1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ( Chronic Obstructive Pulmonary
Disease – COPD) là một danh từ dùng để chỉ một nhóm bệnh lý đường hơ
hấp có đặc trưng chung là sự tắc nghẽn đường thở khơng phục hồi hồn tồn.
Đây là một nhóm bệnh hơ hấp thường gặp trên thế giới cũng như ở nước ta
[13], [28]. Với tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều trị cao và
hậu quả tàn phế, COPD đã thực sự trở thành vấn nạn về sức khỏe cho tồn
nhân loại.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1990 tỷ lệ mắc COPD trên
tồn thế giới ước tính khoảng 9,34/1000 ở nam và 7,33/1000 ở nữ [3]. Hiện
nay trên thế giới có khoảng 600 triệu người mắc bệnh [23]. Tại Việt Nam,
theo nghiên cứu của Ngơ Q Châu và cộng sự (2005) thì tỉ lệ mắc COPD
trong dân cư thành phố Hà Nội chung cho cả 2 giới là 2% (nam: 3,4% và nữ:
0,7% [7].
Khơng chỉ là một bệnh lý thường gặp, COPD hiện còn là ngun nhân
gây tử vong hàng thứ 4 trên thế giới và là bệnh lý duy nhất là tăng tỷ lệ mắc
và tỷ lệ tử vong trong số những bệnh lý gây tử vong hàng đầu thế giới [3],
[28], [45]. Theo một Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu đã dự
đốn COPD, từng là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 6 vào năm 1990,
sẽ trở thành nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới vào năm
2020 [5], [24], [42]
COPD là một bệnh kéo dài, xen kẽ giữa những giai đoạn ổn định là đợt
cấp có thể đe dọa tính mạng người bệnh [16]. Đợt cấp COPD có khả năng ảnh
hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và tiên lượng ở bệnh nhân COPD. Tỷ lệ
2
tử vong trong bệnh viện của bệnh nhân COPD nhập viện vì đợt cấp vào
1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1.1.1. Sơ lược lịch sử
Sự hiểu biết về COPD đã bắt đầu từ hơn 200 năm trước đây nhưng đến
tận những năm cuối thế kỷ XX thì sự nghiên cứu về COPD mới phát triển.
Năm 1966, Burows đã lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ COPD để thống
nhất giữa thuật ngữ viêm phế quản mạn hay được dùng ở châu Âu và thuật
ngữ khí phế thũng được dùng chủ yếu ở Hoa Kỳ [41].
Từ năm 1992, thuật ngữ COPD đã chính thức thay thế cho các tên gọi
khác về bệnh và áp dụng trên toàn thế giới, nó được dùng trong phân loại
bệnh tật quốc tế lần thứ 9 và lần thứ 10 [47].
Vào năm 1998, nhằm nỗ lực gia tăng sự chú ý về cách điều trị, phòng
ngừa COPD,các nhà khoa học đã cùng với WHO và NHLBI đề ra chiến lược
toàn cầu cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( Global Initiative for Chronic
Obstructive Lung Disease: GOLD). Mục đích quan trọng nhất của GOLD là
nhằm nâng cao kiến thức về COPD, giúp đỡ cho hàng triệu người phải chết
sớm hoặc bị các biến chứng của COPD. Hàng năm GOLD đều đưa ra bản cập
nhật về chẩn đoán cũng như điều trị bệnh [29].
1.1.2. Định nghĩa
Theo GOLD 2010: COPD là một bệnh lý có thể phòng ngừa và có thể
điều trị được với các ảnh hưởng ngoài phổi đáng kể, góp phần vào độ nặng
của bệnh. Bệnh được đặc trưng bởi tắc nghẽn luồng khí không hồi phục hoàn
toàn. Tắc nghẽn luồng khí thường là tiến triển và liên quan đến đáp ứng viêm
bất thường của phổi với các phân tử hoặc khí độc hại [28].
4
Ngoài ra, Hội lồng ngực Mỹ còn đưa ra giản đồ Venn để diễn tả mối
liên quan giữa các bệnh của đường thở trong việc hình thành những thể bệnh
của COPD [31], [34]
nước nhưng nói chung, có liên quan trực tiếp đên tần suất của hút thuốc lá mặc
dù ở nhiều nước, ô nhiễm không khí do chất đốt từ gỗ và các chất đốt sinh
khói khác đã được xác định là một yếu tố nguy cơ của COPD [30].
Theo WHO, năm 1990 tỷ lệ mắc COPD trong 1000 dân là: 9,33 ở nam
và 7,33 ở nữ [2], [3]. Tỷ lệ tử vong do COPD năm 1990 đứng thứ 6, hiện nay
đứng thứ 4 và dự báo đến năm 2020 đứng thứ 3 trong 10 bệnh chính gây tử
vong, chỉ sau bệnh tim thiếu máu cục bộ và bệnh mạch máu não [5] [42] [24].
Năm 2000, WHO ước tính khoảng 2,74 triệu người chết vì COPD
trên toàn thế giới [24], Mỹ ước tính 10 triệu người lớn có triệu chứng lâm
sàng của COPD, khoảng 24 triệu người có những bằng chứng về tắc nghẽn
đường thở [34].
Nghiên cứu BOLD (Burden of Obstruc tive Lung Disease study) tại 12
khu vực của 12 quốc gia, kết quả cho thấy: cao nhất tại Cape Town: 22% nam
và 16,7% ở nữ giới. Các điểm châu Á: Quảng Châu – nam là 9,3% và nữ là
5,1%, Manila 18,8% ở nam và 6,8% ở nũ giới [12].
Các đánh giá khoa học về gánh nặng kinh tế xã hội của COPD còn chưa
nhiều, chủ yếu ở một số nước phát triển. Ở Mỹ, chi phí y tế cho COPD ước
tính năm 2002 là 32,1 tỷ đôla, trong đó 18 tỷ là chi phí trực tiếp cho điều trị
và 14,1 tỷ là chi phí gián tiếp. Ở Liên minh châu Âu, tổng chi phí trực tiếp của
bệnh hô hấp ước tính khoảng 6% tổng ngân sách chăm sóc sức khỏe, với
COPD chiếm 56% (38,6 triệu Euros) của chi phí này. Đối với các nước đang
phát triển, xét trên góc độ kinh tế, COPD rất có thể là những gánh nặng rất
đáng kể đối với các gia đình cả xã hội[12], [24].
6
Tại Việt Nam, vào năm 2003, nhóm nghiên cứu của Hội Hô hấp Châu
Á Thái Bình Dương cho thấy tần suất mắc COPD giai đoạn trung bình và
nặng của người Việt Nam trên 35 tuổi là 6,7%, cao nhất trong khu vực [11].
người bình thường [3]
- Bất thường trong trưởng thành phổi: có liên quan với các quá trình xảy
ra trong thời kỳ thai nghén, trọng lượng lúc sinh và sự phơi nhiễm trong thời
gian còn nhỏ. Bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng đến sự trưởng thành của phổi
trong thai kỳ và thời niên thiếu đều có khả năng làm tăng nguy cơ bị COPD.
Đây là một cảnh báo về khả năng không an toàn đối với sự phát triển của thai
nhi ở những người phụ nữ hút thuốc lá trong thời kì mang thai [30].
1.1.4.2. Các yếu tố gấy độc [2], [3]
- Thuốc lá: đã được xác định là nguyên nhân chính của bệnh. Ngừng
thuốc làm giảm các yếu tố trên.
Người hút thuốc có nguy cơ bị bất thường chức năng phổi nhiều hơn.
Hút thuốc làm tăng tỷ lệ mắc COPD lên 4 lần [11]. Tỷ lệ giảm FEV1 hằng
năm ở những người hút thuốc lớn hơn ở người không hút thuốc.
Theo Hiệp hội Lồng ngực Mỹ, 15% số những người hút thuốc có triệu
chứng lâm sàng của COPD và 80-90% các bệnh nhân COPD đều có hút thuốc.
Hút thuốc lá thụ động: trẻ em trong gia đình có người hút thuốc lá bị các
bệnh đường hô hấp trên với tỷ lệ cao hơn trẻ em trong gia đình không có
người hút thuốc. WHO ước tính hút thuốc thụ động làm tăng 10-43% nguy cơ
bị COPD ở người lớn [24].
- Ô nhiễm môi trường: Khói, bụi nghề nghiệp, khói bếp than… là các
yếu tố nguy cơ để phát hiện bệnh, tuy nhiên các yếu tố nguy cơ này nhỏ hơn
so với thuốc lá. Các nhà nghiên cứu cũng chú ý đến chất đốt sinh khói và cho
thấy đun bếp với củi, rơm rạ làm tỉ lệ mắc COPD tăng lên gấp 2 lần so với khí
đốt. Ngoài ra hiện chưa có nghiên cứu nào về COPD nghề nghiệp tại Việt
Nam [11].
8
- Nhiễm trùng đường hô hấp: Nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới
oxy hóa
Kháng proteinase
Stress oxy hóa
Proteinase
Bệnh lý COPD
Sơ đồ 1.2. Cơ chế bệnh sinh của COPD theo GOLD 2010
- Mất cân bằng giữa protease và kháng protease: Các protease sẽ phá vỡ
các thành phần của mô liên kết, trong khi các anti-protease giúp bảo vệ chống
lại quá trình này. Đã có các bằng chứng thuyết phục về sự mất cân bằng giữa
các protease và anti-protease trong phổi ở bệnh nhân COPD. Phá hủy elastin
qua trung gian protease, một thành phần mô liên kết chính trong nhu mô phổi
là một điểm đặc trưng quan trọng làm phát triển khí phế thũng và sự mất đàn
hồi phổi không hồi phục.
- Mất cân bằng oxy hóa và kháng oxy hóa: có thể là một cơ chế khuếch
đại quan trọng trong COPD. Các dấu ấn kích hoạt oxy hóa (Hydrogen
peroxide, 8-isoprestane) tăng trong bề mặt biểu mô đường hô hấp trong đờm
10
và trong máu của bệnh nhân COPD. Mất cân bằng quá trình oxy hóa cũng
tăng cao hơn trong đợt kịch phát cấp.
Kích hoạt oxy hóa có một số hậu quả xấu ở phổi bao gồm kích hoạt các
yếu tố gây viêm, bất hoạt kháng proteinase, kích thích tiết đờm và kích thích
tăng tiết dịch huyết tương.
đặc trưng của viêm phế quản mạn tính và không liên quan quan trọng với hạn
chế đường thở. Sự tăng tiết đờm do tăng số lượng tế bào có chân và phì đại
các tuyến dưới niêm mạc đáp ứng của đường thở với khói thuốc và chất độc.
Nhiều chất hóa học ứng động và protease kích thích tăng tiết đờm thông qua
kích hoạt các cảm thụ quan của yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR:
Epidermal growth factor).
- Tăng áp lực động mạch phổi: tăng áp động mạch phổi mức độ nhẹ
đến vừa có thể xuất hiện muộn trong tiến triển của COPD do co thắt các động
mạch phổi nhỏ, kết quả cuối cùng là thay đổi cấu trúc của chúng.
- Ảnh hưởng toàn thân: chứng suy kiệt thường gặp ở bệnh nhân COPD
nặng. Bệnh nhân COPD cũng có nhiều khả năng bị loãng xương, trầm cảm và
thiếu máu mạn tính.
1.2. CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN LOẠI GIAI ĐOẠN COPD
1.2.1. Chẩn đoán COPD
- Theo khuyến cáo của GOLD 2007:
Gợi ý chẩn đoán COPD ở bất kỳ bệnh nhân nào trên 40 tuổi có ít nhất
một trong các chỉ điểm sau:
- Khó thở với đặc điểm:
+ Tiến triển (nặng dần theo thời gian)
+ Khó thở tăng lên khi vận động.
+ Liên tục (xuất hiện hàng ngày)
12
+ Khó thở được bệnh nhân mô tả “phải gắng sức để thở”, “thở nặng”.
“thiếu không khí” hoặc “thở hổn hển”.
- Ho mạn tính: có thể gián đoạn và có thể ho khan.
- Khạc đờm mạn tính: bất cứ bệnh nhân nào có khạc đờm mạn tính đều
có thể chỉ điểm COPD.
+ FEV1/VC < 70%
+ FEV1 < 30% TSLT HOẶC FEV1 < 50% TSLT nhưng kèm theo biến
chứng suy hô hấp mạn (PaO2 < 60 mmHg).
+ Chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nặng nề, các đợt cấp có thể đe
dọa tử vong.
1.3. ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1.3.1. Định nghĩa
Cho đến nay chưa có sự thống nhất trên toàn thế giới về định nghĩa đợt
cấp của COPD do đợt cấp của COPD có các nguyên nhân và mức độ trầm
trọng khác nhau.
- Theo GOLD 2006 [29]: “Đợt cấp COPD là một sự kiện trong diễn
biến tự nhiên của bệnh được đặc trưng bởi sự thay đổi các triệu chứng cơ bản :
ho, khó thở, và khạc đờm ngoài những diễn biến hàng ngày, khởi phát cấp tính
và đòi hỏi thay đổi trị liệu thường quy đối với bệnh nhân.”
- Theo ATS/ERS 2005: “Đợt cấp COPD là một sự thay đổi cấp tính các
triệu chứng cơ bản ho, khó thở, và/hoặc khạc đờm ngoài những diễn biến hàng
ngày và đòi hỏi phải thay đổi trị liệu thường quy đối với bệnh nhân”[18].
14
1.3.2. Nguyên nhân gây đợt cấp
Nguyên nhân chủ yếu xác định được trong các đợt cấp COPD là nhiễm
virus, nhiễm trùng do vi khuẩn và các chất gây ô nhiễm không khí (chủ yếu là
bụi) nhưng có đến 1/3 đợt kịch phát nặng không xác định được nguyên nhân
[10] [33] [29].
Theo một nghiên cứu của Celli B.R và CS (2007) thấy nguyên nhân đợt
cấp COPD gồm: vi khuẩn (30%), virus (23%), cả vi khuẩn và virus (25%), các
nguyên nhân khác chiếm (22%) [21].
1.3.2.1. Nguyên nhân do các tác nhân vi sinh
- Tắc mạch phổi
- Ô nhiễm môi trường: khói thuốc lá, thuốc lào…
- Mệt do cơ: giảm kali, phospho, magie, corticoid…
- Suy tim phải và/hoặc trái hay loạn nhịp tim.
- Rối loạn chuyển hóa: tiểu đường, rối loạn điện giải, rối loạn dinh dưỡng.
- Chấn thương ngực, phẫu thuật ngực bụng
- Oxy liệu pháp không chế ngự được bệnh
Nghiên cứu của Traileseu M.A và CS (2006) trên 537 bệnh nhân đợt
cấp từ 1/2001 đến 12/2005 thấy nguyên nhân đợt cấp gồm: chủ yếu là nhiễm
khuẩn hô hấp chiếm 53,5% (vi khuẩn 33,5%, virus 20%), suy tim phải và trái,
rối loạn nhịp tim là 16,9%, nguyên nhân không cụ thể 10,5%, không rõ
nguyên nhân 10% và bệnh giai đoạn cuối là 9% [46].
1.3.3. Triệu chứng lâm sàng
1.3.3.1 Triệu chứng cơ năng
Biểu hiện lâm sàng của đợt cấp COPD bao gồm những triệu chứng chính:
- Ho tăng
- Khạc đờm tăng hoặc thay đổi màu sắc của đờm
- Khó thở tăng
16
Đây là những triệu chứng tiến triển trên nền những triệu chứng của
COPD giai đoạn ổn định nhưng biểu hiện ở nhiều mức độ trầm trọng khác
nhau giữa các bệnh nhân. Có người bệnh chỉ thấy khạc đờm nhiều hơn hoặc
đờm trở nên đục hơn. Ở một số bệnh nhân khác lại có cảm giác khó thở hay
thở hụt hơi làm họ phải tăng liều thuốc giãn phế quản... trong khi có bệnh
nhân các triệu chứng lâm sàng trở nên rất nguy kịch đe dọa đến tính mạng
của họ như suy hô hấp nặng, xuất hiện cơn ngừng thở....
Trong đợt cấp COPD thì sự tăng số lượng đờm và đặc biệt là sự hóa
- Ứ trệ tuần hoàn ngoại vi khi có suy tim phải: gan to, tĩnh mạch cổ nổi,
phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính, phù chân.
- Giai đoạn cuối của COPD thường hay có biến chứng:
+ Suy hô hấp mạn tính
+ Tâm phế mạn
+ Tràn khí màng phổi
+ Bệnh nhân thường tử vong do suy hô hấp cấp tính trong đợt cấp của
bệnh.
1.3.4. Cận lâm sàng
1.3.4.1. Thăm dò chức năng hô hấp
Thăm dò chức năng thông khí phổi đôi khi không thực hiện được do
bệnh nhân suy hô hấp nặng, tuy nhiên đo chức năng hô hấp bằng phế dung kế
được coi là cách đánh giá khách quan sự tắc nghẽn lưu lượng thở. Đây là một
phương pháp tốt nhất để phát hiện và theo dõi COPD thông qua theo dõi chỉ
số FEV1 và FEV1/FVC theo tuổi.
18
Trong COPD, đo thông khí phổi có thể thấy những thay đổi sau:
- Mức độ giảm FEV1 tùy theo mức độ bệnh.
- Dung tích thở mạnh (FVC): giai đoạn đầu có thể bình thường nhưng
sẽ giảm khi bệnh tiến triển nặng.
- Dung tích sống thở chậm (VC): chính xác hơn FVC vì không hạn chế bởi
áp lực động của đường hô hấp (hiện tượng xẹp đường thở sớm khi thở ra nhanh).
- Tỷ số FEV1/FVC thường < 70% nhưng có trường hợp FEV1 và FVC
cùng giảm, lúc này tỷ số trên sẽ không phản ánh đúng mức độ bệnh, nên tỷ số
thường được dùng là FEV1/VC.
- Đo thể tích cặn: trong COPD nhiều bệnh nhân dung tích toàn phần
phổi tăng do khí phế thũng phổi chiếm ưu thế nên thể tích cặn RV tăng.
kết hợp với hình ảnh căng giãn phổi.
- Hình ảnh động mạch phổi tăng nét đậm: mạch máu nhìn rất rõ, bờ
không đều khó xác định mà được ta gọi là phổi bẩn
- Khi có tăng áp lực động mạch phổi thì rốn phổi to và vồng ra,
trong khi các mạch máu ngoại vi thưa thớt.
* Chụp cắt lớp vi tính
- Chụp cắt lớp vi tính là kỹ thuật chụp với độ phân giải cao có lợi ích
lớn để xác định vị trí, độ rộng và mức độ nặng nhẹ của khí phế thũng, hơn
nữa kỹ thuật này còn có thể phát hiện giãn phế quản kết hợp với COPD.
- Có 3 tuýp giải phẫu của khí phế thũng riêng biệt hoặc kết hợp nhau
dựa trên dấu hiệu hình thái học của chụp cắt lớp vi tinh độ phân giải cao:
+ Khí phế thũng trung tâm tiểu thùy
+ Khí phế thũng đa tiểu thùy
+ Khí phế thũng cạnh vách
20
1.3.4.4. Các thăm dò khác
* Điện tâm đồ:
Thay đổi ở giai đoạn IV, có thể gặp: nhịp nhanh xoang, block nhánh
phải, trục phải, tăng gánh nhĩ phải, tăng gánh thất phải.
* Công thức máu:
Số lượng bạch cầu máu ngoại vi bình thường là: 4,5 – 10 G/l. Trong đợt
cấp COPD, khi số lượng bạch cầu tăng trên 10G/l là một chỉ điểm nguyên
nhân đợt cấp là do bội nhiễm.
* Protein phản ứng C (CRP)
Là một chỉ điểm của phản ứng viêm cấp. Bình thường nồng độ CRP
máu < 0,5 mg/dl. Nồng độ CRP máu có thể tăng ở bệnh nhân đợt cấp COPD.
* Xét nghiệm alpha-1 antitrysin
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai trong
3 tháng đầu năm 2011.
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
* Tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp COPD:
+ Bệnh nhân đã được chẩn đoán COPD trước đó tại khoa Hô hấp
+ Bệnh nhân vào điều trị tại khoa Hô hấp lần đầu và có những điều kiện sau:
. Bệnh nhân trên 40 tuổi
. Có tiền sử tiếp xúc với yếu tố nguy cơ (hút thuốc, tiếp xúc với khói bụi).
. Khó thở với đặc điểm dai dẳng, nặng dần và tăng lên khi hoạt động
hoặc có nhiễm trùng hô hấp hoặc khi tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ.
. Được đo chức năng thông khí để chẩn đoán xác định COPD khi: sau
test hồi phục phế quản thì FEV1/VC và/hoặc FEV1/FVC < 70%.
+ Đợt này xuất hiện: khó thở tăng dần, tăng số lượng đờm hoặc đờm
hóa mủ.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
Chúng tôi không đưa vào nghiên cứu những đối tượng sau:
- Bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn lựa chọn
23
- Bệnh nhân sốt, ho, khó thở khạc đờm tăng do nguyên nhân hen phế
+ Ran ẩm, ran nổ
+ Ran rít, ran ngáy
+ Co kéo cơ hô hấp
+ Lồng ngực hình thùng
+ Tam chứng Galliard
+ Gan to, tĩnh mạch cổ nổi
b. Cận lâm sàng
- Xét nghiệm máu: số lượng bạch cầu, % bạch cầu đa nhân trung tính, CRP.
- Khí máu động mạch: pH, pCO2, pO2, HCO3, SaO2, SpO2.
- X-quang phổi:
+ Tổn thương dạng phổi bẩn
+ Tổn thương giãn phế nang
+ Cung động mạch phổi nổi to
+ Tim hình giọt nước
+ Tim to toàn bộ
+ Đám mờ dạng viêm phổi
+ Tràn khí màng phổi
25
- Điện tâm đồ:
+ Dày nhĩ phải: P cao nhọn đối xứng (>2,5mm ở DII)
+ Dày nhĩ phải: theo tiêu chuẩn của WHO thì ít nhất 2 trong số các dấu
hiệu sau:
. Trục phải >110
. R/S ở V5, V6 < 1
. Sóng S chiếm ưu thế ở DI hoặc bloc nhánh phải không hoàn toàn
. P > 2mm ở DII
. T đảo ngược từ V1-V4 hoặc V2-V3