KẾT QUẢ NGHIÊN cứu đánh giá tình trạng dự trữ sắt qua xét nghiệm sắt và ferritin huyết thanh ở bệnh nhân suy thận mạn chưa điều trị thay thế - Pdf 31

Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu 120 BN được chẩn đoán BTMT giai đoạn V chưa được điều
trị thay thế nằm điều trị nội trú tại khoa Thận –Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai từ
tháng 7/2013 đến tháng 2/2014 chúng tôi thu được một số kết quả như sau.
3.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm về giới và tuổi

Biểu đồ 3.1: Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo giới
Nhận xét: Số BN nam giới nhiều hơn nữ giới, tỷ lệ nam/nữ là 1,94/1. Sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)


Biểu đồ 3.2: Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Nhận xét: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 45,66 ± 16,62 (từ 18 đến 88 tuổi).
Bệnh nhân chủ yếu ở độ tuổi lao động (dưới 60 tuổi) chiếm 80%.
3.1.2. Một số triệu chứng lâm sàng
Bảng 3.1: Tình trạng HA của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Tổng số bệnh
nhân

Phân loại tăng huyết áp
Không THA

THA độ I

THA độ II

THA độ III

Tỉ lệ %

và chuột rút (38%).
3.1.3. Một số xét nghiệm cận lâm sàng
3.1.3.1. Mức lọc cầu thận
Mức lọc cầu thận trung bình là 4,98 ± 2,22 (ml/phút/1,73m²). Như vậy trong
nghiên cứu này 100% BN mắc BTMT giai đoạn V là giai đoạn có chỉ định điều trị
thay thế.
3.1.3.2. Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi


Bảng 3.2: Xét nghiệm số lượng hồng cầu và nộng độ huyết sắc tố
Chỉ số xét nghiệm

Giá trị trung bình

(n = 120)
HC (T/l)
Hb (g/l)
MCV (fl)

(X ± SD)
2,71 ± 0,55
77,33 ± 15,28
85,65 ± 5,57

MCH (pg)

29,09 ± 1,72

MCHC (g/l)


30,0 %

120

100 %

Nhận xét: Có tới 30% BN vào viện bị thiếu máu nặng. Số BN thiếu máu vừa và
nặng chiếm tỉ lệ cao (93,3%).
Bảng 3.4: Phân loại đặc điểm thiếu máu


MCV(fl)
< 80
80 -100
Tổng số

n
25
95
120

Tỉ lệ (%)
20,8
79,2
100

Nhận xét: Số BN có thiếu máu hồng cầu nhỏ chiếm tỷ lệ 10,8% và thể tích hồng
cầu bình thường chiếm 79,2%.
3.2. Xét nghiệm nồng độ sắt và ferritin huyết thanh
Bảng 3.5: Giá trị xét nghiệm sắt và ferritin huyết thanh theo giới

P

< 0,05

583,08 ± 375,8 < 0,05

Nhận xét: Giá trị xét nghiệm sắt trung bình ở nhóm BN nghiên cứu là 13,87 ±
9,01và nồng độ ferritin trung bình là 583,08 ± 375,8 (ng/ml). Sự khác biệt về nồng
độ sắt và ferritin huyết thanh giữa nam và nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.6: Giá trị xét nghiệm sắt và ferritin huyết thanh theo độ tuổi
Nhóm tuổi

Sắt(µmol/l)

p

Ferritin(ng/ml)

< 30 tuổi

16,37 ± 8,31

772,33 ± 411,61

30 – 39 tuổi

14,17 ± 8,02

518,07 ± 337,38


Nam

Nữ

Tổng

(µmol/l)

n

Tỉ lệ (%)

n

Tỉ lệ (%)

n

Tỷ lệ (%)

Thấp

18

22,8

3

7,3


6,7

Nhận xét: Đa số bệnh nhân có xét nghiệm nồng độ sắt trong giới hạn bình thường
chiếm tỉ lệ 75,8% (ở nam chiếm tỉ lệ 68,4% còn ở nữ là 90,2%). Số BN có xét
nghiệm nồng độ sắt thấp chỉ chiếm tỷ lệ 17,5%.

Bảng 3.8: Phân loại giá trị xét nghiệm nồng độ ferritin huyết thanh
Ferritin
(ng/ml)
< 200

Nam

Nữ

Tổng

n

Tỉ lệ (%)

n

Tỉ lệ (%)

n

Tỉ lệ (%)

3

63,3

14

34,15

64

53,4

Tổng

79

100

41

100

120

100

Nhận xét: Có 13,3% số BN có tình trạng dự trữ sắt thấp. Số BN có tình trạng dự
trữ sắt bình thường là 33,3% và dự trữ sắt cao là 53,4%. Trong đó BN nữ có mức
dự trữ sắt thấp là 31,7%. Ở BN nam dự trữ sắt cao chiếm tỉ lệ cao 63,3%
3.3. Mối liên quan giữa nồng độ sắt và ferritin huyết thanh với một số yếu tố
khác
3.3.1. Mối liên quan giữa nồng độ sắt với nồng độ ferritin huyết thanh

N

R (Spearman)

P

HC (T/l)

120

˗ 0,087

> 0,05

Hb (g/l)

120

0,28

˃ 0,05

MCV (fl)

120

˗ 0,51

˃ 0,05


N

R (Spearman)

P

HC (T/l)

120

˗ 0,48

> 0,05

Hb (g/l)

120

˗ 0,34

˃ 0,05

MCV (fl)

120

˗ 0,57

˃ 0,05



≥ 80

17,02 ± 14,04

p

> 0,05

Ferritin
(ng/ml)
567,8 ± 373,33
641,18 ± 387,2

p

> 0,05

Nhận xét: Sự khác biệt nồng độ sắt và ferritin huyết thanh ở 2 nhóm hồng cầu kích
thước nhỏ (MCV < 80 fl) và nhóm hồng cầu kích thước bình thường (MCV ≥ 80
fl) không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).


Bảng3.13: Liên quan giữa mức độ thiếu máu với sắt, ferritin
Chỉ số

P1

Sắt
(µmol/l)

˃ 0,05

600,68 ± 377,36

˃ 0,05

Nhận xét: Sự khác khác biệt nồng độ sắt, ferritin huyết thanhnở các mức độ thiếu
máu khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng3.14: Liên quan giữa ferritin và albumin
Ferritin
(ng/ml)

Albumin
> 35 (g/l)
n

%

Albumin
≥35 (g/l)
n

%

Tổng số

p

n


52,5

< 0,05

Tổng số

60

51,3

57

48,7

117

100

< 0,05

Nhận xét: Sự khác biệt về mức độ ferritin thấp và bình thường giữa hai nhóm có
tình trạng giảm albumin và albumin máu bình thường là không có ý nghĩa thống kê
(p > 0,05).
Bảng3.15: Liên quan giữa ferritin và CRP
Ferritin CRP < 0,5 (mg/dl) CRP ≥ 0,5(mg/dl)

Tổng số

p



n

%

31,6

38

47,5

< 0,05

24

57,1

42

52,5

< 0,05

36

45

80

100


Creatinin (µmol/l)

120

0,231

< 0,05

Protein (g/l)

115

O,24

> 0,05

Albumin (g/l)

117

0,309

< 0,05

CRP (mg/dl)

80

˗ 0,249


˗ 0,46

> 0,05

PTH (pmol/l)

97

˗ 0,19

> 0,05

Canxi (mmol/l)

111

0,204

> 0,05

Phospho (mmol/l)

47

0,234

> 0,05

MLCT (ml/p/1,

Chỉ số

Ferritin (ng/ml)


N

R (Spearman)

P

120

˗ 0, 151

> 0,05

Ure (mmol/l)

120

0,184

> 0,05

Creatinin (µmol/l)

120

0,25


0,45

> 0,05

HDL-C (mmol/l)

95

˗ 0,08

> 0,05

LDL-C (mmol/l)

93

˗ 0,12

> 0,05

PTH (pmol/l)

97

˗ 0,236

< 0,05

Canxi (mmol/l)

Nhận xét: Có mối tương quan thuận giữa nồng độ ferritin với nồng độ creatinin (r
= 0,25; p < 0, 05). Có nghĩa là nồng độ ferritin càng tăng thì nồng độ creatinin máu
càng tăng và ngược lại.
Có mối tương quan nghịch mức độ ít giữa nồng độ ferritin và PTH (r = ˗0,236; p


bệnh nhân đến muộn hay không được theo dõi ngay từ đầu.THA là một yếu tố thúc
đẩy nhanh quá trình suy thận mạn. Mặt khác THA lại có thể gây thêm biến chứng
suy tim, tai biến mạch não. Chính vì vậy phải kiểm soát tốt huyết áp theo mục tiêu
để hạn chế biến chứng cho người bệnh. Tuy nhiên thường khó khống chế huyết áp
ở những BN suy thận mạn [5]. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.1) BN có
tình trạng tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao (70%). Kết quả này của chúng tôi cũng
khá phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền (75%) [24], Đinh Thị Kim
Dung [4].
4.1.2.3. Một số biểu hiện lâm sàng thường gặp khác
Theo nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ 3.3) ngoài những triệu chứng chính như
thiếu máu và tăng huyết áp thì BN còn có một số biểu hiện khác là phù (53,1%).
Phù là biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân STM do BCTM là hậu quả của hội chứng
thận hư, do suy tim, do giữ muối và nước...Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả
cao hơn của Nguyễn Thị Lết (35,88%) [28]. Ngoài ra bệnh nhân còn có biến chứng
của bệnh như chuột rút (38%), hoa mắt chóng mặt (38,3%) và đau đầu (28,3%) nên
khi phát hiện bệnh thì STM đã ở mức độ nặng.
4.1.3. Sự thay đổi các chỉ số huyết học
4.1.3.1. Sự thay đổi về huyết sắc tố
Thiếu máu là hiện tượng giảm số lượng HC, giảm nồng độ Hb và Ht trong
một đơn vị thể tích máu dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các mô tế bào trong cơ
thể, trong đó giảm Hb là quan trọng nhất. Theo WHO chẩn đoán xác định thiếu
máu khi nồng độ Hb trung bình lưu hành ở máu ngoại vi dưới mức bình thường so
với người cùng giới, cùng lứa tuổi và trong cùng một môi trường sống [29]. Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.2) cho thấy nhóm BN nghiên cứu có lượng
huyết sắc tố (Hb) trung bình giảm 77,3 ± 15,28 (g/l). Số BN đến viện với tình trạng


thiếu máu vừa và nặng chiếm tỷ lệ cao 93,3% (bảng 3.3). Bên cạnh đó kết quả
cũng cho thấy chỉ số MCV nằm trong giới hạn bình thường 85,65 ± 5,57 fl (bảng

(µmol/l) [38]. Lý giải điều này có thể do đối tượng nghiên cứu của các tác giả này
bao gồm các bệnh nhân STM ở các giai đoạn khác nhau còn của chúng tôi là
những bệnh nhân STM giai đoạn cuối có tình trạng thiếu máu thiếu sắt nặng .
Tỉ lệ BN có nồng độ sắt huyết thanh giảm chiếm tỷ lệ 17,5% trong đó ở nữ
giới là 7,3%, còn ở nam giới là 22,8%. Tỉ lệ này thấp hơn kết quả nghiên cứu của
Lê Việt Thắng trên 43 bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ có thiếu sắt là 41,86% [19].
Điều này có thể do những BN lọc máu chu kỳ đều ở giai đoan nặng, bị mất máu
thường xuyên trong quá trình lọc máu và do các biến chứng khác của suy thận
nặng như xuất huyết, ăn uống kém… Mắt khác có sự khác biệt nồng độ sắt huyết
thanh trung bình giữa nam và nữ, trung bình ở nam là 15, 23 ± 10, 05 (µmol/l) còn
ở nữ giới là 11, 24 ± 5, 81 (µmol/l), (p < 0,05). Tuy nhiên không có sự khác biệt về
nồng độ sắt huyết thanh giữa các nhóm tuổi (p > 0,05), có thể do đối tượng nghiên
cứu của chúng tôi chưa đủ lớn.
4.4.2. Bàn luận về nồng độ ferritin huyết thanh
Tình trạng thiếu máu làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch cũng như nguy
cơ tử vong của những bệnh nhân STM. Tuy nhiên với sự ra đời của rHu EPO là
một cuộc cách mạng trong điều trị thiếu máu STM trong hai thập kỷ qua. Cùng
với nó là chiến lược đánh giá tình trạng sắt để cung cấp bổ sung sắt trong điều trị.
Các xét nghiệm thường dùng đánh giá tình trạng sắt là sắt, ferritin huyết thanh và
độ bão hòa transferrin trong đó quan trọng nhất là xét nghiệm ferritin huyết thanh.


Ferritin huyết thanh trong điều kiện bình thường là kết quả của sự cân bằng giữa
dự trữ sắt tại các mô, sự trao đổi sắt trong tế bào có chứa sắt và các yếu tố khác
như tình trạng viêm. Sự gia tăng ferritin huyết thanh trong quá trình viêm, bệnh lý
gan, khối u ác tính… làm cản trở khả năng đánh giá tình trạng sắt trong cơ thể.
Tình trạng viêm làm tăng nồng độ ferritin huyết thanh dẫn đến tình trạng thiếu máu
do thiếu sắt gọi là thiếu sắt chức năng. Xét nghiệm lúc này có ý nghĩa trong trường
hợp viêm cấp tính còn trong trường hợp thiếu máu ở BN suy thận mạn là quá trình
viêm mạn tính nên khó điều trị.Khi loại trừ được tình trạng viêm cấp tính thì

< 0,05 (bảng 3.5). Tuy nhiên không có sự khác biệt nồng độ ferritin huyết thanh
trung bình giữa các nhóm tuổi (bảng 3.6). Lý giải điều này có thể do đối tượng
nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn.
4.4.3. Bàn luận về mối liên quan giữa sắt, ferritin huyết thanh và các chỉ số
khác
4.4.3.1. Mối liên quan giữa sắt và ferritin
Qua kết quả nghiên cứu (bảng 3.9) cho thấy có mối liên quan giữa nồng độ
ferritin và sắt huyết thanh là mối tương quan thuận mức độ vừa (r = 0,349, p

Tuy nhiên không tìm thấy mối tương quan giữa nồng độ sắt và ferritin huyết thanh
với MLCT (p > 0,05) có thể do BN trong nhóm nghiên cứu có MLCT thấp trung
bình là 4,98 ± 2,22 (ml/phút/1,73m²) khoảng giới hạn hẹp.
4.4.3.4. Bàn luận về mối liên quan giữa nồng độ sắt huyết thanh với một số
chỉ số sinh hóa
●Với albumin, protein
Suy dinh dưỡng protein và năng lượng là tình trạng thường thấy trong STM
do nhiều nguyên nhân như chế độ ăn kiêng khem hạn chế protein, quá trình viêm,
dị hóa protein trong cơ thể. Đã từ lâu nồng độ albumin huyết thanh được sử dụng
rộng rãi như là chỉ số tiêu chuẩn cho việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng, BN được
xác định là suy dinh dưỡng khi chỉ số albumin huyết thanh < 35 g/l. Kéo theo đó
có thể gây ra nhiều biến chứng làm trầm trọng thêm cho bệnh nhân STM. Trong
nghiên cứu của chúng tôi có 117/120 bệnh nhân được xét nghiệm albumin máu,
theo kết quả nghiên cứu (bảng 3.16) có mối tương quan thuận giữa nồng độ sắt
huyết thanh với albumin của bệnh nhân STM (r = 0,283), có ý nghĩa thống kê với


p0,05) (bảng 3.16). Như vậy nồng độ albumin càng tăng thì nồng độ sắt huyết
thanh càng tăng và ngược lại. Điều này chứng tỏ sắt huyết thanh có liên quan đến
tình trạng dinh dưỡng. Dinh dưỡng kém dẫn đến tình trạng thiếu albumin, thiếu sắt
- thiếu nguyên liệu để tồng hợp hemoglobin. Tình trạng thiếu máu không chỉ chịu
ảnh hưởng bởi giai đoạn STM nặng hay nhẹ mà còn bị ảnh hưởng bởi nồng độ
albumin máu, albumin máu càng giảm thì mức độ thiếu máu càng nặng. Do vậy, ở
bệnh nhân suy thận mạn chế độ ăn hợp lí cũng có vai trò hết sức quan trọng trong
điều trị bệnh và phòng các biến chứng của suy thận mạn gây ra.
4.4.3.5. Bàn luận về mối liên quan giữa nồng độ ferritin huyết thanh và một
số chỉ số sinh hóa
●Với albumin
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thiếu sắt ở nhóm có albumin < 35 g/l cao hơn

p=0,0009) [18].
●Với Canxi, phospho và PTH
Trong STM khi chức năng thận giảm sút thì một trong các rối loạn là tình trạng ứ
phospho do giảm đào thải sẽ gây tình trạng tăng phospho máu và hạ canxi máu, từ
đó sẽ kích thích tăng tiết PTH để nhằm điều chỉnh các rối loạn này theo cơ chế
điều hoà ngược vì ở người bình thường thì tác dụng chính của PTH là làm tăng
canxi máu và hạ phospho máu [5]. Do vậy, ở bệnh nhân suy thận mạn thì rối loạn
cân bằng canxi - phospho và PTH sớm xuất hiện. Trong nghiên cứu của chúng tôi
(bảng 3.17) có 47/120 BN được làm xét nghiệm phospho, 111/120 BN được làm
xét nghiệm canxi và 97/120 BN được làm PTH, cho thấy có mối tương quan không
chặt chẽ giữa nồng độ ferritin với PTH (r = ˗ 0,236, p < 0,05). Điều này có thể giải
thích , bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi phần lớn là phát hiện suy thận
mạn lần đầu tiên có thể tình trạng rối loạn này chưa nhiều, mặt khác do số lượng
bệnh nhân chưa đủ lớn đã tạo nên sự khác biệt này.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status