DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA CHỦ ĐỀ
PHƯƠNG TRÌNH VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH
ĐỖ THỊ HỒNG MINH
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
BPT
Bất phương trình
CNTT
Công nghệ thông tin
DHTT
Dạy học tương tác
ĐC
Đối chứng
GQVĐ
GV
HS
Phương trình
SGK
Sách giáo khoa
SPTT
Sư phạm tương tác
THPT
Trung học phổ thông
VIE
PT
TN
Thực nghiệm
Tr.
Trang
MỤC LỤC
Trang
20
1.2.1. Dạy học và quá trình dạy học
20
1.2.2. Tương tác
21
22
1.2.4. Cơ sở khoa học của dạy học tương tác
23
1.2.5. Các nhân tố trong dạy học tương tác
24
1.2.5.1. Người học – người làm việc chủ động
24
1.2.5.2. Người dạy – người hướng dẫn, trợ giúp
26
1.2.5.3. Môi trường - ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình dạy học
1.2.6. Sự tương tác giữa các nhân tố trong dạy học tương tác
55
Chương 2. TỔ CHỨC DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN Ở
56
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1. Tổ chức dạy học tương tác
.NE
T
2.1.1. Khái niệm tổ chức dạy học tương tác
56
56
2.1.2. Các yêu cầu đối với việc tổ chức dạy học tương tác.
57
2.1.3. Đặc trưng của việc tổ chức dạy học tương tác.
58
2.2. Các giai đoạn tổ chức dạy học tương tác
60
2.3.3. Học theo lớp
76
VIE
2.4. Kỹ thuật dạy học tương tác môn Toán ở trường Trung học phổ thông
77
2.4.1. Kỹ thuật tổ chức hoạt động dạy học
78
2.4.2. Kỹ thuật tạo tình huống gợi vấn đề
87
2.4.3. Kỹ thuật sử dụng câu hỏi
88
2.4.4. Kỹ thuật đánh giá
92
2.4.5. Kỹ thuật sử dụng phương tiện dạy học
94
trường Trung học phổ thông
104
3.1.2. Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng
105
THS
3.1.1. Vị trí, vai trò của Phương trình và Bất phương trình
3.1.3. Tiềm năng dạy học tương tác chủ đề Phương trình và Bất phương trình
3.2. Định hướng xây dựng và thực hiện các biện pháp
3.3. Một số biện pháp dạy học tương tác chủ đề phương trình và bất
TM
A
phương trình
3.3.1. Biện pháp 1: Tạo môi trường học tập hứng thú, thân thiện và hợp tác
trong quá trình dạy học.
3.3.2. Biện pháp 2: Tạo cơ hội cho học sinh được hoạt động, được giao
VIE
tiếp, được thể hiện năng lực của bản thân.
3.3.3. Biện pháp 3: Tạo tình huống dạy học tương tác khi sử dụng các
4.1.2. Đối tượng thực nghiệm
127
4.1.3. Nội dung thực nghiệm
127
4.1.4. Tiến trình thực nghiệm
130
4.1.5. Đo đạc và xử lý số liệu
134
.NE
T
4.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm
139
4.2.1. Kết quả thực nghiệm vòng 1
139
4.2.2. Kết quả thực nghiệm vòng 2
Hình 1.1
Sơ đồ cấu trúc HĐ dạy – học: bộ ba Người học – Người dạy –
Môi trường trong quan điểm SPTT
Trang
22
Sử dụng CNTT học trực tuyến qua mạng
37
Hình 1.3
Sơ đồ vị trí và mối quan hệ giữa người học – người dạy – môi trường
39
Hình 1.4
Sơ đồ sự tương tác của 3 yếu tố trong DHTT
41
Hình 1.5
Sơ đồ HĐ dạy học theo lý thuyết tình huống
53
Hình 2.6
Cách thực hiện Sơ đồ KWL
84
Hình 2.7
Bản đồ tư duy mô tả các kiến thức cần nhớ về Logarit
87
Hình 2.8
Sử dụng phần mềm Hot potatoes thiết kế dạng bài tập trắc
97
TM
A
THS
.NE
T
Hình 1.2
nghiệm điền khuyết
101
Hình 3.1
Hình ảnh sử dụng phần mềm Sketchpad mô tả trực quan hình
109
ảnh vệ tinh quay xung quanh Trái Đất
Hình 4.1
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của các lớp thực nghiệm và các
lớp đối chứng (vòng 1)
Hình 4.2
Biểu đồ so sánh kết quả học tập trung bình của lớp thực nghiệm
và đối chứng theo các khối (vòng 1)
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của lớp đối chứng và lớp thực
nghiệm (vòng 2)
Hình 4.4
.NE
T
Hình 4.3
Biểu đồ cột so sánh kết quả học tập trung bình của lớp thực
168
Hình 4.9
Sử dụng phần mềm Sketchpad mô phỏng sự dịch chuyển của điểm
THS
Hình 4.5
TM
A
M trên đường tròn lượng giác tương ứng với giá trị hàm số y= sinx
172
Hình 4.10
Sử dụng phần mềm Sketchpad mô phỏng các nghiệm của PT sinx =a
173
Hình 4.11
Sử dụng hình ảnh động xét nghiệm của PT sinx = a
175
Hình 4.12
Sử dụng “khăn trải bàn” trong các nhóm học tập tương tác
203
Hình 4.17
HS trao đổi nhóm
203
Hình 4.18
Các nhóm viết ý kiến của mình vào giữa “khăn phủ bàn”
204
Hình 4.19
Các nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình trước lớp
204
Hình 4.20
Tác giả Luận án phỏng vấn HS khi vừa kết thúc giờ học tương tác
205
TM
A
Bảng 1.4
HĐ nào khi thiết lập kế hoạch dạy học
Bảng 1.5
Các hình thức đối thoại tương ứng với các dạng tương tác
Bảng 4.1
Phân phối tần suất kết quả điểm kiểm tra của HS lớp thực
nghiệm và đối chứng trong các tiết dạy (vòng 1)
Tổng hợp điểm số sai lệch của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
VIE
Bảng 4.2
qua các bài kiểm tra theo các khối lớp (vòng 1)
Bảng 4.3
Tổng hợp kết quả các tham số thống kê điểm kiểm tra của HS
trong các tiết dạy (vòng 1)
Bảng 4.4
Tổng hợp kết quả học tập trung bình của lớp thực nghiệm
145
và lớp đối chứng cả 3 khối
Bảng 4.7
Tổng hợp kết quả các tham số thống kê điểm kiểm tra của HS
trong các tiết dạy (vòng 2)
Bảng 4.8
Kết quả khảo sát về kỹ năng tương tác của HS
Bảng 4.9
Kết quả khảo sát về kỹ năng giao tiếp và hòa nhập với tập thể
Bảng 4.10
.NE
T
của HS
Kết quả khảo sát về tinh thần trách nhiệm với việc học tập của
HS
145
146
VIE
Bảng 4.14
150
150
MỤC LỤC PHỤ LỤC
Trang
PHỤ LỤC 1
Một số bài soạn vận dụng dạy học tương tác với chủ đề
162
phương trình và bất phương trình
Giáo án 1 : BPT bậc 2 một ẩn ( Dấu của tam thức bậc hai- tiết
2- Đại số 10)
.NE
T
Giáo án 2: Bài PT lượng giác cơ bản (tiết 1,2) – Đại số và Giải tích 11
162
169
TM
A
PHỤ LỤC 2
178
195
196
PHỤ LỤC 4
Một số hình ảnh tại lớp thực nghiệm
202
PHỤ LỤC 5
Các chứng nhận của đơn vị thực nghiệm
205
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Theo tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Trong quá trình giáo dục phải kiên trì
đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra,
thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau
chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động; các em còn học được ở bạn tri thức, kĩ
năng và còn được rèn luyện phong cách sống hòa nhập, biết lắng nghe, biết phê
phán, biết tham gia.
DHTT là một hướng đi mới trong đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay.
Trong cuốn “Giáo dục – một kho báu tiềm ẩn” do Giắc Đờ-lo làm tổng chủ biên, tác
giả đã đưa ra nhận định đi vào thế kỷ mới quan hệ thày trò (phương pháp tương tác
2
thày trò) giữ vai trò trung tâm trong nhà trường. Vai trò của sự tương tác còn được
thể hiện trong tác phẩm “Dạy học và PPDH trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng
Ngọ đã ví tri thức được nảy sinh từ sự tương tác giống như “lửa không được phát
sinh từ cái bùi nhùi hay từ các viên đá mà được nảy sinh khi các viên đá được cọ
sát vào nhau”[61, tr. 295]. Khi viết lời tựa cho tác phẩm “Tiến tới một phương pháp
SPTT” của hai tác giả Jean- Marc Denommé & Madeleine Roy, nhà khoa học Phạm
Minh Hạc đã nhấn mạnh: “Sự tương tác hỗ trợ, cùng nhau hợp tác đi vào con
.NE
T
đường tiếp thu, lĩnh hội các tri thức, kỹ năng, thái độ thành vốn sống, ăn nhập vào
vốn kinh nghiệm của bản thân, tạo nên một tiềm năng và tiếp đó thành nhân cách,
thành năng lực HĐ của từng người – thành người, làm người và ở đời.”[38, tr. 12]
Trong quá trình dạy học hiện đại, quan hệ tương tác hết sức được xem trọng.
Xét ở góc độ nào đó, nó phải được nhìn nhận như một nguyên tắc then chốt của dạy
trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông nhưng chưa có công trình nào nghiên
cứu việc DHTT với chủ đề PT và BPT.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là : "DHTT trong môn Toán
ở trường THPT qua chủ đề PT và BPT” với mong muốn đưa đề tài nghiên cứu này áp
dụng vào thực tiễn, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường THPT.
2. Mục đích nghiên cứu
.NE
T
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về DHTT và thực tiễn DHTT, đề
xuất một số biện pháp DHTT trong môn Toán qua chủ đề PT và BPT nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học Toán ở trường THPT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT .
4. Giả thuyết khoa học
THS
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình DHTT môn Toán ở trường THPT.
Nếu đề xuất được một số biện pháp DHTT trong môn Toán phù hợp với thực
tiễn dạy học ở trường THPT thì có thể giúp HS học tập tích cực, chủ động và sáng
TM
A
tạo, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường THPT.
điểm SPTT và những công trình có liên quan đến đề tài luận án.
- Dự giờ, trao đổi với thầy cô giáo tại trường đại học cũng như các trường phổ
thông về việc tổ chức HĐ tương tác trong dạy học môn Toán.
- Điều tra nhằm tìm hiểu thực tế khả năng DHTT trong dạy học môn Toán ở
trường phổ thông.
THS
7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Nhằm kiểm nghiệm trên thực tiễn một phần tính khả thi và hiệu quả của đề tài
nghiên cứu.
7.4. Phương pháp chuyên gia
TM
A
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia
7.5. Phương pháp thống kê toán học
- Xử lý các kết quả điều tra và TN.
8. Nội dung đưa ra bảo vệ
- Những quan niệm của tác giả luận án về DHTT, tình huống DHTT và các
VIE
kiểu tình huống DHTT có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn;
THS
Chương 4. Thực nghiệm sư phạm
6
Chương 1. DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học tương tác
1.1.1. Những kết quả nghiên cứu trên thế giới
Quan hệ tương tác giữa các yếu tố của HĐ dạy và học đã được đề cập từ rất
sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại. Khổng Tử (551 – 479 TCN) hay Socrate
(469 – TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với người thầy giáo và đề cao vai
.NE
T
trò tích cực, chủ động trong học tập của người học khi mô tả HĐ dạy học.
Tư tưởng SPTT đã được nhiều người nghiên cứu. Trong các tài liệu sư phạm
của Liên Xô, Đức trước đây, người ta đã nói nhiều đến tương tác Dạy - Học. Các
nhà giáo dục Liên Xô như : N.V. Savin, T.A. Ilina, B.P. Êsipốp, Iu.K. Babanxki,…
đã đánh giá tính chất nhiều nhân tố trong quá trình dạy học (ba nhân tố : Dạy – Nội
THS
dung – Học), khẳng định mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố Dạy và Học. Tuy
nhiên, vẫn chưa bao quát hết chức năng và cấu trúc của từng yếu tố, chưa nêu rõ
được cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học nên chưa
có tác dụng phát huy hết tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình dạy học.
.NE
T
loại tình huống.
- Môi trường (theo các tác giả) không phải là một yếu tố tĩnh, bất động, mà
đích thực là một thành tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học. Môi trường không chỉ ảnh
hưởng đến người học, mà quan trọng ở chỗ nó làm thay đổi người học, người dạy
nhằm đảm bảo sự thích nghi của họ trước những đòi hỏi của môi trường, và ngược
THS
lại, người học và người dạy cũng làm thay đổi chính môi trường nữa.
Jean- Marc Denommé & Madeleine Roy là hai tác giả cuốn sách “Tiến tới một
phương pháp SPTT (bộ ba: Người học - người dạy – môi trường)” [38] và “SPTT
một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy” [37] đã khởi xướng một cách tiếp
TM
A
cận sư phạm, gọi là phương pháp SPTT. Hai cuốn sách này trình bày về sự tương
tác giữa ba tác nhân trong quá trình dạy học là người dạy, người học và môi trường.
Chất lượng dạy học tốt hay không là do sự tương tác của ba tác nhân này có tốt hay
không. Trong hai cuốn sách này, các tác giả này đã nói tới một trường phái sư phạm
học tương tác cùng nền tảng lý luận của nó. Tư tưởng sư phạm học tương tác được
VIE
J.M.Denommé và M.Roy giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2000. Trong
THS
đồng như: xác nhận các yếu tố cơ bản của sư phạm học tương tác là Dạy – Học –
Môi trường, chức năng của từng yếu tố và làm rõ quan hệ giữa các yếu tố trong HĐ
dạy học. Tuy nhiên J.M. Denommé và M.Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tố
môi trường một cách cụ thể và trực quan, nhưng lại chưa làm rõ bằng cách nào và
TM
A
công cụ nào để các nhà sư phạm phát huy tác động tích cực của môi trường đến
người học. Trong khi đó, G.Brousseau và các cộng sự của ông đã đưa được ra
phương tiện, các công cụ để kích thích sự hứng thú và xây dựng các tình huống dạy
học, và các cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa Dạy – Học – Môi trường
để dạy học đạt hiệu quả cao. Như vậy các tác giả đã kế thừa, bổ sung cho nhau làm
VIE
cho tư tưởng SPTT phát triển và ngày càng phong phú.
Gần đây, trong cuốn sách “The construction of new mathematical knowledge
in classroom interaction” (Xây dựng kiến thức toán học mới trong lớp học tương
tác), tác giả Heinz Steinbring [101] cũng đưa ra cách tiếp cận dạy học theo quan
điểm sư phạm này. Nội dung cuốn sách đề cập tới sự kết nối và đa dạng của những
khái niệm cơ bản của lý thuyết nền và nhận thức về bản chất của kiến thức toán học.
Tác giả xây dựng những lý thuyết cơ bản và phương pháp nhận thức theo định
hướng phân tích sự tương tác trong toán học cùng những kiến thức toán học và hệ
9
môi trường tương tác cao đó là Bảng điện tử tương tác Activboard. Bảng điện tử
này được xem như sản phẩm nòng cốt trong việc xây dựng giải pháp lớp học tương
tác của công ty Promethean (Anh quốc) [97]. Đây cũng là công ty đi tiên phong về
VIE
lĩnh vực xây dựng lớp học tương tác, đưa truyền thông đa phương tiện phục vụ cho
việc dạy và học. Loại bảng này có chức năng của màn hình tiếp xúc trực tiếp, cho
phép người sử dụng dùng bút thể hiện tự do những nội dung cần trình bày và kết nối
được với các môi trường mạng, Internet. Các GV và HS các cấp đều có thể dùng hệ
thống này để xây dựng, tiếp cận các bài giảng điện tử, giáo án hay các thư viện số
hóa trên mạng; trình bày những cuộc thảo luận nhóm, trắc nghiệm trực tiếp nhờ
những phần mềm đi kèm.
10
So với môi trường dạy học chỉ bằng sách vở truyền thống và hệ thống các
phòng học bộ môn có nối mạng máy tính, Activboard có nhiều ưu điểm vượt trội
hơn, tiết kiệm nhiều chi phí và hiện đang là sản phẩm được nhiều nền giáo dục quốc
gia trên thế giới ứng dụng.
Ưu điểm nổi bật của Hệ thống giảng dạy tương tác và đánh giá Activboard:
- Đây là công nghệ chuyên dùng cho phục vụ dạy và học, hàm lượng công
nghệ được ứng dụng đến 99% vào công tác giảng dạy và đánh giá hiệu quả dạy và
.NE
T
học giúp tiết kiệm tối đa hiệu quả đầu tư vào con người và vật chất.
- Với trình độ cơ bản về CNTT, GV bộ môn có thể vận dụng và khai thác
Promethean được nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quí của các tổ chức
giáo dục uy tín thế giới vì có công đóng góp vào sự nghiệp giáo dục chung và sản
phẩm luôn được cải tiến công nghệ giáo dục làm nâng cao chất lượng dạy học và
đánh giá, đặc biệt tạo ra một động lực rất lớn giúp GV yêu nghề, sáng tạo; HS tích
11
cực và tiếp thu hiệu quả. Để có thể sử dụng bảng điện tử tương tác Activboard GV
có thể biên soạn giáo án bằng một trong các phần mềm: Activprimary, Activstudio,
Activsoftware Inspire Edition tùy theo cấp độ từng lớp học với những chức năng
chuyên biệt.
Hệ thống dạy và học tương tác (Digital Interactive Classroom) là một giải
pháp dạy và học hoàn chỉnh, tích hợp phần mềm và phần cứng. Đây là hệ thống
bảng điện tử thông minh tương tác trực tuyến, tạo môi trường tương tác toàn diện,
.NE
T
thu hút sự tập trung chú ý của trẻ, kích hoạt khả năng tư duy, sáng tạo với những bài
giảng thật sự sinh động, liên kết với thực tế cuộc sống. DHTT là xu hướng mới của
giáo dục hiện nay. Hình thức dạy học này mang đến cho người học một môi trường
lý tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các họat động được thiết
kế bởi người dạy. Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duy
THS
sáng tạo và các kỹ năng sử dụng những công cụ hiện đại của khoa học công nghệ,
đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đối với sản phẩm đào tạo.
Trong các hình thức DHTT, sử dụng phần mềm và các phòng học đa chức
Toán ở trường phổ thông” [59], tác giả Bùi Văn Nghị đã trình bày một cách sơ lược
việc vận dụng thuyết tương tác trong dạy học một vài nội dung của chương trình
Toán ở phổ thông. Trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học “Tổ chức dạy học theo quan
.NE
T
điểm SPTT trong các trường (khoa) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay”
[88], tác giả Nguyễn Thành Vinh cũng đã trình bày một số vấn đề cơ bản của
phương pháp SPTT. Trong cuốn sách “Dạy học và PPDH trong nhà trường” [61],
tác giả Phan Trọng Ngọ đề cập đến sự tương tác giữa người dạy, người học và đối
tượng dạy học. Tác giả đã đưa ra một nhóm phương pháp tổ chức tương tác hành
THS
động học bao gồm: Các phương pháp kịch, các PPDH bằng trò chơi, và DHTT theo
lí thuyết lịch sử văn hoá về sự phát triển các chức năng tâm lí cấp cao của L.X.
Vưgotxky. Tác giả khẳng định rằng trong bất kỳ quá trình dạy học nào cũng tồn tại
sự tương tác giữa ba yếu tố: người dạy, người học và đối tượng dạy học. Trong
TM
A
cuốn sách “PPDH truyền thống và đổi mới” [81], tác giả Thái Duy Tuyên cũng
trình bày những khái niệm của phương pháp sư phạm học tương tác, các dạng bài
học trong sư phạm học tương tác và các dạng tương tác trong dạy học.
Về vấn đề môi trường dạy học theo phương pháp SPTT, tác giả Nguyễn Thị
Bích Hạnh (khoa Tâm lý Giáo dục học trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí
VIE
THS
đang được đặt ra trong cuốn sách này với các biện luận và phân tích cụ thể. Điểm
sáng của cuốn sách này là việc tác giả đã chỉ ra được các PPDH tích cực áp dụng
trong môi trường SPTT và CNTT cùng các phần mềm hữu ích được sử dụng trong
dạy học. Tuy nhiên, cuốn sách chưa đề cập tới việc áp dụng quan điểm SPTT vào
TM
A
dạy học một môn học cụ thể, đặc biệt trong môn Toán.
Gần đây nhất, trong luận án tiến sĩ “Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo
GV tiểu học trình độ đại học” [78] được bảo vệ năm 2013, tác giả Phạm Quang
Tiệp đã xây dựng khung lý thuyết về dạy học dựa vào tương tác. Tác giả đã phân
tích và đánh giá thực trạng dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo GV tiểu học
VIE
trình độ đại học, đồng thời thiết kế được năm mô hình dạy học dựa vào tương tác và
một số KTDH, nhằm triển khai hiệu quả những mô hình dạy học này trong thực tiễn
đào tạo GV trình độ đại học.
Ngoài ra, còn rất nhiều luận án và luận văn thạc sỹ bàn về DHTT như luận văn:
“Vận dụng quan điểm SPTT vào dạy học nội dung Phép dời hình và phép đồng
dạng trong mặt phẳng, Hình học 11 nâng cao trường THPT” [10] của Vũ Văn
Công; Luận văn: "Vận dụng SPTT trong dạy học môn Toán ở lớp 3" [71] của
Nguyễn Thế Sang; hay “Tổ chức dạy học theo nhóm nhằm tăng cường tương tác sư
14
tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các họat động được thiết kế
bởi người dạy. Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duy
sáng tạo và các kỹ năng sử dụng những công cụ hiện đại của khoa học công nghệ,
đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đối với sản phẩm đào tạo. Tuy nhiên, việc vận dụng
VIE
quan điểm SPTT vào dạy học các nội dung cụ thể của các môn học trong nhà
trường còn ít được nghiên cứu.
Ở Việt Nam hiện nay, đã và đang áp dụng quan điểm này tuy chưa được rộng
rãi ở một số trường phổ thông. Việc áp dụng quan điểm này được thể hiện rõ nhất
đó là thi giải toán qua mạng cho HS Tiểu học thông qua việc sử dụng học liệu Toán
tương tác của tác giả Hoàng Khánh Hòa đã được giới thiệu trên mạng Internet [99].
Học liệu Toán tương tác đã thu hút được sự tham gia đông đảo của các em HS Tiểu
học và phổ thông cơ sở, cũng như sự quan tâm của các bậc phụ huynh.