Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giới thiệu
Từ năm 1981 trở về trớc, khu vực kinh tế nhà nớc ở nớc ta hoạt động trong
cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, tăng trởng với tốc độ thấp,
thất thờng và hiệu quả kinh tế xã hội thấp.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đánh dấu một mốc quan
trọng trong tiến trình đổi mới kinh tế xã hội của đất nớc, nó có ý nghĩa nh là
một cải cách toàn diện, đồng bộ và triệt để. Đại hội VII, VIII, IX của Đảng tiếp
tục khẳng định thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đề ra chủ trơng sắp xếp và đổi mới
kinh tế nhà nớc. Sau hơn10 năm đổi mới ta đã gặt hái đợc nhiều thành công
nhng bên cạnh những thành công đó chúng ta đã mắc phải một số sai lầm
trong cơ cấu nền kinh tế và định hớng nền kinh tế đó. Để thay thế nền
kinh tế cũ chúng ta phát triển nền kinh tế thị trờng hàng hoá nhiều thành
phần thì việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần là
vấn đề rất quan trọng và cấp bách. Vì vậy mà bản thân tôi chọn đề tài Cổ
phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc để tìm hiểu sâu hơn về sự cần thiết
cũng nh tính u việt của các công ty cổ phần, thực trạng của Việt Nam.
Đề tài gồm 3 phần :
I. Khái niệm
II. Thực trạng cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam
III. Đề suất
Sinh viên: Trần Thị Ngọc ánh- Lớp - QTDN2- K46 1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. Khái niêm
1. Khái niệm công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
Vốn điều lệ của công ty đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần.Ngời hùn vốn ( cổ đông), sẽ mua một số cổ phần đó.
- Các loại cổ phần:
Cổ phần u đãi biểu quyết: là cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với
tên.
Trên cổ phiếu của công ty phải ghi rõ tên, trụ sở công ty, số lợng cổ phần
và loại cổ phần, mệnh giá cổ phần, mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu, chữ
kí của ngời đại diện của công ty và dấu của công ty, ngày phát hành cổ phiếu
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán theo qui
định của pháp luật.
- Công ty cổ phần chỉ đợc chi trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty
kinh doanh có lãi( sau khi đã nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác).
- Cơ cấu bộ máy của công ty cổ phần gồm có: Hội đồng quản trị
(đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng quản trị), Giám đốc(Tổng giám đốc), với công
ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có Ban kiểm soát. Đại hội cổ đông gồm tất
cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan cao nhất của công ty cổ phần.
Đại hội cổ đông có quyền quyết định các loại cổ phần, tổng số cổ phần chào
bán, mức cổ tức hàng năm, bầu, bãi, miễn nhiệm thành viên của Hội đồng quản
trị, thành viên ban kiểm soát; quyết định tổ chức lại và giải thể công ty; quyết
định sửa đổi; bổ sung Điều lệ của công ty và các quyết định quan trọng khác.
Hội đồng quản trị có quyền bổ nhiệm một ngời trong Hội đồng quản trị hoặc
ngời khác làm Giám đốc công ty. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm làm
Giám Đốc (Tổng giám đốc công ty).
Sinh viên: Trần Thị Ngọc ánh- Lớp - QTDN2- K46 3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Tính u việt của công ty cổ phần:
Công ty cổ phần đã giải quyết thành công trong vấn đề huy động vốn. Do
tính chất của cổ phần thờng có mệnh giá cổ phiếu có giá trị thấp nên có khả
năng khai thác đợc ngay cả những số tiến rất nhỏ của dân chúng. Sự có mặt của
thị trờng chứng khoán đã giúp họ có cơ hội để đầu t một cách có lợi và an toàn
trong khoản vốn của mình.
Hình thái công ty cổ phần đã thực hiện đợc việc tách quan hệ sở hữu khỏi
Dới tác động nhiều mặt của quá trình công nghiệp hoá ở các nớc phát
triển, các nớc đang phát triển cũng tham gia vào trào lu đó. Tính đến nay đã có
trên 100 quốc gia tiến hành cổ phần hoá. Cổ phần hoá là một trong những nội
dung chủ yếu của công cuộc cải cách kinh tế và chính trị hiện nay ở nhiều nớc
đang phát triển.
Đối với các nớc Xã hội chủ nghĩa (XHCN), trên cơ sở nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung cao độ, chuyển đổi sở hữu Nhà nớc đã trở thành thử thách
chủ yếu đối với cam kết của Nhà nớc tạo ra hệ thống đồng bộ và cho phép nền
kinh tế t nhân tồn tại và hoạt động. Quá trình cổ phần hoá DNNN ở các nớc này
phát triển nhanh chóng làm cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
năng động hơn, nâng cao hiệu quả kinh doanh, xoá bỏ hệ thống kế hoạch hoá và
điều hành quan liêu trớc đây.
ở nớc ta, vấn đề cổ phần hoá đã đợc đặt ra từ năm 1991, xuất phát từ tình
hình kinh tế thế giới và đặc biệt là tình hình kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên tốc độ
cổ phần hoá diễn ra chậm, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hiện nay có
khoảng 5740 doanh nghiệp nhà nớc, nằm 58% tổng số vốn của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế, nhng chỉ có 50% doanh nghiệp làm ăn có lãi ( trên
thực tế cha đến 30%).
Trên danh nghĩa, DNNN nộp 70%- 80% tổng doanh thu cho ngân sách nhà
nớc. Tuy nhiên thực tế chỉ khoảng 30%, DNNN không tạo ra đợc tích luỹ.
Nguyên nhân là do tài sản cố định, cụ thể là máy móc thiết bị quá cũ, lạc hậu so
Sinh viên: Trần Thị Ngọc ánh- Lớp - QTDN2- K46 5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
với thế giới 2 đến 3 thế hệ , có khi là 4 đến 5 thế hệ. Hiện nay có khoảng 54%
doanh nghiệp nhà nớc và74% doanh nghiệp địa phơng còn sản xuất bằng công
nghệ thủ công. Qui mô doanh nghiệp còn nhỏ bé, vốn ít.
Với thực trạng kỹ thuật và tài chính nh trên, DNNN hầu nh không có khả
năng đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng. Ngân
sách nhà nớc không có khả năng cung cấp vốn nh trớc đây, Ngân hàng cho vay
cũng đòi hỏi phải có tài sản thế chấp, khả năng kinh doanh để tính đến khả năng