảm giác vận động ở một vùng nhất định của cơ thể, các sợi cảm giác từ thân và
đáy tử cung đi kèm với các sợi giao cảm qua đám rối chậu đến T 11, T12, các sợi
cảm giác từ cổ tử cung và phần trên âm đạo đi kèm các thần kinh tạng chậu hông
đến S2, S3, S4, các sợi cảm giác từ phần dưới âm đạo và đáy chậu đi kèm các sợi
cảm giác thân thể qua thần kinh thẹn đến S 2, S3, S4. Vì thế, gây TTS để mổ lấy
thai cần đạt độ cao của tê tối thiểu tới T 10. Nhưng trong thực tế do sự phát triển
Hình 1.2: Sơ đồ phân vùng cảm giác [16]
1.2.2. Thay đổi về hô hấp
Thay đổi về thông khí: do thai phát triển, thở bụng giảm và thở bụng
tăng. Thể tích khí lưu thông tăng 40% cuối kỳ thai nghén, thể tích khí cặn và
dự trữ thở ra giảm 15% - 20% cuối kỳ thai nghén, dung tích sống và dung tích
toàn phổi ít thay đổi, chỉ số thông khí/ tưới máu ít thay đổi [14].
11
Thay đổi về trao đổi khí: tăng thông khí là thay đổi chính, cuối kỳ thai
nghén tăng 50%, chủ yếu là thể tích khí lưu thông và làm tăng thông khí phế
nang (70%). Khuếch tán khí phế nang không hoặc ít thay đổi [14].
Cuối thời kỳ thai nghén, các mao mạch ở niêm mạc đường hô hấp xung
huyết, tăng tiết dịch làm cho niêm mạc đường hô hấp phù nề, dễ chảy máu khi đặt
NKQ, vì vậy phải sử dụng ống NKQ có đường kính nhỏ hơn bình thường [14].
1.2.3. Thay đổi về hệ tuần hoàn
Khi có thai, hệ thống tuần hoàn chịu sự thay đổi lớn nhằm đáp ứng
những đòi hỏi tăng thêm của người mẹ và thai nhi: tần số tim tăng 10 – 15
nhịp/phút, thể tích tuần hoàn cuối kỳ thai nghén tăng 35% - 45%. Số lượng
hồng cầu tăng 20%, trong khi đó thể tích huyết tương tăng trên 50% làm
hematocrit giảm, hemoglobin giảm, gây thiếu máu do pha loãng máu.
Mất máu sinh lý đẻ đường dưới từ 300 – 500 ml, mất máu do mổ lấy thai
500 – 700 ml. Nếu mất trên 1000 ml máu có triệu chứng giảm thể tích tuần
hoàn thì cần phải xử trí.
Thay đổi về huyết động: HA tối đa giảm ngay tuần thứ 7 rồi tăng dần đến
đủ tháng. Sức cản mạch máu ngoại biên giảm 20% và tăng cuối thời kỳ thai
nghén đến 500 ml/phút lúc đủ tháng. Cơ tử cung nhận 20%, rau nhận 80% lưu
lượng máu tử cung rau. Tuần hoàn tử cung rau có sức cản mạch máu thấp.
13
mạch đi kèm. Vì vậy, liều thuốc tê phải giảm từ 20 – 30% đối với gây tê NMC
và giảm 30 – 50% đối với TTS [14].
Ngoài ra, khi có thai các sợi thần kinh tăng cảm ứng hoặc tăng khuếch
tán thuốc tê ở màng cảm thụ. Tác giả Fagraeus đã chứng minh ở người mới có
thai 8 – 12 tuần khả năng lan tỏa tác dụng của thuốc tê cũng tăng như người
có thai sắp đẻ. Datta đã so sánh hiệu quả của bupivacain trên sự dẫn truyền
của thần kinh phó giao cảm cô lập ở thỏ không có thai và thỏ có thai thấy tác
dụng phong bế xảy ra nhanh hơn rõ rệt trên thỏ có thai [14].
1.2.6. Tuần hoàn tử cung rau.
Thai phát triển trong tử cung nhờ chất dinh dưỡng, vitamin, chất vô cơ
và các hormone do máu cơ thể mẹ cung cấp qua rau thai qua tĩnh mạch rốn
đến thai, ngược lại máu từ thai về bánh rau theo hai động mạch rốn. Động
mạch rốn xuất phát từ động mạch chậu trong thai nhi, đến bánh rau, các mạch
máu phân chia nhỏ dần thành các mao mạch trong các nhung mao của rau, các
nhung mao này được ngâm trong các hồ huyết. Hồ huyết được cấp máu bởi
các động mạch xoắn tử cung của mẹ, tại đây diễn ra quá trình trao đổi chất
giữa máu thai nhi và máu mẹ qua thành các nhung mao.
Lưu lượng máu tử cung được tính theo phương trình:
UBF = (MAP – UVP)/UVR
Trong đó:
UBF là lưu lượng máu tử cung
MAP là HA động mạch trung bình
UVP là HA tĩnh mạch tử cung
UVR là sức cản hệ mạch tử cung.
Công thức cấu tạo:
Tên hóa học: 1-butyl-2,6- pipecoloxydide hydroclorde
Trọng lượng phân tử 288 Kda
Pka 8,1 ở 25oC, ở dụng dung dịch có độ pH = 7,4 ; 83% phân tử
bupivacain ở dạng ion hóa. Do đặc điểm trên bupivacain có thời gian tiềm
tàng dài và có tác dụng tê kéo dài.
Ở đậm độ sử dụng trên lâm sàng, tác dụng của bupivacain mạnh gấp 4
lần so với lidocain, tăng đậm độ lên sẽ gây tăng tác dụng nhưng đồng thời
cũng gây tăng độc tính. Dung dịch thuốc thường sử dụng trên lâm sàng là
0,25% và 0,50% [19].
1.3.2. Dược động học.
Bupivacain dễ tan trong mỡ với hệ số hòa tan là 28, gấp khoảng 10 lần
lidocaine. Bupivacain gắn với protein huyết tương với tỷ lệ cao khoảng 96%.
16
Tỷ lệ này giải thích tác dụng kéo dài của bupivacain. Bupivacain được dung
nạp tốt ở các mô mà nó tiếp xúc.
Bupivacain được chuyển hóa ở gan thông qua sự kết hợp với acid
glucuronic qua hệ thống men oxygen cytochrome P450. Sản phẩm chuyển
hóa chủ yếu là 2,6-pupecolyxylydine và xylidine khác (acid pipecolique, 4hydroxybupivacaine, desbutybupivacaine). Tốc độ phân hủy bupivacain chậm
hơn lidocain 2 lần. Các sản phẩm chuyển hóa của bupivacain được đào thải
qua thận. Khoảng 5% bupivacain được đào thải qua thận ở dạng không đổi.
Trong những trường hợp suy gan và suy thận, khả năng tích lũy thuốc tăng lên
dễ gây ngộ độc.
Độ thanh thải của bupivacain khoảng 0,5 – 6 l/phút. Thời gian bán hủy từ
1,2 – 3,5 giờ. Tỷ lệ hấp thụ thuốc phụ thuộc vào liều lượng, nồng độ, cách
dùng thuốc, phụ thuộc vào vị trí tiêm thuốc và sự phối hợp thuốc có mạnh
kinh cảm giác mạnh hơn nhiều so với ức chế thần kinh vận động, vì dây thần
kinh vận động có đường kính lớn hơn và được bao bọc bởi lớp myeline [20].
1.3.4. Độc tính của bupivacain.
Bupivacain là thuốc tê có độc tính mạnh gấp khoảng 4 lần lidocain và
gấp khoảng 1,5 lần edocain. Nhiễm độc bupivacain thường rất nặng và khó
điều trị do thuốc có tác dụng trên kênh natri-kali ở màng tế bào theo cơ chế
vào nhanh (fast-in) ra chậm (slow-out).
Độc tính trên hệ thần kinh: dấu hiện ngộ độc thần kinh xuất hiện khi
nồng độ bupivacain huyết tương đạt 1,6 mcg/ml: ù tai, chóng mặt, mệt mỏi,
rối loạn thị giác, kích động khi nồng độ > 4 mcg/ml xuất hiện chứng co giật,
nặng hơn bệnh nhân đi vào hôn mê.
Độc tính trên hệ tim mạch: độc tính của bupivacain trên tim mạch mạnh
hơn 15 – 20 lần so với lidocain. Các biểu hiện ngộ độc tim mạch của bupivacain
xuất hiện sớm hơn triệu chứng thần kinh. Tùy theo mức độ thể hiện như sau:
thời gian QT, QRS kéo dài, xoắn đỉnh, rung thất, ngừng tim. Do vậy cần chú ý
sử dụng đúng liều lượng quy định. Không dùng quá liều 0,3 mg/kg cân nặng
trong gây TTS và không quá 3 mg/kg cân nặng trong các phương pháp gây tê
vùng khác. Chống chỉ định dùng bupivacain tiêm tĩnh mạch [17], [19].
1.3.5. Sử dụng Bupivacaine trong lâm sàng.
Trong lâm sàng, bupivacain được sử dụng cho mọi trường hợp gây tê trừ
tĩnh mạch: gây tê thấm (khuyên không nên dùng cho gây tê chuyên khoa răng),
gây tê đám rối thần kinh, gây tê khoang cùng, gây tê ngoài màng cứng, gây TTS.
Cần thận trọng khi gây tê cho các bệnh nhân sốc, tụt huyết áp, thiếu thể tích tuần
hoàn nặng, bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền trong tim.
Nồng độ bupivacain dùng trong lâm sàng thường từ 0,25 – 0,75% có
hoặc không trộn lẫn với adrenalin hoặc glucose.
18
+
Khuếch tán vào bề mặt của tổ chức thần kinh nhờ sự chênh lệch nồng độ.
+
Hấp thu vào khoảng kẽ quanh các mạch máu.
Sự phân bố thuốc tê ở các tổ chức thần kinh cũng rất khác nhau và phụ
thuốc tính tan trong mỡ của thuốc, đường đưa thuốc và mức độ tưới máu của
tổ chức thần kinh đó.
19
So với các thành phần khác thì rễ thần kinh tủy sống có nồng độ thuốc
khá cao do có diện tích tiếp xúc tương đối lớn ứng với một đơn vị thể tích
thuốc tê và được ngâm trong dịch não tủy với chiều dài đáng kể. Tại rễ sau,
nồng độ thuốc tê cao hơn rễ trước, vì rễ trước có nhiều myeline hơn nên ức
chế thần kinh cảm giác mạnh hơn thần kinh vận động [20].
Sự phân bổ thuốc tê trong dịch não tủy có tính chất quyết định đến mức
tê. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố này, trong đó có 3 yếu tố
quan trọng nhất là:
+
Tỷ trọng của thuốc tê: khi gây TTS ở tư thế nằm nghiêng, nếu dùng
cùng liều, cùng thể tích, thì dung dịch tăng tỷ trọng lan cao hơn dung
dịch đồng tỷ trọng vài khoanh tủy.
+
Điều này giải thích tại sao nồng độ tối đa của thuốc trong huyết tương đạt
chậm hơn sau gây tê tủy sống so với sau gây tê ngoài màng cứng [20].
20
1.3.8. Khái niệm về tỷ trọng của dung dịch thuốc tê.
Đậm độ của một dung dịch là trọng lượng của 1 ml dung dịch đó tính
bằng gam ở một nhiệt độ nhất định. Tỷ trọng của thuốc tê được tính bằng tỷ lệ
đậm độ của dung dịch thuốc tê trên đậm độ của dịch não tủy trong cùng một
nhiệt độ.
Ở nhiệt độ 37oC, tỷ trọng bình thường của DNT người là 1,003 – 1,009.
Những dung dịch thuốc tê có tỷ trọng từ 1,003 – 1,009 ở nhiệt độ 37 oC là
những dung dịch đồng tỷ trọng và những dung dịch có tỷ trọng lớn hơn 1,009
ở nhiệt độ đó là dung dịch tăng tỷ trọng.
Để có dung dịch bupivacain tăng tỷ trọng, người ta pha bupivacain với
nước cất. Dung dịch tỷ trọng thấp khi đưa vào khoang dưới nhện sẽ tập trung
ở vị trí cao nhất trong khoang tủy sống [20].
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LIỀU LƯỢNG BUPIVACAIN TRONG
GÂY TÊ TỦY SỐNG ĐỂ MỔ LẤY THAI.
1.4.1. Trên thế giới và tại châu Á.
Tại Mỹ, từ năm 1981 đến 2001, TTS có khuynh hướng gia tăng, đặc
biệt là TTS để mổ lấy thai chủ động và cả cấp cứu. Từ năm 1992, hơn 80% ca
mổ lấy thai là được gây tê. Từ đó, nước Anh và các nước phát triển khác cũng
tăng cường sử dụng TTS [21], [22], [23].
21
TTS để mổ lấy thai ở Hàn Quốc được dựa trên cơ sở dữ liệu này và trên thực
hành lâm sàng [7], [27].
Một nghiên cứu tiến cứu được tiến hành tại Nepal và Ấn Độ năm 2011,
được thực hiện bởi Subedi A và cộng sự, áp dụng biểu đồ Harten cho phụ nữ
ở hai nước này. Sau các phân tích và tổng hợp, các nhà khoa học kết luận: sử
dụng biểu đồ Harten làm giảm liều bupivacain trung bình. Tuy nhiên, cần một
nghiên cứu tổng hợp và đa trung tâm để có những phân tích sâu hơn trước khi
đưa vào phổ biến sử dụng trong thực hành lâm sàng [8].
1.4.2. Tại Việt Nam.
Nguyễn Hoàng Ngọc (2003) phối hợp bupivacain liều thấp (7mg) với
30 µg fentanyl TTS để mổ lấy thai, cho kết quả tác dụng vô cảm trong mổ tốt,
thời gian giảm đau sau mổ kéo dài hơn và giảm được tác dụng phụ so với
dùng bupivacain liều cao đơn thuần, mà không ảnh hưởng đến sơ sinh [28].
Ba năm sau, cùng địa điểm nghiên cứu, Đỗ Văn Lợi (2006) phối hợp
bupivacain (7,5 mg) kết hợp với fentanyl hoặc morphin các liều đánh giá hiệu
quả vô cảm trong mổ lấy thai và giảm đau sau mổ. Tác giả kết luận mức độ vô
cảm của ba nhóm đều phù hợp với yêu cầu để mổ lấy thai, giảm được tác
dụng không mong muốn [29].
23
Năm 2008, Nguyễn Thế Tùng đánh giá tác dụng TTS bằng bupivacain
liều thấp, kết hợp với fentanyl trong mổ lấy thai đã rút ra kết luận khi phối
hợp với fentanyl tăng cường hiệu quả giảm đau và giảm được tác dụng phụ
[30]. Tuy nhiên, cả ba tác giả trên đều không đề cập đến sự khác nhau trên sử
dụng liều với các bệnh nhân có chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI khác nhau.
Các nghiên cứu dừng lại ở sử dụng cùng một liều cho các sản phụ có tầm vóc
khác biệt.
+
Dị dạng cột sống hoặc tổn thương thần kinh cấp tính.
+
Thiếu máu nặng.
+
BN có rối loại đông máu hoặc đang điều trị thuốc chống đông.
+
BN có bệnh nội khoa: bệnh tim mạch, suy hô hấp, rối loạn tâm
thần, tiểu đường, huyết áp cao (HA > 180 mmHg) hoặc bệnh nhân
tụt huyết áp, sốc, thiếu khối lượng tuần hoàn.
+
Dị ứng với thuốc tê.
- Những tiêu chuẩn loại trừ về sản khoa:
+
Thai dị dạng.
+
mẫu chủ định gồm 50 sản phụ chia đều cho 2 nhóm.
- Tiêu chuẩn chọn đồng nhất.
2.3.3. Chia nhóm nghiên cứu
Chọn ngẫu nhiên theo phương pháp bốc thăm, mỗi sản phụ sẽ tương ứng
với một lần bắt thăm, bắt được thăm nào thì xếp vào nhóm đó và thực hiện
đúng theo phương pháp đó.
Thuốc và liều dùng của từng nhóm nghiên cứu:
Dựa vào tiêu chí và các nghiên cứu trước để TTS áp dụng cách tính liều
mới an toàn, hiệu quả:
- Liều bupivacain TTS để mổ lấy thai từ 7 – 15 mg [31].
- Liều 7 mg cho kết quả tốt ở phụ nữ miền bắc Việt Nam [28].
- Liều 0,065 mg/cm là liều tối thiểu [4], với chiều cao trung bình theo các
chỉ số nhân trắc của phụ nữ Việt Nam là 155 cm [15] => có thể dùng tới liều
11 mg.
* Nhóm I: Bupivacain 0,5% liều cố định phân bố the cụm + Fentanyl 30µg.
+
Chiều cao < 150 cm:
7 mg.
+
Chiều cao 150 – 160 cm: 8 mg.
+
Chiều cao > 160 cm:
9 mg.
1.4
1.4
1.7
1.6
1.6
1.5
1.8
1.8
1.7
1.7
1.9
1.9
1.8
1.8
2
2
1.9
2.1
2.1
2.2
175
180