1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa chung, là sự tổng hợp
của thành tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và vận dụng những biện pháp
chuyên môn để điều khiển sự phát triển thể chất của con người một cách có
chủ đích nhằm nâng cao sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Trong đó, bơi lội được
xác định là một trong những môn thể thao trọng điểm thuộc nhóm I của thể
thao Việt Nam, có tính quần chúng cao, dễ luyện tập và rất được yêu thích.
Một ví dụ nhỏ cho thấy, đến giờ cao điểm có bể bơi chỉ 300m 2 nhưng phải
chứa đến 300 - 400 học viên [1].
Tuy nhiên hiện nay việc sử dụng các biện pháp bảo vệ trong bơi lội vẫn
còn nhiều hạn chế, như chỉ sử dụng kính và mũ bơi. Trong khi đó ảnh hưởng
của nguồn nước sinh hoạt và việc thường xuyên làm việc trong môi trường
nước đã được ADA xếp vào một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn
đến sâu răng. Thực trạng bệnh sâu răng và tổn thương tổ chức cứng của răng
trên nhóm đối tượng có nguy cơ cao trong đó có bơi lội trên thế giới có tỷ lệ
rất cao, ADA đã đưa ra những tiêu chí đánh giá nguy cơ sâu răng hay phá hủy
tổ chức cứng của răng như nguồn nước nhiều Chloride ít Fluoride, môi trường
pH acid…
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng tổn thương tổ chức
cứng của răng trên các vận động viên bơi lội được tiến hành. Một nghiên cứu
gần đây (Baghele 2013) trên 100 vận động viên bơi lội ở tuổi thiếu niên tại
Ấn Độ cho thấy: 90% có xói mòn răng, 94% có mất khoáng men răng, 88%
có nhạy cảm ngà ở mức độ nghiêm trọng khác nhau, và đặc biệt mức độ mòn
răng và mất khoáng men răng được chứng minh là tỷ lệ thuận với thời gian
luyện tập bơi lội [13].
2
Men răng
Thân răng
Ngà răng
Tuỷ răng
Chân răng
Xi măng
Lớp màng ngoài răng
Mạch máu và thần kinh
Hình 1.1. Hình ảnh cấu trúc giải phẫu răng
1.1.1. Men răng
- Thành phần hóa học: Thành phần hóa học của men răng thay đổi theo
sự trưởng thành của men răng. Bao gồm các chất vô cơ, chủ yếu là hỗn hợp
photpho, canxi dưới dạng Apatit, đó là dạng Hydroxy Apatit 3[(PO 4)2Ca3]
Ca(OH)2 chiếm khoảng 90 – 95%, các muối cacbonat của Mg và một lượng
nhỏ clorua, florua, và sulfat của natri và kali. Thành phần hữu cơ chiếm
khoảng 1%
4
1.1.2. Ngà răng
- Thành phần hóa học bao gồm: Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 30%,
chất tựa hữu cơ của ngà răng chiếm 91 – 92% Collagen và phần lớn là
Collagen type I. Thành phần vô cơ của ngà chiếm 70%,chủ yếu là hydroxy
apatit. Ngoàira trong thành phần ngà răng còn có một lượng nhỏ Carbon, Mg,
F, chì, kẽm … với những hàm lượng thay đổi.
1.1.3. Cement răng
- Là một dạng mô xương đặc biệt (có 61% là chất vô cơ, 27% chất hữu
cơ giàu sợi collagen, 12% là nước) bám chặt vào ngà chân răng và thường
- Quá trình hủy khoáng, tái khoáng
Động học sinh lý bệnh quá trình sâu răng là sự mất cân bằng giữa 2 quá trình huỷ
khoáng và tái khoáng. Khi đó các yếu tố gây mất ổn định mạnh hơn các yếu tố bảo vệ cho
mô răng.
Hình 1.2. Quá trình hủy khoáng tái khoáng
Sự huỷ khoáng (Demineralization
Sự chuyển muối khoáng quá nhiều từ men ra dịch miệng trong thời gian dài sẽ gây tổn
thương tổ chức cứng của răng. Trên lâm sàng và thực nghiệm đã chứng minh rằng ở giai
đoạn này, khi các matrix protein chưa bị huỷ thì thương tổn có khả năng hồi phục nếu
muối khoáng từ dịch miệng và cơ thể lắng đọng trở lại. Khi các matrix protein đã bị huỷ thì
sâu răng không thể hồi phục được.
Các thành phần tinh thể men răng có khả năng đề kháng lại mức giảm pH khác nhau:
ở mức pH < 5,5 Carbonat, Hydroxyapatite [Ca 10(PO4)6(OH)2] cùng CaF2 và các muối kim
loại khác bị hòa tan, Fluorapatite bền vững hõn chỉ tan khi pH giảm tới mức < 4,5. Do sự
mất khoáng không ðồng ðều này mà khung protein và tinh thể Fluorapatit bền vững hõn,
phần còn lại chýa bị tan trở thành khung ðỡ cho sự tái khoáng trở lại.
Sự giảm độ pH dẫn tới sự hủy khoáng men răng gây tăng khoảng cách giữa các tinh
6
thể Hydroxyapatite và hý hỏng các tinh thể này, mất khoáng bắt đầu ở dưới bề mặt men,
tổn thương lâm sàng được coi là sâu răng giai đoạn sớm khi lượng khoáng chất mất >10%
Sự tái khoáng (Remineralization)
Quá trình tái khoáng ngược với quá trình hủy khoáng, xảy ra khi pH trung tính, có đủ
ion F-, Ca2+ và PO43- trong môi trường nước bọt sau các bữa ăn, vi khuẩn (chủ yếu là
Streptococcus mutans, Lactobacille và Antinomyces viscosus) lên men các loại Carbohydrate,
Các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán
-
Phim cánh cắn: Dấu hiệu mất cản quang ở mặt bên hoặc mặt nhai trên
phim có thể cho phép chẩn đoán có sự hủy khoáng, không chẩn đoán được sự phá
hủy lớp bề mặt và hình thành lỗ sâu trừ khi tổn thương bị phá hủy rộng.
- ERM (đo điện trở men): đang được phát triển có độ nhạy và độ đặc hiệu cao
-
Ánh sáng xuyên sợi (DIFOTI: Digital Imaging Fiber – optic Trans –
illumination): hỗ trợ thăm khám lâm sàng và có thể thay thế cho tia X [20] [ 21].
Tiêu chuẩn chẩn đoán sâu răng của WHO năm 2005
Phân loại theo hệ thống đánh ICDAS
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn phát hiện sâu thân răng nguyên phát theo ICDAS
Mã số
Mô tả
0
Lành mạnh
1
Đốm trắng đục (sau khi thổi khô 5 giây)
2
Đổi màu trên men (răng ướt)
3
Vỡ men định khu (không thấy ngà)
4
Bóng đen ánh lên từ ngà
5
Xoang sâu thấy ngà
Â
m
thanh
M
àn
Laser
dioxide
Hình 1.5. Sơ đồ hoạt động của thiết bị Diagnodent pen 2190
* Nguồn: KaVo Diagnodent [14]
hình
kỹ
thuật
số
- Với bước sóng tia laser xác định (655nm), tổ chức răng bình thường
không phát huỳnh quang hoặc phát huỳnh quang rất ít, tổ chức sâu phát huỳnh
quang ít nhiều tuỳ theo mức độ tổn thương. Giá trị được chẩn đoán là có tổn
thương sâu răng khi con số hiển thị trên màn hình lớn hơn 14.
-
Laser huỳnh quang có độ nhạy và đặc hiệu đều cao, hiệu quả cao khi
dùng để chẩn đoán các tổn thương sớm, kỹ thuật đơn giản dễ thực hiện. Ngoài
khả năng phát hiện sâu răng cao laser còn có thể lượng hoá mức độ mất
khoáng nên có thể dùng để theo dõi quá trình điều trị, kết quả chẩn đoán có
thể sao chép lại để lưu trữ thông tin [13].
Thiết bị DD có thể phát hiện được mức độ của tổn thương sâu răng với độ
chính xác trên 90% [66]. Nhiều nghiên cứu cho thấy DD có độ nhạy là 0,8 –
0,96, độ đặc hiệu là 0,83 – 0,88 [76], [92].
Các nghiên cứu ứng dụng laser huỳnh quang tại nước ngoài như
Lussi (2001), Jan Kuhnisch (2008), Boston DW (2005) đều cho kết luận: DD
có khả năng phát hiện những tổn thương sâu răng sớm ở mức độ chưa hình
thành lỗ sâu, có độ nhạy và độ đặc hiệu đều cao hơn các phương pháp định
tính, DD có thể ứng dụng kiểm soát tổn thương, đánh giá kết quả tái khoáng
hóa các tổn thương sâu răng ở giai đoạn sớm [6].
Một số nghiên cứu trong nước như của Hoàng Tử Hùng (2009),
Nguyễn Quốc Trung (2010) cũng cho kết luận: DD có thể sử dụng làm công
cụ hỗ trợ phát hiện sâu răng sớm trên lâm sàng và có độ tin cậy cao hơn khi
đánh giá tổn thương mất khoáng đến ngà [6], [7].
1.2.1.4. Ảnh hưởng của môi trường miệng đến sâu răng và đánh giá nguy cơ
sâu răng:
- Nước bọt có vai trò quan trọng bảo vệ răng thể hiện ở
+ Dòng chảy và tốc độ lưu chuyển của nước bọt trong miệng là yếu tố làm sạch tự
nhiên, lấy đi các mảnh thức ăn thừa và vi khuẩn trên bề mặt răng.
+ Tạo lớp màng mỏng có tác dụng như một hàng rào bảo vệ răng khỏi sự tấn công của acid.
+ Tăng cường khoáng hóa nhờ có sẵn các ion canxi, fluor, phosphat.
+ Khả năng đệm, trung hòa acid.
+ Sự hiện diện của các yếu tố kháng khuẩn như IgA, Lyzozyme...
Ngày nay, dựa trên y học bằng chứng việc kiểm tra lưu lượng nước bọt cũng đã được
ADA đưa vào tiêu chí khi đánh giá nguy cơ sâu răng cho bệnh nhân [25], [26], [27].
- Chế độ ăn nhiều đường, nhất là ăn vặt thường xuyên giữa các bữa ăn chính làm tăng
nguy cơ sâu răng.
11
12
nước cao như Chi Lê (6.3), French Polynesia (10.7) [29], [30]. Tới những
năm 1997, chỉ số RSMT ở lứa tuổi 12 còn ở mức cao trên 4.4 ở Philippin, một
vài nước Châu Mỹ (Nicaragoa, Honduras) và hầu hết các nước Nam Mỹ
(Colombia, Chile, Bolivia, Paragoay), còn ở lứa tuổi trung niên (35 - 44),
trung bình mỗi người có trên 13.9 răng sâu [29], [30].
Theo thông báo của Tổ chức Sức khỏe Thế giới năm 1994 và 1997, hầu
hết các nước Đông Nam Á có trên 90% dân số bị sâu răng và chỉ số RSMT ở
lứa tuổi 12 còn ở mức cao [31]. Luan W.Mm và cộng sự đang theo dõi tình
hình sâu răng của những người lớn tuổi ở Trung Quốc thấy rằng trong 10 năm
(1984 - 1994) chỉ số RSMT đã tăng từ 9.8 lên 14.4, chỉ số này tăng rõ theo
tuổi đời [32].
Tình hình sâu răng ở Việt Nam
Năm 1977, Nguyễn Dương Hồng đã nghiên cứu về tình hình sâu răng ở
khu vực Hà Nội và nông thôn thấy rằng có 77% trẻ em 6 tuổi và 48% thanh
niên 18 tuổi có sâu răng. Từ năm 1983 đến 1991 thì sâu răng ở các tỉnh phía
Nam cao hơn phía Bắc, nhưng mức độ gia tăng sâu răng ở các tỉnh phía Bắc
cao hơn phía Nam. Nhìn chung, trong hai thập kỷ 1980 và 1990, thì sâu răng
ở Việt Nam có xu hướng gia tăng [1]. Kết quả điều tra toàn quốc năm 1991 và
2000 cũng cho thấy tình hình sâu răng ở nước ta còn ở mức cao, chỉ số RSMT
ở lứa tuổi 35 – 44 là 5.06 và >45 tuổi là 8.26 [7].
Bảng 1.3. Tỷ lệ sâu răng và chỉ số RSMT ở Việt Nam từ năm 1991- 2000.
Năm
1991 [13]
2000[14], [15]
Lứa tuổi
5.06
8.26
Đa số các nghiên cứu tình trạng bệnh sâu răng ở Việt Nam chỉ thực hiện ở
phạm vi từng tình hoặc một nhóm nhỏ trong cộng đồng. Điều tra quốc gia
được thực hiện năm 1999 [15] cho kết quả như sau:
Bảng 1.4. Sâu răng theo nhóm tuổi ở Việt Nam, năm 1999
Tuổi
6
12
15
35 – 44
≥ 45
Tỷ lệ sâu răng sữa
N
201
253
159
1160
999
và chỉ số smtr ở
Tỷ lệ %
Smtr/SMTR
83.7
6.16
56.6
1.87
67.6
70.9
32.3
86.3
89.9
88.4
95.5
95.6
95.0
93.7
SMTR
ĐBSH
0.15
0.81
0.97
0.93
1.54
2.17
6.32
ĐBSCL
0.41
1.42
2.45
3.02
3.81
6.45
10.68
Năm 2002, Trần Văn Trường và cộng sự công bố tính trạng sâu răng ở Việt Nam sau
Tại Việt Nam
+ Theo Trần Thị Bích Vân và cộng sự qua nghiên cứu trên học sinh cấp
hai tại Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng hệ thống đánh giá và phát hiện sâu
răng ICDAS kết quả cho thấy: ở mức độ S3 (sâu từ ngà) tỷ lệ sâu răng là
67,1% và số trung bình S3MT-MR là 4,29, ở mức độ S1 (sâu men và ngà) tỷ lệ
sâu răng là 99,3% và số trung bình S1MT-MR là 13,12 [32].
Rõ ràng nếu tính ghi nhận sâu răng ở mức S 3 theo tiêu chí của WHO năm
1997 thì chúng ta đã bỏ sót hơn 30% tổn thương sâu răng sớm cần phải điều
trị dự phòng ở thời điểm ban đầu.
+ Năm 2011, Vũ Mạnh Tuấn và cộng sự khảo sát thực trạng bệnh sâu răng
15
của trẻ theo hệ thống ICDAS tại Quảng Bình cho thấy: tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn
của trẻ 7-8 tuổi là 54,6%, chỉ số DMFT là 1,91 [18].
1.2.2. Nhạy cảm ngà
1.2.2.1. Định nghĩa nhạy cảm ngà
Theo định nghĩa của Hollan GR được thông qua tại hội nghị nhạy cảm
ngà răng ở Canada tháng 6 năm 2002 thì nhạy cảm ngà răng có các đặc trưng
sau: răng bị đau buốt rõ, diễn biến nhanh, xuất hiện từ vùng ngà bị lộ khi có
các kích thích (như nhiệt độ, hơi, cọ xát, thẩm thấu, hóa chất) mà không phải
do khiếm khuyết hoặc bệnh lý nào khác.
1.2.2.2. Cơ chế bệnh sinh
- Cơ chế dẫn truyền thần kinh của răng [10]:
• Tủy răng là mô giàu thần kinh. Dựa vào tốc độ dẫn truyền có thể
phân loại các sợi thần kinh ra thành: nhóm A – có tốc độ dẫn truyền
trên 2 m/s, và nhóm C – có tốc độ dẫn truyền dưới 2 m/s.
• Đau buốt do các sợi A delta dẫn truyền, trong khi các sợi C dẫn
truyền cảm giác đau âm ỉ. Sợi A có bao myelin liên quan tới quá cảm ngà.
nhiều gấp 8 lần và đường kính của ống ngà cũng rộng gấp đôi so với ngà ở
răng không quá cảm.
Hình 1.7. Thuyết thủy động lực học: (A) Nguyên bào tạo ngà, (B) Ngà,
(C) Sợi thần kinh A- δ, (D) Đuôi nguyên bào tạo ngà, (E) Sự dịch chuyển dịch
kích thích sợi thần kinh A- δ
17
1.2.2.3. Yếu tố nguy cơ gây nhạy cảm ngà
Hình 1.8. Các yếu tố nguy cơ gây nhạy cảm ngà
Mòn răng
Hình 1.9. Mòn răng
- Có nhiều nguyên nhân gây mòn răng:
• Chải răng không đúng kĩ thuật: chải răng ngang, lông bàn chải quá
cứng, lực chải quá mạnh.
• Chế độ ăn uống có nhiều chất có tính acid: nước uống có gas, nước hoa
quả chua, các thức ăn có vị chua, các thuốc có pH acid và tiếp xúc thường
xuyên với bề mặt răng (VD: vitamin C nhai, viên aspirin nhai)
• Tật nghiến răng: bệnh nhân thường bị mòn mặt nhai hoặc rìa cắn các răng
18
• Các nguyên nhân khác: tiếp xúc với acid (VD: công nhân sản xuất ắcquy chì), hay bị nôn và trào ngược dạ dày (VD: nghiện rượu…)
nhạy cảm ngà răng:
-Không đáp ứng (không ê buốt):
mã là 0.
-Có đáp ứng:
mã là 1.
-Có đáp ứng và yêu cầu ngừng kích thích:
mã là 2.
-Có đáp ứng, yêu cầu ngừng kích thích và có cảm giác đau: mã là 3.
* Phương pháp 2: đánh giá 4 mức độ
(0) không ê buốt;
(1) ê buốt nhẹ, thoáng qua, có thể chịu được;
(2) ê buốt nhiều, khó chịu;
(3) rất ê buốt và khó chịu kéo dài trên 10 giây
1.2.2.5. Dịch tễ học nhạy cảm ngà
Tỷ lệ nhạy cảm ngà trên các nghiên cứu
- Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng rất khác nhau từ 3%-57% dân số. Trong đó
nhóm bệnh nhân bị viêm quanh răng là đối tượng có nguy cơ cao, tỷ lệ nhạy
cảm ngà ở nhóm này 72%-98% [3].
- Theo một nghiên cứu có tính chất toàn cầu với cỡ mẫu 11.000 người, kết
quả cho thấy: tỷ lệ nhạy cảm ngà răng cũng rất cao [3].
Bảng 1.6. Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng một số khu vực trên thế giới
Khu vực
Tỷ lệ % nhạy cảm ngà răng
Tỷ lệ % người có nhạy cảm
- Ở Hồng Kông, một nghiên cứu có sự tham gia của 226 bệnh nhân thấy
2/3 bệnh nhân có nhạy cảm ngà [12].
20
- Ở Việt Nam, nghiên cứu của Tống Minh Sơn và cộng sự tại công ty than
Thống Nhất - Quảng Ninh (2010), tỷ lệ nhạy cảm ngà răng là 9,07% và tỷ lệ
này lên tới 47,74% ở công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Hà Nội (2011).
- Theo nghiên cứu khác trên đối tượng sinh viên Viện Đào Tạo Răng
Hàm Mặt - Đại học Y Hà Nội năm 2011 của Tống Minh Sơn và Nguyễn Thị
Nga, tình trạng nhạy cảm ngà ở nhóm này cũng tương đối cao 38.5%
Tuổi: Nhạy cảm ngà gặp ở nhiều lứa tuổi, phần lớn ở độ tuổi 20-
50 đặc biệt tập trung nhiều ở nhóm 30-40 tuổi [11].
Giới: Tỷ lệ nữ bị nhạy cảm ngà răng nhiều hơn nam [3; 6]. Một
số tác giả cho rằng có hiện tượng này là do nữ chải răng nhiều hơn nam. Tuy
nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
Thời gian bị nhạy cảm ngà: không ít người bị nhạy cảm ngà trong
thời gian dài. Có từ 14-23% người bị nhạy cảm ngà răng từ 1-5 năm [11].
Vị trí nhạy cảm ngà hay gặp: thứ tự nhạy cảm ngà thường gặp
như sau: răng nanh, răng số 4, sau đến răng cửa và răng số 5, cuối cùng là
răng hàm lớn [38].
- Đối với bệnh nhân viêm quanh răng: thường gặp ở răng hàm lớn trên và
răng cửa dưới.
chất clo phải bao gồm các dạng sau
+ Khí clo: cần phải có đầu tiên bởi vì nó có tác dụng nhanh, đạt hiệu quả
sớm, rẻ và dễ sử dụng.
+ Chất Cloramine: chloramine là một hợp chất lỏng của clo và amoni.
Điểm đặc biệt của chất này là nó có tác dụng chậm hơn.
+ Perchloran: là một dạng hợp chất calci có chứa tới 50 – 60% clo hoạt động.
- Điểm phá vỡ trong hoạt động diệt khuẩn: bổ sung clo vào trong nước
có amoniac sẽ sản xuất ra các chlorine. Nếu hàm lượng chlorine trong nước
tăng lên thì sẽ làm giảm lượng clo dư do phá hủy cấu trúc của các chloramine.
Kết thúc quá trình này là sẽ không tạo ra thêm các chlorine nữa. Mức giảm
của lượng clo dư này sẽ tiếp tục để làm tăng nồng độ clo và sau vài bước thì
tỷ lệ clo dư sẽ bắt đầu tăng lên để thêm vào nồng độ của chất clo. Cái điểm
báo động này cho biết khi nào thì lượng clo dư xuất hiện và khi tất cả các
22
fluorine kết hợp hoàn thành việc bẻ gãy điểm phá vỡ này thì liều tương ứng sẽ
là liều ở điểm phá vỡ.
- Theo thông tư số: 05/2009/TT - BYT (17/6/2009) nồng độ Chloride dư
trong nước bể bơi chỉ giới hạn trong khoảng 1.0 – 3.0 mg/l, pH trong khoảng
7.2 – 7.8 (tốt nhất pH = 7.4 – 7.6).
1.3.2. Quy trình xử lý nước bể bơi tại trường Đại học Thể dục thể thao Từ
Sơn – Bắc Ninh
- Nguồn nước đầu vào: nước giếng khoan
- Quy trình xử lý bằng Cloride: kỹ thuật viên bổ sung chloride vào
nước bể bơi sau mỗi ngày luyện tập và để lắng qua đêm.
+ Nếu pH quá thấp, các thiết bị trong bể dễ bị ăn mòn, giảm hiệu quả của
máy lọc, ảnh hưởng đến da và mắt (rát da, xót mắt)
+ pH quá cao: Nước đục, chất xử lý không hiệu quả, chi phí để duy trì độ
Từ Sơn – Bắc Ninh.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: là một nghiên cứu cắt ngang mô tả, nhằm xác
định tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn sớm và tổn thương tổ chức cứng trên răng vĩnh
viễn của nhóm sinh viên lớp chuyên sâu bơi trường đại học Thể dục thể thao
Từ Sơn – Bắc Ninh năm 2013.
24
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
n = Z (21−α / 2 )
pq
d2
Trong đó:
n : cỡ mẫu
z(1- α/2) : hệ số tin cậy ở mức xác suất 95%
p: tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn trên nhóm đối tượng từ 18 - 34 tuổi (p =
89.9%, theo nghiên cứu của Trịnh Đình Hải 2005, so sánh tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở
Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long)
q: 1- p (Tỷ lệ không sâu răng vĩnh viễn trên nhóm đối tượng trên)
d: độ chính xác mong muốn 8%
thay số ta có n= 55.
* Chọn mẫu: Từ nhóm 90 sinh viên lớp chuyên sâu bơi đồng ý tham gia
nghiên cứu chúng tôi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên được 56 sinh viên có phiếu
khám và phỏng vấn hợp lệ đưa vào nghiên cứu.
2.2.3. Nội dung nghiên cứu
-khám phát hiện sâu răng bằng phương pháp quan sát thông thường theo
tiêu chí của hệ thống ICDAS. Quan sát những thay đổi trên bề mặt răng ướt,
nếu không phát hiện tổn thương thì dùng quả bóp xịt hơi thổi khô để quan sát
những thay đổi có thể có trên bề mặt răng khô. Cây thăm dò đầu tròn có thể
hỗ trợ để phát hiện sự mất liên tục trên bề mặt men.
- Đánh giá tình trạng mòn răng thông qua bộ tiêu chuẩn chẩn đoán dựa
trên tiêu chuẩn vệ sinh răng miệng do Hiệp hội nha khoa Nhật Bản ban hành
đối với mòn răng nghề nghiệp.
- Đánh giá nhạy cảm ngà bằng đánh giá kích thích cọ sát và đánh giá theo
test Schiff.