TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIÉU HỌC
BÙI THỊ THẮM
MỘT
SÓ HOẠT
ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM
•
•
•
•
HÌNH THÀNH KIÉN THỨC TOÁN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO MÔ HÌNH VNEN
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
ĐẠI
•
•
• HỌC
•
C huyên ngành: P h ư ơ n g pháp dạy học toán ở Tiếu học
N gư ời hư ớng dẫn khoa học
T hS. N gu yễn T hị H ư ơng
HÀ NỘI, 2015
Sinh viên
Bùi Thị Thắm
D A N H M Ụ C CÁC K Í H IỆ U V IẾ T TẮT
TT
Nội dung viêt tăt
Chữ viêt tăt
1
Học sinh
HS
2
Giáo viên
GV
3
Mô hình trường học mới
VNEN
4
1.2.5. Kết quả điều tra .......................................................................................... 24
CHƯƠNG 2: MỘT SÓ HỌAT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH
LÓP 2 THEO MÔ HÌNH VNEN....................................................................... 28
2.1. Nguyên tắc lựa chọn và sử dụng một số hoạt động trải nghiệm cho học
sinh lớp 2 theo mô hình VNEN...........................................................................28
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích...........................................................28
2.1.2. Tăng cường khả năng tụ’ học của học sinh............................................... 28
2.1.3. Sử dụng và kết họp các phương pháp dạy học tích cực.......................... 28
2.1.4. Đa dạng hóa các hoạt động hình thức dạy h ọ c ........................................29
2.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễ n ...........................................................29
2.1.6. Đảm bảo đúng nguyên tắc và lựa chọn cách tổ chức hoạt động trải
nghiệm phù hợp nhẹ nhàng, tự tin hiệu quả.......................................................29
2.1.7. Tạo điều kiện tốt nhất để học sinh phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong việc tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng
mới theo yêu cầu bài học.................................................................................... 29
2.2. Một số hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 theo mô hình VNEN .. 30
2.2.1. Hoạt động trải nghiệm 1: Trải nghiệm bằng nhũng kiến thức đã được
học để hình thành kiến thức m ới........................................................................ 30
2.2.2. Hoạt động trải nghiệm 2: Trải nghiệm bằng những vốn kinh nghiệm
sống của bản thân để hình thành kiến thức mới................................................ 32
2.3. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc tổ chức các hoạt động
trải nghiệm hình thành kiến thức toán học cho học sinh lớp 2 theo mô hình
VNEN................................................................................................................... 34
2.3.1. Nâng cao nhận thức của GV về việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm.......34
2.3.2. Tổ chức lóp bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn về hoạt động trải
nghiệm, nắm qui trình để thực hiện các hoạt động trải nghiệm hình thành kiến
thức mới................................................................................................................ 34
2.3.3. Chuẩn bị đồ dùng, tài liệu học tập có liên quan tới các hoạt động trải
các hoạt động này được thực hiện độc lập và luân phiên trong quá trình học.
Xét riêng với họat động hình thành kiến thức toán học mới cho HS là một
hoạt động được coi là quan trọng nhất trong quá trình học nó mở đầu trong
việc lĩnh hội những tri thức mới, đưa các em tiếp cận với nhũng tri thức mà
các em chưa từng biết tới, giúp các em có thêm hiểu biết về một lĩnh vực nào
1
đó trong cuộc sống. Qua việc hình thành kiến thức mới HS được rèn luyện
các kỹ năng, tư duy một cách tích cực và linh hoạt, được vận dụng những kiến
thức đã được học vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài học để hình thành
những kiến thức mới góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách
của HS Tiểu học nói chung và HS lóp 2 nói riêng với các phẩm chất như: tính
tích cực nhận thức, sự sáng tạo, tính cẩn thận, tinh thần vượt khó....
Tuy nhiên các em học sinh lóp 2 còn quá nhỏ nên tính tự quản chưa
cao, khả năng lãnh đạo còn hạn chế. Các em thường hay ngại ngùng, e dè,
chưa tự tin, chưa mạnh dạn trước tập thể không giám nêu ý kiến của bản
thân,...về phía GV thì chưa thực sự chú ý sử dụng phương pháp cách thức tổ
chức dạy học để các em nắm được kiến thức còn dập khuân và phụ thuộc vào
sách giáo khoa, sách giáo viên. Từ đó dẫn tới việc chất lượng dạy và học
trong quá trình hình thành kiến thức mới chưa thực sự hiệu quả.
Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam chính thức tham gia “chương
trình đánh giá học sinh quốc tế” và đang triển khai thí điểm dự án mô hình
trường học mới tại 63 tỉnh thành của cả nước thì việc dạy học theo hướng họp
tác càng phát huy thế mạnh trong việc đáp ứng cho học sinh tiếp thu kiến thức
một cách có hệ thống và khoa học hơn.
Mô hình VNEN khác hẳn với những mô hình truyền thống trước đây.
Mô hình này được xây dựng trên quan điểm đổi mới giáo dục: “lấy HS làm
trung tâm”. Đặc biệt nổi bật của mô hình này là đổi mới về các hoạt động sư
nghiệp của mình với đề tài “Một số hoạt động trải nghiệm hình thành kiến
thức toán học cho học sinh lóp 2 theo mô hình VNEN”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về một số hoạt động trải nghiệm
đế hình thành kiến thức toán học cho học sinh lóp 2 theo mô hình VNEN
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
-
Tìm hiểu cơ sở lý luận hoạt động trải nghiệm, tổ chức hoạt động trải
nghiệm theo mô hình VNEN, tổ chức hoạt động trải nghiệm theo mô hình
VNEN để hình thành kiến thức (môn toán) cho HS lóp 2.
3
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn việc thực hiện hoạt động trải nghiệm trong quá
trình hình thành kiến thức toán học cho học sinh lớp 2 theo mô hình VNEN
tại các trường tiểu học.
- Đe xuất quy trình, biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong
quá trình hình thành kiến thức toán học cho học sinh lớp 2 theo mô hình
VNEN
4. Đối tượng nghiên cửu của đề tài
Một số hoạt động trải nghiệm trong quá trình hình thành kiến thức toán
theo mô hình VNEN
5. Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy học môn toán cho HS lóp 2 tại trường Tiểu học Đống Đa Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
6. Phưong pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp điều tra
Quá trình tri giác của học sinh lóp 2 là quá trình ở đầu bậc Tiểu học, do chưa
biết phân tích tổng hợp nên tri giác của học sinh thường gắn với hoạt động
thực tiễn của trẻ các em tri giác trên tổng thể, khó phân biệt những đối tượng
gần giống nhau. Việc phân biệt các đối tượng đó dễ mắc sai lầm lẫn lộn.
ỉ . 1.1.2. Chủý
Chú ý của học sinh Tiểu học là điều quan trọng để các em tiến hành
hoạt động học tập. Chú ý là trạng thái tâm lý của học sinh giúp các em tập
trung một hoặc một số đối tượng để tiếp thu các đối tượng này một cách tốt
nhất. Ở học sinh lóp 2 thì chú ý không chủ định chiếm iru thế. Sự chú ý của
các em còn phân tán, dễ bị lôi cuốn vào cái trục quan, gợi cảm, thường hướng
ra bên ngoài, vào hành động, chưa có khả năng hướng vào bên trong, vào tư
duy.
5
Biết được điều này, các nhà giáo dục trong quá trình tổ chức các hoạt
động học tập cần chú ý sử dụng đồ dùng trực quan. Nên giao cho trẻ nhũng
công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ có sự giới hạn về mặt thời gian.
1.1.1.3. Trí nhớ
Trí nhớ là quá trình các em ghi lại các thông tin cần thiết như bảng
nhân chia các quy tắc tính.. .có thể tái hiện lại. Ớ học sinh Tiếu học có hai loại
ghi nhớ là ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ không chủ định ở lóp 2 ghi nhớ
không chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ trục quan - hình tượng và trí nhớ máy
móc phát triển hơn trí nhớ lôgíc, hình tượng, hình ảnh dễ nhớ hơn các câu chữ
trừu tượng khô khan. Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa,
chưa biết dựa vào các điểm tựa để nghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay
xây dựng dàn bài để nghi nhớ tài liệu
Nắm được điều này các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái
quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em biết đâu là nội dung quan trọng
Hoạt động học là do học sinh thực hiện các em phải sử dụng nhũng năng lực
của bản thân như tư duy, tưởng tượng, chú ý., để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo của các môn học để hình thành và phát triển nhân cách của người học
theo mục tiêu đặt ra cho các em ở khối lớp 2.
/.7.2. Một số vấn đề về dạy học Toán 2
ỉ. 1.2.1. Mục tiêu dạy học Toán ỉớp 2
Dạy học toán 2 nhằm giúp HS:
- Bước đầu có nhũng kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về:
Phép cộng phép trừ có nhớ trong phạm vi 100; phép nhân, phép chia và
bảng nhân 2, 3, 4, 5, bảng chia 2, 3, 4, 5; tên gọi và mối quan hệ giữa thành
phần và kết quả của từng phép tính; mối quan hệ giữa phép cộng và phép trù’,
phép cộng và phép nhân,..; các số tới 1000, phép cộng và phép trù' các số có
ba chữ số (không nhớ); các phần bằng nhau của đơn
7
vị dạng
-c á c
đơn vị đo độ dài đêximet (dm), mét (m), kilômet (km), milimet (mm); giờ và
phút, ngày và tháng; kilôgam (kg), lít (1); nhận biết một số hình học (hình chữ
nhật, hình tứ giác, đường thắng, đường gấp khúc); tính độ dài đường gấp
khúc, tính chu vi của hình tam giác, hình tứ giác; một số dạng bài toán có lời
văn chủ yếu giải bằng một phép tính cộng trừ nhân hoặc chia.
- Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành về: cộng và trù’ có nhớ
tring phạm vi 100; nhân và chia trong phạm vi các bảng tính; giải một số
phương trình đơn giản dưới dạng bài “Tìm x”; tính giá trị biểu thức số (dạng
đơn giản); đo và ước lượng độ dài, khối lượng, dung tích; nhận biết hình và
- Phép trù’ các số có tới ba chữ số, không nhớ. Tính nhẩm và tính viết.
- Tính giá trị các biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trù', không
có dấu ngoặc.
❖ Phép nhân và phép chia
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép nhân. Lập phép nhân tù’ tổng các
số hạng bằng nhau. Giới thiệu thừa số và tích.
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép chia: Lập phép chia từ phép nhân
có một thừa số chưa biết khi biết tích và thừa số kia. Giới thiệu số bị chia, số
chia, thương.
- Lập bảng nhân 2, 3, 4, 5 có tích không quá 50.
- Lập bảng chia 2, 3, 4, 5 có số bị chia không quá 50.
- Nhân với 1 và chia cho 1.
- Nhân với 0. Số bị chia là 0. Không thể chia cho 0.
- Nhân, chia nhẩm trong phạm vi các bảng tính. Nhân số có tới hai chữ
số với số có một chữ số không nhó’ (chỉ với số tròn chục). Chia số có tới hai
chữ số cho số có một chữ số, quy về một bước chia trong phạm vi các bảng
tính.
- Tính giá trị biểu thức số có tới hai dấu phép tính cộng, trù’ hoặc nhân,
chia.
9
Giải bài tập dạng: “Tìm
X,
biết: a x x = b ; x : a = b (với a là số có một chữ
số, khác 0; áp dụng phép nhân, chia trong bảng và sử dụng mối quan hệ giữa
- Bản chất của phương pháp này là sử dụng các câu hỏi để gợi mở cho HS
tìm tòi, suy nghĩ nhằm đạt được nhũng mục tiêu của bài học. Thông qua việc
tìm tòi suy nghĩ và trả lời câu hỏi, HS sẽ hiểu và thể hiện được những suy
nghĩ, nhũng ý tưởng và nhũng khám phá của nội dung bài học.
- Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp vấn đáp này theo mô hình VNEN
thì GV phải chuẩn bị rất nhiều câu hỏi vì HS học thành các nhóm khác nhau
và tiến bộ học tập của các nhóm là không giống nhau. Quan trọng hơn cả GV
phải có kĩ thuật đặt câu hỏi làm cho HS không khó hiểu.
b. Phương pháp trò chơi
- Bản chất của phương pháp này là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt
động của HS. Thông qua trò chơi, GV truyền tải những nội dung, mục tiêu
của bài học. Đây là một phương pháp học tập có sự họp tác và sự tự đánh giá
rất cao giữa các HS với nhau.
- Khi sử dụng phương pháp này, GV cần lun ý:
Lựa chọn hoặc tự thiết kế trò chơi đảm bảo các yêu cầu như: mục đích
của trò chơi phải thể hiện mục tiêu bài học hoặc chương trình học, hình thức
chơi đa dạng giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận
động, luật chơi đơn giản để HS dễ nhớ, để thực hiện và huy động nhiều HS
tham gia để tăng cường kĩ năng hợp tác giữa các cá nhân HS với nhau.
Cần chọn người quản trò có năng lực phù họp với yêu cầu cảu trò chơi: GV
cần tổ chức trò chơi vào thời gian thích họp của bài học để vừa làm cho HS
hứng thú vào bài học, vừa hướng HS tiếp tục tập trung các nội dung khác của
bài học một cách hiệu quả.
c. Phương pháp học tập theo nhóm
-
Phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp dạy học hợp tác, trong
đó GV tổ chức cho HS hoạt động họp tác với nhau trong các nhóm nhỏ để
đã được UNICEF, UNESCO, Ngân hàng Thế giới (WB) ủng hộ và đánh giá
cao.
Dự án triển khai thí điểm VNEN tại Việt Nam được Ọuỹ hỗ trợ toàn
cầu về giáo dục của Liên hiệp quốc tài trợ không hoàn lại 84,6 triệu USD giai
đoạn 2011-2015. Năm 2011-2012, mô hình này đã bắt đầu triển khai thí điểm
tại 24 trường học thuộc 12 huyện ở 6 tỉnh là Hà Giang, Lào Cai, Hòa Bình,
12
Khánh Hòa, Kon Tum và Đắk Lắk. Năm học 2012-2013 là năm học thứ 2 mô
hình VNEN được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thí điểm tại 1.447 trường
Tiểu học trên 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong năm học 2013-2014, số
trường áp dụng mô hình VNEN đã được nhân rộng rất nhiều ở khắp các tỉnh
thành trên cả nước và đã mang lại những hiệu quả tích cực.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, mô hình VNEN tăng cường sự họp tác
giữa GV và HS, tạo không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện. Mô hình này
được xây dựng dựa trên quan điểm đổi mới giáo dục: “lấy HS là trung tâm”.
Trường học mới VNEN là nơi HS cùng nhau học tập để lĩnh hội những kiến
thức liên quan mật thiết tới cuộc sống của các em. Ớ đó GV là người tổ chức,
hướng dẫn và khích lệ các em trong việc tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức và hình
thành , phát triển kĩ năng giao tiếp, ứng xử dân chủ, bình đẳng. Hơn thể nữa
GV phải tự trau dồi, năng cao trình độ của chính bản thân mình. Trong mô
hình học tập mới này, phụ huynh và cộng đồng cùng tham gia tích cực vào
việc chăm sóc và giáo dục con em mình. Đặc điểm nổi bật của mô hình này là
đổi mới về các hoạt động sư phạm như: đổi mới phương pháp dạy, đổi mới
phương pháp học, đổi mới phương pháp đánh giá HS, đổi mới tổ chức lớp
học. Một bài học được thiết kế bao gồm những hoạt động như: hoạt động cơ
bản, hoạt động thực hành và úng dụng. Tùy từng môn học mà tài liệu có sự
thiết kế phù họp với hoạt động cá nhân, cặp đôi và nhóm 3 đến 5 HS. Tất cả
Tài liệu VNEN dùng thay cho SGK, sách hướng dẫn GV và một phần
sách bài tập dùng cho HS “3 trong 1”. Sự cải tiến sáng tạo này giúp cho sự
tương tác của GV và HS được thường xuyên, sâu rộng hơn và có tác động liên
tục trong suốt quá trình dạy học. Tài liệu không chỉ giúp GV sử dụng thuận
tiện trong giảng dạy mà còn định hướng cho GV đi đúng quan điểm tiếp cận
sư phạm của mô hình VNEN
Mỗi hướng dẫn học có lô-gô rõ ràng, kênh hình màu sắc phong phú
kích thích sự hứng thú học tập, kênh chữ to rõ rằng phù hợp với HS. Lượng
bài tập cơ bản phù hợp, ngắn gọn. Mỗi hướng dẫn học môn toán lớp 2 gồm có
2 phần: phần mục tiêu và phần các hoạt động. Tài liệu tạo điều kiện thuận lợi
cho GV khi tổ chức hiệu quả dạy học theo nhóm, theo cặp hoặc cá nhân. Phần
mục tiêu nêu yêu cầu về kiến thức kĩ năng mà HS cần đạt được sau khi học
một bài cụ thể, phần các hoạt động bao gồm nhũng hoạt động khác nhau chủ
yếu do HS thực hiện phần này gồm 3 loại hoạt động chính: Hoạt động cơ bản,
Hoạt động thực hành, Hoạt động ứng dụng. Tài liệu viết dưới dạng “mở” giúp
GV có điều kiện nghiên cún, điều chỉnh nội dung học tập, lựa chọn kỹ thuật
dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và đặc điểm vùng miền. Từ đó phát
huy được sự sáng tạo của GV, làm cho bài giảng sinh động gần gũi với HS.
Trong lớp học góc môn toán là góc trung bày các tài liệu, các đồ dùng
liên quan đến môn toán ở Tiểu học như; Tài liệu in ấn: là nhũng cuốn sách;
những tài liệu giới thiệu cách học toán, cách tính; những tờ áp phích; các
tranh ảnh minh họa về các phép toán...giúp học sinh tăng cường hiểu biết và
mở rộng kiến thức.
Đồ dùng được cấp phát: là những bộ thiết bị dạy học liên quan tới môn toán.
Các sản phẩm do GV, cộng đồng và HS làm ra hoặc dễ tìm ở địa phương như:
hình vẽ mô hình, các sản phẩm cắt dán hay sản phẩm thực hành, thậm chí là
những viên sỏi, viên đá..
15
• HS rút ra được kiến thức, khái niệm hay quy tắc lí thuyết, thực hành
mới.
• Neu là một dạng toán mới thì HS phải nhận biết được dấu hiệu, đặc
điểm và nêu được các bước giải dạng toán này.
Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp
HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học.
Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm,
hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm
tòi, khám phá phát hiện của HS... Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS
đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả.
Bước 4. Thực hành
Kết quả cần đạt:
• HS nhớ dạng cơ bản một cách vũng chắc; làm được các bài tập áp dụng
dạng cơ bản theo đúng quy trình.
• HS biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá
trình giải bài toán dạng cơ bản.
Cách làm:
• Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn luyện việc nhận
dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản. GV quan sát giúp HS nhận
ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện.
• Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù họp với khả năng
của HS. GV tiếp tục giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với
các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên.
• Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lóp, cho từng cá nhân, hoặc theo
nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ HS.
Bước 5. Vận dụng
Ket quả cần đạt:
• HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.
Như vậy việc học tập qua trải nghiệm xảy ra khi một người sau khi tham gia
trải nghiệm nhìn lại và đánh giá, xác định cái gì là hữu ích hoặc quan trọng
18
cần nhớ, và sử dụng nhũng điều này để thực hiện các hoạt động khác trong
tương lai.Với môn toán ở tiêu học nói chung và môn toán lớp 2 nói riêng thì
việc dạy học để hình thành kiến thức mới thông qua các hoạt động trải
nghiệm là rất cần thiết nó giúp người học không chỉ huy động được vốn kiến
thức mà các em có được để giải quyết các tình huống học tập đặt ra mà nó còn
khơi gợi niềm đam mê thích thú với môn học giúp các em có cơ hội khẳng
định chính mình với mọi người và làm chủ kiến thức lĩnh hội được.
Ị. 1.4.2. Vai trò của hoạt động trải nghiệm toán 2
Đối với việc dạy học toán 2 thì hoạt động trải nghiệm giữ vai trò rất
quan trọng trong quá trình học tập đặc biệt là trong hoạt động hình thành kiến
thức mới nó là đòn bẩy cho việc tiếp thu kiến thức toán học của học sinh lớp 2
nói riêng và HS Tiểu học nói chung.
- Hoạt động trải nghiệm trong dạy học toán giúp học sinh sử dụng tổng
họp các giác quan (nghe, nhìn, chạm, ngửi...) có thể tăng khả năng lim giữ
những điều đã học được lâu hơn.
- Các cách thức dạy và học đa dạng của phương pháp trong môn toán ở
Tiểu học có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính năng động và thích ứng của
người học.
- Người học được trải qua quá trình khám phá kiến thức toán học và tìm
giải pháp từ đó giúp phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin.
- Việc học toán trở nên thú vị hơn với người học và việc dạy toán trở nên
thú vị hơn với người dạy.
- Khi học sinh được chủ động tham gia tích cực vào quá trình học trong
các giờ toán ở Tiểu học, các em sẽ có hứng thú và chú ý hơn đến những điều