Rèn luyện kĩ năng học toán cho học sinh lớp 2 theo mô hình VNEN - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

TRẦN THỊ THỦY

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỌC TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO MÔ HÌNH VNEN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Toán ở Tiểu học

HÀ NỘI, 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

TRẦN THỊ THỦY

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỌC TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO MÔ HÌNH VNEN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Toán ở Tiểu học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: ThS. NGUYỄN THỊ HƢƠNG

HÀ NỘI, 2015


LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT
Nội dung viết tắt

Chữ viết tắt

HS

Học sinh

HSTH

Học sinh tiểu học

GV

Giáo viên

KN

Kĩ năng

NXB

Nhà xuất bản


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 3

PHỤ LỤC ...................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ 43


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc
dân, có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Học
sinh tiểu học (HSTH) thuộc giai đoạn tuổi từ 6 đến 10 nên có những đặc điểm
phát triển tâm sinh lí riêng. Vì thế, dạy học ở tiểu học cần có cái nhìn khoa
học về tâm lí của trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp. Từ đó khơi
dậy, hình thành và phát triển năng lực cần thiết, các phẩm chất tốt đẹp, lâu dài
cho các em.
Toán học là một môn học quan trọng ở Tiểu học, đóng góp một phần
không nhỏ vào việc hoàn thành nhiệm vụ dạy và học. Nó cung cấp những kiến
thức cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo đại lượng, giải toán có lời
văn,… giúp HS phát triển khả năng tư duy, khả năng suy luận, trau dồi trí nhớ,
giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, chính xác nói chung và kĩ năng học
Toán nói riêng. Qua học tập môn toán, học sinh (HS) phát triển được trí thông
minh, tư duy độc lập sáng tạo, kích thích trí tò mò, tự khám phá và tự rèn luyện
bản thân.
Ở lớp 2, do đặc điểm nhận thức lứa tuổi này là sự chú ý không chủ định
nên việc học Toán trở nên khó khăn. Một điểm đáng quan tâm là HSTH lại rất
ham hiểu biết, ham học hỏi, có trí nhớ tốt và có trí tưởng tượng phong phú. Vì
vậy, trong quá trình dạy học Toán, giáo viên cần phải biết đưa ra tình huống
khơi gợi trí tò mò, hứng thú học tập cho HS để các em tự nâng cao trách
nhiệm của bản thân, thể hiện rõ vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức, phát
huy tối đa năng lực sáng tạo, tinh thần tự học, tự giải quyết các vấn đề mà các
em thấy tự tin, phấn khởi để giúp các em tự hình thành khái niệm bằng chính
sự tư duy của mình. Tuy nhiên, mô hình nhà trường truyền thống lại chưa

hăng say, ham học hỏi, có năng lực sáng tạo nhưng lại thiếu hụt trầm trọng về

2


kĩ năng. Vì vậy, mong muốn của em là tìm ra các biện pháp hình thành và
phát triển kĩ năng học Toán, phát huy tối đa năng lực của HS để các em có thể
học mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh.
Chính vì những lý do trên, em đã tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Rèn luyện kĩ năng học toán cho học sinh lớp 2 theo mô hình VNEN”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu kĩ năng học toán cho HS lớp
2 theo mô hình VNEN và đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng học
toán cho HS lớp 2 theo mô hình VNEN nhằm góp phần nâng cao kết quả học
tập toán của HS.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của kĩ năng học toán cho HS lớp 2
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của kĩ năng học toán cho HS lớp 2 theo mô
hình VNEN
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng học toán cho HS
lớp 2 theo mô hình VNEN
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng học toán cho HS
lớp 2 theo mô hình VNEN
- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lớp 2
theo mô hình VNEN
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: kĩ năng học toán theo mô hình VNEN.
- Phạm vi nghiên cứu: HS lớp 2.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát

đoạn đầu: khối lượng chú ý hẹp, thiếu bền vững; chưa có kĩ năng phân phối
chú ý, chưa biết hướng sự chú ý vào nội dung cơ bản của bài học.
- Sự chú ý của HS chủ yếu hướng ra bên ngoài, gắn liền với hành động
vật chất. Khả năng chú ý hướng vào bên trong còn yếu.
b. Tri giác
- Còn mang tính tổng thể, tri giác phân tích đang được hình thành.
- Thường gắn với hành động vật chất.
- Tính cảm xúc thể hiện rõ khi tri giác.
- Các loại tri giác: không gian, vận đông, thời gian được hình thành và
phát triển mạnh.
c. Trí nhớ
- Trí nhớ không chủ định (có trước tuổi học) vẫn tiếp tục phát triển
- Trí nhớ có chủ định hình thành và phát triển mạnh do HSTH ghi nhớ
máy móc tốt và ghi nhớ hình thành được phát triển mạnh
- Trí nhớ ngắn hạn phát triển tốt hơn trí nhớ dài hạn

5


- Trí nhớ trực quan- hình ảnh phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ- trừu
tượng
d. Tư duy
- Tư duy cụ thể vẫn chiếm ưu thế, tư duy trừu tượng bắt đầu được hình
thành và phát triển mạnh
- Tư duy còn gắn với quan sát tổng thể sự vật, tư duy phân tích bắt đầu
được hình thành nhưng còn non yếu
- Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể bằng tính
thuận nghịch. Khả năng nhận thức được về cái bất biến và hình thành biểu
tượng bảo toàn giúp HS phân biệt được định tính và định lượng. Đây là điều
kiện ban đầu để học sinh tiếp thu các khái niệm khoa học

khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng: KN là một dạng hành động được thực
hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khái niệm vận động và những điều
kiện sinh học, tâm lí khác của cá nhân như: nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích
cực cá nhân, … để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định hoặc
mức độ thành công theo chuẩn hay quy định.
Theo một số tài liệu, kĩ năng nhìn chung được hiểu là khả năng vận
dụng kiến thức đã lĩnh hội được vào hoạt động cụ thể, đồng thời thông qua
hoạt động mà rèn luyện kĩ năng đã có (ở mức thuần thục để trở thành kĩ xảo)
cũng như hình thành kĩ năng mới. Tuy nhiên khả năng là thuộc tính cá nhân
cho thấy một người có thể thực hiện hành động song chưa thực hiện hành
động ấy trên thực tế. Do đó nếu coi kĩ năng cũng như khả năng là thuộc tính
cá nhân hay thuộc tính tâm lí (bên trong) thì rất khó để nhận ra một người có
kĩ năng hay không? Hơn nữa, trong các tài liệu cũng không hoặc rất ít đề cập
đến nội dung, các thành phần cấu trúc hay điều kiện đảm bảo một người thực
sự có kĩ năng. Vì vậy, cũng chưa đưa ra được các căn cứ để nhận biết hay
đánh giá kĩ năng.
Tương tự tri thức, kĩ năng là hình thức biểu hiện của khả năng hay năng
lực chứ tự nó không phải là khả năng hay năng lực. Để nhận diện kĩ năng nào

7


đó, ít nhất phải căn cứ vào những tiêu chí tối thiểu như bản chất chung của kĩ
năng, các điều kiện và thành phần cấu trúc kĩ năng.
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, em thấy người nghiên cứu chủ yếu lựa
chọn quan điểm về kĩ năng của tác giả Đặng Thành Hưng, lấy đó là cơ sở
chính cho những phân tích và đánh giá của bài viết.
Mọi kĩ năng đều có cấu trúc chung như nhau chỉ nội dung cụ thể của mỗi
thành tố cấu trúc đó mới có sự khác biệt, ùy theo đó là kĩ năng nào. Là một
dạng hành động nên kĩ năng có cấu trúc bao gồm: (1) là hệ thống thao tác được

- Tìm các phần bằng nhau của một hình
- Các đơn vị đo: độ dài, thời gian, khối lượng, dung tích.
- Một số hình hình học: hình chữ nhật, hình tứ giác, đường gấp khúc;
tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác.
- Giải toán có lời văn có một phép tính.
 Đặc điểm:
Căn cứ vào đặc điểm nhận thức cuả HS lớp 2, em nhận thấy:
- Những kĩ năng như: học kiến thức mới, làm bài tập, giải toán,… của
HS còn mới hình thành nhưng HS còn chưa ghi nhớ chắc chắn mà chỉ là ghi
nhớ máy móc, chưa bền vững và dễ bị phân tán.
- Khả năng vận dụng các kĩ năng còn kém do tư duy và tri giác còn cần
gắn với thực tế, cụ thể.
 Phân loại
Dựa vào các hoạt động toán học của HS, kĩ năng học toán bao gồm:
- KN học kiến thức mới
- KN làm bài tập, giải toán
- KN thực hành toán học
- KN ứng dụng, vận dụng toán trong đời sống
- KN tự học
d. Rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lớp 2
 Hoạt động chính khóa
 Vai trò của GV:
- Là nhân tố chính trong hoạt động chính khóa, hướng dẫn HS hình
thành kiến thức mới; vận dụng kiến thức vừa học làm bài tập, giải toán

9


- Hình thành ở HS kiến thức cơ bản của chương trình học ở Tiểu học.
- Giúp đỡ khi HS gặp khó khăn trong qua trình hình thành kiến thức

đơn giản, tiện dụng: Vờ- nen.
Nếu đọc: Vi- en- i- en là không chính xác vì VNEN không liên quan
đến viết tắt các chữ cái trong tiếng Anh.
 Lịch sử hình thành
Mô hình VNEN được thực hiện theo mô hình EN (Escuela Nueva) là
mô hình nhà trường được thực hiện tại Cộng hòa Côlômbia.
Vào những năm 70 - 80 của thế kỉ trước, Cộng hòa Côlômbia được sự
hỗ trợ kinh phí từ Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, UNESCO và
nhiều tổ chức khác của Liên hợp quốc để phát triển giáo dục cơ bản vốn đang
rất yếu kém ở đất nước này. Đông đảo các chuyên gia giáo dục giỏi từ Mĩ,
Anh, Canađa, Ôxtrâylia, Tây Ban Nha, … đã tới Côlômbia để xây dựng và
phát triển các Chương trình, Dự án về Giáo dục, trong đó mô hình EN được
đánh giá là có hiệu quả rõ rệt nhất về phổ cập giáo dục cơ bản, về thay đổi
nhà trường và nâng cao chất lượng giáo dục. Mô hình EN đã có sức hấp dẫn,
lan tỏa nhanh chóng, được nhân rộng ra nhiều nước ở vùng Caribê và khắp
các nước châu Mĩ La tinh.
Năm 2000, Liên hợp quốc đã chọn mô hình EN là một trong ba cải
cách đáng chú ý nhất của Côlômbia. Tổ chức UNESCO coi mô hình EN là
mô hình nhà trường có chất lượng tốt nhất về giáo dục tiểu học ở các vùng
nông thôn của châu Mĩ La tinh. Ngân hàng thế giới cũng chọn mô hình EN là
một trong ba nội dung cải cách đáng chú ý nhất ở các nước phát triển trên thế
giới. Năm 2012, tạp chí Toàn cầu của Thụy Điển đã tổ chức bình chọn để tìm
ra 100 giải pháp có hiệu quả, có ảnh hưởng nhất từ xưa tới nay, trong mọi lĩnh
vực và trên khắp toàn cầu. Mô hình EN được bình chọn xếp thứ 46/100 và
xếp thứ 3 trong các giải pháp có hiệu quả nhất trong lĩnh vực giáo dục.

11


Mô hình EN đã đưa ra một giải pháp giáo dục cụ thể để thay đổi nhà

Mô hình VNEN đã thực sự làm thay đổi nhà trường nhằm hướng tới
mục tiêu cao cả là tạo ra những trường học có chất lượng phù hợp với xu thế
phát triển của giáo dục ở khu vực và thế giới. Cụ thể, theo mô hình VNEN,
các nhà trường sẽ đạt được những mục tiêu sau:
- Lấy hoạt động học của HS làm trung tâm
Chủ thể của quá trình dạy học trong mô hình VNEN là HS được học
tập thông qua các hoạt động tự học hay học theo nhóm; phương pháp học của
HS được coi trọng hơn trong quá trình dạy học.
- Đưa ra một chương trình học phong phú và bổ ích
Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học được thay đổi; đánh giá qúa
trình học của HS gần với phương pháp đánh giá lớp học hiện đại; nội dung
học được giảm tải; môn học và kế hoạch dạy học được điều chính phù hợp
với thực tế hơn; chú ý đến phương pháp học tập từ đời sống hàng ngày.
- Thúc đẩy việc học tập của HS
Tốc độ học tập phù hợp với khả năng tiếp thu của HS; dạy học không
mang tính đồng loạt mà hướng tới cá thể hóa HS; học tập mang tính hợp tác,
tương tác đa chiều; mục đích của đánh giá HS trong VNEN là nhằm thúc đẩy
quá trình học tập, giúp các em cố gắng liên tục để được tiến bộ và có nhiều
thành tích cao.
- Có bầu không khí nhà trường tích cực
Hợp tác, hỗ trợ, tích cực, dân chủ và không có cạnh tranh là những đặc
điểm cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của nhà trường, của HS, giáo viên
và cán bộ quản lí giáo dục. Hoạt động của Hội đồng tự quản HS, các hoạt
động hỗ trợ học tập, … khiến cho không khí hoạt động nhà trường thay đổi
nhanh chóng và dễ nhận thấy.
- Nuôi dưỡng, cổ vũ những mối tương tác mang tính đồng nghiệp; đề
cao, ủng hộ cho việc giải quyết vấn đề một cách sáng tạo

13




trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia,
hợp tác trong các hoạt động. Tổ chức Bộ máy Hội đồng tự quản HS bao gồm:
1 Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh, 2 phó Chủ tịch Hội đồng tự quản và
các ban (Ban học tập, Ban sức khoẻ, vệ sinh, Ban văn nghệ, thể dục, Ban thư
viện, Ban đối ngoại...).
Điểm nổi bật của mô hình VNEN là đổi mới về các hoạt động sư phạm,
một trong những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học. Lớp
học được thiết kế cho HS ngồi thành từng nhóm, các em hoạt động cá nhân,
khi cần thiết có thể trao đổi trong nhóm. Như vậy vừa phát huy tính tích cực
của bản thân HS, vừa phát huy được sự hỗ trợ của các em cũng như sự cộng
tác, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong nhóm. Đối với việc tổ chức sinh
hoạt của lớp, coi trọng tính tự quản của HS.
Cách sắp xếp bàn ghế thay vì bàn ghế được sắp theo hàng ngang như
trước đây, các lớp học VNEN yêu cầu sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm HS:
nhóm 4 hoặc nhóm 6. Sự thay đổi trong cách sắp xếp bàn ghế tạo ra sự thay
đổi về vị trí chỗ ngồi, từ đó tạo ra sự thay đổi về tâm thế học tập và quan hệ
tương tác của đứa trẻ. Với cách ngồi theo hàng ngang, trẻ không cần tương
tác với nhau, trẻ chỉ có một quan hệ tương tác: cô và trò. Từ đó, nảy sinh tâm
lý lấy GV làm trung tâm của quá trình học tập; hoạt động học tập chủ yếu từ
nghe giảng - ghi nhớ vận dụng và tái hiện. Cách học này chỉ tạo nên những bộ
óc biết ghi nhớ và tái hiện mà không tạo nên được con người có các năng lực
mà xã hội đang cần: năng lực tự chủ, năng lực phối hợp nhóm, năng lực tư
duy, năng lực sáng tạo...Với vị trí ngồi học theo nhóm HS cùng với cách tổ
chức dạy học mới của GV, HS bên cạnh việc được học cái chữ, các em còn có
cơ hội hình thành các năng lực cần thiết ở con người xã hội trong tương lai.
Nhờ quan hệ tương tác được mở rộng, đa chiều: tương tác giữa HS (với tư
cách là chủ thể của quá trình học tập) với tài liệu (với tư cách là đối tượng của



16


khoa hiện hành được thiết kế lại khoa học hơn, dành cho HS tự học dưới sự
hướng dẫn của GV. Tài liệu dạy và học trong mô hình trường học mới được
gọi là “tài liệu 3 trong 1”. Vì tài liệu “Hướng dẫn học tập” thay thế 3 loại
sách: Sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập. Do đó, chỉ cần một quyển
sách HS có thể tự học, tự làm bài; GV chỉ cần nhìn vào đó để hướng dẫn HS
tự học, phụ huynh cũng có thể sử dụng để hướng dẫn con em mình mà không
cần bất cứ một tài liệu hỗ trợ nào khác. Đa số kênh hình và kênh chữ trong tài
liệu rõ ràng, dễ hiểu, giúp HS tiếp cận bài học một cách dễ dàng. Tài liệu thể
hiện sự tương tác giữa HS, GV và phụ huynh HS, cộng đồng. Tài liệu được
thiết kế là một chuỗi các hoạt động: Hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành,
hoạt động ứng dụng nhằm giúp HS tích cực, tự giác, hứng thú trong việc
chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng phù hợp với đặc điểm, trình độ của từng đối
tượng. Tài liệu còn có tác dụng hướng dẫn HS biết cách khai thác tài liệu, sử
dụng đồ dùng học tập... trong “Thư viện lớp” hay tại các “Góc học tập”, “Góc
cộng đồng”... phục vụ cho từng bài học. Hơn thế nữa, tài liệu còn giúp GV
thuận lợi hơn trong việc đổi mới phương pháp dạy học: GV giữ vai trò là
người tổ chức, điều hành, giám sát, hỗ trợ HS trong quá trình học tập. Bên
cạnh đó, tài liệu còn chú trọng các hoạt động ứng dụng sau mỗi bài học, giúp
HS biết vận dụng kiến thức được học vào thực tiễn, thấy rõ lợi ích thiết thực
từ những điều được học đối với bản thân, gia đình, cộng đồng. Đồng thời tài
liệu cũng tạo điều kiện để cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục HS.
Cộng đồng giúp đỡ HS về cơ sở vật chất, động viên về tinh thần, mở rộng
kiến thức về thực tế đời sống, trang bị cho HS những kĩ năng sống.
 Về quy trình học tập
GV hướng dẫn HS chủ động làm theo định hướng của quy trình 10
bước học tập:

Mô hình VNEN có thể áp dụng toàn phần (phương pháp dạy học và tổ
chức lớp học) nếu trường học đáp ứng đủ các điều kiện hoặc áp dụng một

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status