Tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng ở việt nam - Pdf 31

TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ
HÌNH TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM
PGS. TS. Lê Xuân Bá
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW
Từ khi đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn được
trong và ngoài nước thừa nhận. Tuy vậy nền kinh tế nước ta còn nhiều yếu
kém và sự yếu kém này thể hiện rõ trong những năm gần đậy. Nhận rõ
những yếu kém nội tại của nền kinh tế, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của
Đảng đã xác định “phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát
triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” là quan điểm phát
triển cơ bản; và “đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế” là
định hướng tổng quát của phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020. Hội
nghị trung ương 3 khoá XI (tháng 10 năm 2011) đã quyết định tái cơ cấu
kinh tế trong đó tập trung ưu tiên tái cơ cấu 3 lĩnh vực quan trọng nhất. Đó
là, tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp
nhà nước mà trọng là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; và cơ cấu lại thị
trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại
và các tổ chức tài chính khác. Thực hiện chủ trương nói trên, Chính phủ đã
chỉ đạo soạn thảo Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế và các đề án tái cơ cấu
đầu tư, tái cơ cấu DNNN và tài cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng. Bài
viết này nhằm góp thêm tiếng nói về việc tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới
mô hình tăng trưởng. Bài viết gồn 3 phần: phần I trình bày khái quát sự cần
thiết hay lý do phải tiến hành; phần II trình bày mục tiêu và các nguyên tắc
chủ yếu; và phần III đề cập đến các định hướng giải pháp cần thực hiện
trong quá trình trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA TÁI CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN
ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
Thành công của cải cách kinh tế và hội nhập của nước ta trong hơn 25
năm qua đã được thừa nhận một cách rộng rãi ở cả trong và ngoài nước. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm trong giai đoạn 2000-2010 là
7,26%; GDP theo giá thực tế năm 2011 đã gấp hơn 3,8 lần so với năm

đầu tư trên GDP của Việt Nam cao thứ 2 thế giới (trong số 145 nước được
xếp hạng)3. Đóng góp của đầu tư cho tăng trưởng GDP tăng rất nhanh (từ
5% vào năm 1990 lên trên 60% năm 2010). Đồng thời đóng góp của nhân
tố năng suất tổng hợp cho tăng trưởng giảm rất nhanh (từ gần 50% vào năm
1990 xuống 40% năm 2000 và khoảng 16% năm 2010).
- Nhà nước tham gia quá trực tiếp và quá chi phối hoạt động đầu tư,
kinh doanh, trong khi chưa thực hiện tốt các chức năng quan trọng thuộc về
nhà nước như quy hoạch, kế hoạch, giám sát và điều hành kinh tế vĩ mô.
Nền kinh tế lấy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) làm động lực trung tâm:
1

Tốc độ tăng GDP bình quân năm cho giai đoạn 2000-2005 là 7,5%, cho 2006-2010 là 7%; nếu chỉ
tính cho giai năm 2008-2010 chỉ khoảng 6%; năm 2011, ước tính tăng trưởng GDP chỉ khoảng từ
5,89%,.v.v...Tăng trưởng GDP của nước ta không còn ở mức cao nhất trong khu vực, năm 2010 về
tăng trưởng GDP, nước ta đứng thứ 5 trong khu vực, đứng thứ 26. trên thế giới, năm 2011 đứng thứ 4
trong khu vực và đứng thứ 28 trên thế giới; trong các năm gần đây, tăng trưởng GDP của nước ta luôn
thấp hơn mức bình quân của các nước đang phát triển.
2
Lạm phát trung bình giai đoạn 2000-2005 là 5,1%/năm, và trung bình cho giai đoạn 2006-2010 là
11,4%/ năm. Năm 2011 tỷ lệ lạm phát hơn 18% so với năm 2010. Từ năm 2007, lạm phát luôn ở mức
hai con số (trừ năm 2009), cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng và thuộc vào một trong số các nền
kinh tế có lạm phát cao trên thế giới.
3

CIA World FactBook, List of countries by gross fixed investment as percentage of GDP, 2009

2


Trong giai đoạn 2006 - 2009, DNNN chiếm 45% tổng đầu tư của khu vực

trưởng phụ thuộc vào gia tăng vốn đầu tư, gia tăng số lượng lao động,.v.v...
đã yếu và đang giảm dần.
Đặc biệt, yếu tố nhân khẩu học thuận lợi từng đóng góp tới 1/3 mức
tăng trưởng GDP của Việt Nam trong quá khứ, nhưng hiện đang suy yếu
dần. Một số doanh nghiệp đã thông báo tình trạng thiếu hụt lao động tại các
4

Vũ Tuấn Anh (2010), Tình hình đầu tư công trong 10 năm qua và giải pháp tái cơ cấu

3


thành phố lớn. Theo dự báo, tỷ trọng dân số nằm trong độ tuổi 5 – 19 sẽ
giảm dần từ mức 34% vào năm 1999 xuống còn 27% vào năm 2010 và chỉ
còn 22% vào năm 2020. Theo dự báo của Chính phủ, lực lượng lao động
Việt Nam có thể sẽ chỉ tăng 0,6%/năm trong thập niên tới, nghĩa là chỉ bằng
gần 1/4 mức tăng 2,8%/năm trong những năm 2000 – 2010. Sự gia tăng lực
lượng lao động vẫn sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế
nhưng mức độ đóng góp sẽ thấp hơn nhiều so với thập niên trước.
Trong khi dư địa và động lực tăng trưởng theo chiều rộng của nền
kinh tế đang giảm và yếu dần, thì các động lực của tăng trưởng theo chiều
sâu (gồm năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực) chưa được cải thiện để
bù đắp những thiếu hụt của tăng trưởng theo chiều rộng. Hệ quả là, tiềm
năng tăng trưởng của nền kinh tế đang giảm, và bản thân nền kinh tế nước ta
hiện nay tự nó không còn có khả năng duy trì mức tăng trưởng cao như
những năm trước đây.
Để giữ nhịp tăng trưởng đã đạt được trong thời gian qua, Việt Nam
cần bù đắp sự suy giảm lợi thế cơ cấu dân số vàng bằng cách tăng năng suất
của nền kinh tế. Muốn kinh tế tăng trưởng bình quân 7%/năm, tốc độ tăng
năng suất lao động của Việt Nam cần đẩy nhanh 1,5 lần để đạt mức khoảng

hành nền kinh tế ở các cấp, các ngành chưa thay đổi kịp thời; chậm khắc
phục các điểm nghẽn (về hạ tầng, về thể chế và nguồn lực lao động có trình
độ cao) kìm hãm gia tăng năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
và của doanh nghiệp. Gia tăng vốn đầu tư dưới các hình thức và kênh khác
nhau vẫn là công cụ chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng. Để đáp ứng yêu cầu
nói trên, chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng đã phải liên tục duy trì trong
nhiều năm; và đó là một trong các nguyên nhân quan trọng của lạm phát cao
và bất ổn kinh tế vĩ mô ở nước ta trong thời gian gần đây.
Những lý do trên đây buộc chúng ta phải tiến hành tái cơ cấu kinh tế
gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.
II. MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
GẮN VỚI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
1. Mục tiêu
Có thể nhìn nhận mục tiêu tái cơ cấu kinh tế theo 3 chiều cạnh sau
đây:
Thứ nhất, về chiều cạnh phân phối nguồn lực, tái cơ cấu kinh tế về
bản chất là thay đổi thể chế, cơ chế, công cụ phân bố, quản lý và sử dụng
nguồn lực quốc gia, nhất là vốn đầu tư nhằm hình thành cơ cấu kinh tế hợp
lý hơn, hiệu quả hơn. Các nhân tố sản xuất (gồm vốn, đất đai và tài nguyên)
phải được phân bố và dịch chuyển từ ngành, từ hoạt động kinh doanh có
năng suất thấp sang các ngành, các hoạt động kinh doanh có năng suất lao
động cao hơn. Vốn sẽ được phân bố và chuyển sang các ngành, hoạt động
kinh doanh có lợi nhuận cao hơn; lao động sẽ được phân bố và chuyển dịch
đến các ngành, các vùng và các doanh nghiệp có tiền lương cao hơn; và đất
đai, tài nguyên cũng phải được phân bố cho những nhà đầu tư, những dự án
sử dụng có hiệu quả cao hơn.
Thứ hai, từ chiều cạnh vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, tái cơ
cấu kinh tế được hiểu là sự thoái lui của nhà nước trong vai trò chủ đầu tư
và chủ sở hữu doanh nghiệp, và tăng cường vai trò định hướng và quản lý
kinh tế vĩ mô của nhà nước.

Bốn là, Nhà nước cần giảm vai trò là nhà đầu tư và người kinh doanh
trực tiếp. Cụ thể, cần đẩy mạnh chương trình cải cách doanh nghiệp nhà
nước, đặc biệt cần đẩy nhanh việc bán 100% các doanh nghiệp nhà nước
không thuộc các lĩnh vực chiến lược và giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong
nền kinh tế.
Năm là, từng bước và liên tục cải thiện, nâng cấp trình độ phát triển
các ngành kinh tế nói riêng và nền kinh tế nói chung; qua đó, các ngành sử
dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao từng bước thay thế các ngành
công nghệ thấp, thâm dụng lao động và giá trị gia tăng thấp để trở thành
những ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế.
Sáu là, tiếp tục tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP, và
đến năm 2020 hai ngành này chiếm ít nhất 85% GDP; sản xuất nông nghiệp

6


chuyển đổi theo hướng hiện đại, tổ chức sản xuất theo kiểu công nghiệp, có
năng suất cao, chất lượng cao.
Cuối cùng là, góp phần xây dựng và cũng cố vị thế quốc gia trong quan
hệ quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã
hội.Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
2. Các nguyên tắc chủ yếu
Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyên đổi mô hình tăng trưởng là nhiệm vụ
lớn, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải được triển khai đồng bộ ở tất cả các
ngành, các cấp, các lĩnh vực trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, đơn
vị cơ sở trong thời gian dài nhiều năm. Do đó, trong chỉ đạo và thực hiện tái
cơ cấu kinh tế, cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây.
Một là, thực hiện tăng trưởng hợp lý, bền vững và ưu tiên chất lượng

kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, mà còn phải kiềm lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Tất cả các nội dung nói trên
phải được thực hiện đồng thời, gắn với nhau và bổ sung cho nhau. Do đó,
các giải pháp về chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, về tái cơ cấu kinh tế
và bảo đảm an sinh xã hội phải lồng ghép và thống nhất với nhau, bổ sung
và phối hợp với nhau cả trước mắt cũng như trung và dài hạn.
Ba là, tiếp tục đổi mới, mở cửa, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế. Tái cơ cấu kinh tế sẽ thành công, đạt được mục tiêu như dự kiến,
nếu thu hút sự hưởng ứng và tham gia tích cực của người dân và các thành
phần kinh tế, nhất là tư nhân trong nước và nước ngoài, qua đó, huy động
được tối đa và sử dụng ngày càng hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội. Vì
vậy, cần phải tiếp tục đổi mới tư duy, phân định rõ vai trò của nhà nước và
thị trường; tiếp tục đổi mới mở rộng quy mô và hiệu quả hoạt động của các
loại thị trường, đảm bảo ngày càng đầy đủ hơn quyền tự do và cơ hội kinh
doanh của người dân và doanh nghiệp, các nhân tố sản xuất dịch chuyển và
phân bố chủ yếu theo tín hiệu của thị trường. Cùng với việc nâng cao năng
lực và hiệu lực quản trị quốc gia, Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến
tạo và hỗ trợ phát triển thông qua cơ chế, chính sách và các đòn bẩy kinh tế,
hạn chế dần đầu tư kinh doanh; can thiệp hành chính vào thị trường, nếu có,
phải có thời hạn và chỉ trong trường hợp thực sự cần thiết.
Bốn là, tiến hành tuần tự, từng bước vững chắc và có hệ thống dựa
trên khai thác các lợi thế cạnh tranh hiện có, vừa có thể tăng tốc nhảy vọt trên
một số ngành và lĩnh vực nhất định. Tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình
tăng trưởng là một quá trình phức tạp, lâu dài với nhiều khó khăn và thách
thức; phải tiền hành đồng thời và đồng bộ trên nhiều lĩnh vực của nền kinh
tế và ở tất cả các ngành, các cấp trên cả nước, có đột phá, nếu xét thấy cần
thiết. Vì vậy, các giải pháp tái cơ cấu kinh tế phải được sắp xếp hệ thống và
tuần tự theo thời gian, theo tính chất của từng vấn đề và mối liên kết giữa
các vấn đề cần giải quyết. Theo đó, việc triển khai thực hiện phải tuần tự,
từng bước, vững chắc có thứ tự ưu tiên và đột phá; vừa triển khai, vừa đánh

Ba là, giảm dần mức độ đô hoá hoá của nền kinh tế và sự phụ thuộc
vào đồng đô la mỹ trong thanh toán quốc tế; thực hiện chính sách tỷ giá ổn
định linh hoạt và chủ động theo hướng ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, giảm nhập siêu và bảo đảm an toàn cán cân thành toán quốc
tế.
Bốn là, tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với thị
trường vàng theo hướng: (i) thừa nhận và bảo đảm quyền sở hữu vàng của
cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, (ii) thừa nhận và bảo đảm
vàng như một phương tiện cất trữ; (iii) hạn chế, tiến tới cấm sử dụng vàng
làm phương tiện trao đổi và thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam, hạn chế có
hiệu quả quy mô và mức độ “vàng hoá” nền kinh tế, (iv) kết nối thị trường
vàng trong nước với thị trường quốc tế đảm bảo giá vàng ở trong nước hài

9


hoà hợp lý với giá vàng thế giới và mức lợi tức của các tài sản khác, (v) huy
động tốt hơn số dự trữ vằng trong dân cư phục vụ cho đầu tư phát triển.
Năm là, thực hiện thắt chặt tài khoá để kiểm soát tổng cầu, giảm áp lực
gia tăng lạm phát; đồng thời thực hiện nghiêm kỷ luật tài khoá (dự toán
ngân sách, mức thâm hụt ngân sách, quy mô, tốc độ gia tăng và mức trần nợ
công), tăng cường quản lý chi và nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi
ngân sách.
Sáu là, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả chính sách tiền tệ và chính sách
tài khóa; chính sách tài khóa phải bổ sung và hỗ trợ nhiều hơn cho chính
sách tiền tệ trong chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Về trung và dài hạn, vẫn tiếp tục kiên trì và nhất quán kiềm chế lạm
phát, từng bước giảm tỷ lệ lạm phát để mức lạm phát trung bình hàng năm
thời kỳ 2011-2015 khoảng dưới 7%/năm, và dưới 5% /năm cho thời kỳ
2016-2020; tăng cường tính bền vững của các cân đối vĩ mô; xem xét giảm

năm 2015.
- Đưa toàn bộ vốn đầu tư nhà nước, gồm cả vốn trái phiếu chính phủ và
vốn đầu tư nhà nước ngoài ngân sách khác vào khuôn khổ chi tiêu trung hạn,
đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước phản ánh đầy đủ và chính xác các
khoản thu chi, tăng cường kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong
quản lý chi ngân sách, kiểm soát chặt chẽ nợ công và giữ vững an ninh tài
chính quốc gia.
- Cải cách chính sách tài khóa. Để thay đổi chính sách tài khóa, cần
bắt đầu với kỷ luật tài khóa. Kỷ luật tài khóa ở Việt Nam đã bị buông lỏng
trong một thời gian dài. Kết quả là tỷ lệ đầu tư đã trở nên rất lớn, nợ công
tăng nhanh, thâm hụt ngân sách luôn ở trong tình trạng báo động, trong khi
hiệu quả của chi tiêu lại thấp. Để tăng cường kỷ luật tài khóa, cần ưu tiên
thực hiện những chính sách sau:
+ Gộp các khoản chi trong và ngoài ngân sách trong một ngân
sách hợp nhất để tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình cho chính
sách tài khóa.
+ Xác định lộ trình nhằm đưa thâm hụt ngân sách về mức bền
vững (dưới 3%). Trong dài hạn phải tiến tới cân bằng ngân sách, trừ những
trường hợp phải ứng phó với khủng hoảng hay thiên tai.
+ Giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay
tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Tỷ lệ
huy động ngân sách của Việt Nam hiện nay là quá cao so với các nước đang
phát triển (có tỷ lệ huy động ngân sách khoảng 15% - 20% GDP). Số liệu
quyết toán cho thấy tỷ lệ chi ngân sách năm 2009 lên tới 43% GDP. Ngay
cả khi trừ đi các khoản chi chuyển nguồn thì tỷ lệ chi như thế thực sự có
tính “hủy diệt” đối với sức sống của doanh nghiệp và nguồn thu trong tương
lai.
+ Tỷ lệ chênh lệch giữa vốn đầu tư thực tế từ ngân sách và vốn
đầu tư dự kiến theo kế hoạch không được cao hơn tỷ lệ lạm phát. Nếu áp
dụng nguyên tắc này cho năm 2010 với lạm phát 11,75%, vốn đầu tư từ

triển 2011-2020.
2.3. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và chất lượng các dự án
đầu tư nước ngoài
- Xây dựng tiêu chí cụ thể đánh giá, thẩm định và lựa chọn nhà đầu tư
và dự án đầu tư nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu: (i) Thúc đẩy chuyển
giao công nghệ, đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ; (ii) Giảm thâm hụt
và tiến tới cân bằng cán cân thương mại; (iii) Sử dụng hợp lý, hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; (iv) tăng tỷ trọng giá trị gia tăng
nội địa.
- Đổi mới hệ thống quản lý, vận động và xúc tiến đầu tư nước ngoài;
đồng thời, tăng cường năng lực và hiệu lực giám sát thực hiện đầu tư sau
đăng ký. Tách chức năng nghiên cứu, hoạch định chính sách, pháp luật về
đầu tư nước ngoài và chức năng vận động, xúc tiến, giám sát và hỗ trợ các
nhà đầu tư; thành lập Cơ quan xúc tiến đầu tư Việt Nam (Vietnam Invest).

12


- Phân công, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương; các tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương được chủ động vận động thu hút và chấp
thuận đầu tư nhưng không ảnh hưởng bất lợi đến các cân đối lớn và lợi ích
chung của nền kinh tế và của vùng kinh tế có liên quan.
- Củng cố công tác giám sát, theo dõi và quản lý FDI sau cấp phép
bằng các giải pháp:
+ Tăng cường năng lực, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia,
thống nhất toàn quốc về đầu tư nước ngoài.
+ Duy trì mối liên hệ thường xuyên với các nhà đầu tư để kịp thời
nắm bắt các vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình đầu tư. Cơ quan
xúc tiến đầu tư phải là đầu mối một cửa, chủ trì phối hợp với các cơ quan
chức năng liên quan khác nhằm đưa ra các gói giải pháp tháo gỡ hoặc hỗ trợ

3.1.1. Sắp xếp, tổ chức lại, đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá và đa
dạng hoá sở hữu khu vực DNNN bằng các giải pháp sau đây:
- Tiếp tục phân loại các DNNN, xác định cụ thể danh mục doanh
nghiệp nhà nước tiếp tục nắm giữ 100% và doanh nghiệp cổ phần hoá,
doanh nghiệp sẽ giải thể hặc cho phá sản theo Quyết định số 14/2011/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí, phân loại doanh nghiệp
nhà nước6.
- Hoàn thành kế hoạch cổ phần hoá và kế hoạch thoái vốn (chuyển
nhượng cổ phần cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
khác) ở các doanh nghiệp đã cổ phần hoá ở các ngành, lĩnh vực nhà nước
không cần tiếp tục nắm giữ cổ phần hoặc cổ phần chi phối, trước hết là lĩnh
vực dịch vụ, nhà hàng, khách sạn, du lịch,.v.v... Nhà nước chỉ tiếp tục nắm
giữ cổ phần chi phối trong trường hợp thực sự cần thiết.
3.1.2. Thực hiện sắp xếp và cơ cấu lại doanh nghiệp, tập đoàn, tổng
công ty nhà nước nắm giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối bằng các giải
pháp sau đây:
- Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước theo ngành,
lĩnh vực kinh doanh không phân biệt cấp, cơ quan quản lý và chuyển các
doanh nghiệp không đủ điều kiện hạch toán kinh doanh thành đơn vị sự
nghiệp. Giải pháp này chủ yếu tập trung thực hiện đối với các doanh nghiệp
trong các ngành xuất bản, xổ số, cấp thoát nước, môi trường đô thị, thuỷ lợi,
thuỷ nông, nông lâm trường, sửa chữa và quản lý đường bộ, quản lý đường
sắt,.v.v…
- Cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh và tổ chức quản lý đối với từng
doanh nghiệp cụ thể bằng các giải pháp sau đây:

6

. Dự kiến:

- Tiếp tục nắm giữ 100% sở hữu nhà nước đối với 692 doanh nghiệp, gồm 284 doanh

tin về danh mục đầu tư, chất lượng danh mục các khoản đầu tư và tiến độ
thực hiện các dự án đầu tư, thông tin về từng cán bộ quản lý chủ chốt của
tập đoàn, tổng công ty và các lợi ích của họ có liên quan đến tập đoàn, tổng
công ty; thông tin về sự kiện quan trọng liên quan đến tập đoàn/tổng công
ty nói chung, các đơn vị thành viên nói riêng, về các rủi ro và biến động bất
thường liên quan,.v.v...
3.1.3. Xây dựng và áp dụng khung quản trị hiện đại theo thông lệ
quốc tế bằng các giải pháp sau đây:
- Đổi mới một cách cơ bản cơ chế, nâng cao hiệu lực thực hiện quyền
chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, bao gồm:
+ Tách chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng
quản lý nhà nước và chức năng giám sát độc quyền trong kinh doanh của
các cơ quan hành chính nhà nước;
+ Hoàn thiện cơ chế phân cấp thực hiện quyền và nghĩa vụ của đại
diện chủ sở hữu nhà nước theo nguyên tắc có cơ quan đầu mối chuyên trách
thực hiện đầy đủ tất cả các quyền sở hữu nhà nước; chịu trách nhiệm giám
sát, tổng hợp, theo dõi và đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, cơ cấu và hiệu quả sử dụng tài sản, thực trạng bảo toàn và phát

15


triển vốn ở từng doanh nghiệp nói riêng và khu vực doanh nghiệp nhà nước
nói chung.
+ Tăng cường năng lực và công cụ quản lý cho cơ quan chuyên
trách thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp.
+ Xây dựng cơ chế giám sát, kiểm tra và đánh giá hiệu lực và hiệu
quả hoạt động của các cơ quan, cá nhân đại diện thực hiện quyền chủ sở hữu
nhà nước tại doanh nghiệp.
- Nghiên cứu, soạn thảo và hoàn thiện các quy chế quản trị nội bộ tập

16


4. Tái cơ cấu ngành kinh tế
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 đã xác định là phải thay
đổi cơ cấu sản xuất và dịch vụ cả về ngành kinh tế kỹ thuật, vùng và giá trị
gia tăng. Trọng tâm của đổi mới và chuyển đổi cơ cấu công nghiệp và dịch vụ
là phân bố lại cơ cấu sản xuất phù hợp với từng vùng, ưu tiên phát triển các
sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phảm có khả năng tham gia mạng sản
xuất và chuỗi giá trị toàn cầu thuộc các ngành công nghệ cao, công nghiệp cơ
khí, thông tin và truyền thống, các sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản có lợi thế
cạnh tranh. v.v... tăng hàm lượng khoa học và công nghệ, tăng tỷ trọng nội
địa trong sản phẩm. Để làm được những điều này, cần thực hiện các giải pháp
sau đây:
Thứ nhất, các ngành đang tăng trưởng nhanh nhờ nhu cầu trong nước
gia tăng có thể sử dụng lợi thế này làm bàn đạp để thúc đẩy hoạt động kinh
doanh vượt ra ngoài phạm vi thị trường nội địa, mở rộng xuất khẩu. Có rất
nhiều ngành phát triển tốt nhờ nhu cầu trong nước, từ thiết bị điện bao gồm
dây, cáp điện và ắc quy (các doanh nghiệp trong nước phát triển rất mạnh ở
những ngành này), cho đến các ngành hàng sản phẩm chăm sóc sắc đẹp và
vệ sinh như xà phòng và mỹ phẩm. Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho việc
chuyển dịch từ chỗ chủ yếu đáp ứng nhu cầu trong nước sang đồng thời
phục vụ xuất khẩu, không thể thiếu vai trò của Chính phủ, đặc biệt ở các
phân khúc mà các doanh nghiệp Việt Nam còn hoạt động rải rác, manh mún
khiến quy mô không đủ đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Thứ hai, cần xem xét xây dựng một chiến lược dài hạn hơn nhằm hỗ
trợ việc chuyển dịch từng bước sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao
hơn trong chuỗi giá trị kinh doanh toàn cầu. Việt Nam hấp dẫn các công ty
đa quốc gia bởi vị trí cửa ngõ vào thị trường ASEAN đầy hứa hẹn với tầng
lớp trung lưu ngày càng đông đảo, đồng thời cũng là phương án dự phòng

nước ta.
5. Khuyến khích phát triển và hình thành cơ cấu vùng kinh tế
hợp lý
Phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng với tầm nhìn dài hạn, tăng
cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo quy hoạch, khắc phục
đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng; đồng thời
tăng cường liên kết, phối hợp giữa các vùng để cùng phát triển; tiếp tục đẩy
mạnh phát triển các vùng lãnh thổ trọng điểm tạo động lực cho nền kinh tế là
những chủ trương chiến lược về đổi mới và chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế
thời kỳ 2011-2020. Để đạt được các chủ trương chiến lược nói trên, cần triển
khai một số giải pháp cụ thể sau đây:
- Tập trung đầu tư hoàn thành kết cấu hạ tầng đồng bộ và chủ động xúc
tiến đầu tư, lựa chọn các nhà đầu tư và dự án đầu tư có chất lượng để phát
triển các khu công nghệ cao ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
- Tập trung đầu tư phát triển các khu kinh tế trọng điểm, tạo tiền đề
cho sự bùng nổ và lan toả phát triển kinh tế vùng.
- Tiếp tục khuyến khích các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ
động, sáng tạo trong phát triển kinh tế địa phương trên cơ sở phát huy lợi thế
riêng có của địa phương, của vùng;
- Thiết lập cơ chế phối hợp phát triển kinh tế - xã hội giữa các địa
phương, nhằm bổ trợ lẫn nhau thông qua phát triển các mạng sản xuất và

18


chuỗi giá trị, thay vì cạnh tranh không lành mạnh hoặc sao chép và đầu tư
chồng chéo nhau bằng các giải pháp cụ thể sau đây:
+ Củng cố, tăng cường vai trò, thẩm quyền và tính chuyên trách
của Ban chỉ đạo phát triển vùng thành cơ quan phối hợp phát triển kinh tế
vùng.


19


chi phối của Nhà nước thực sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống
các tổ chức tín dụng, có đủ năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Ba là, khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, mua lại ngân hàng theo
nguyên tắc tự nguyện; bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền, các quyền và
nghĩa vụ của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật. Trong giai
đoạn hiện nay, cần hết sức cẩn thận khi sử dụng giải pháp phá sản tổ chức
tín dụng theo quy định của Luật phá sản để đảm bảo giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Bốn là, thực hiện cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động và quản
trị của các tổ chức tín dụng theo các hình thức, biện pháp và lộ trình thích
hợp. Hình thức và biện pháp cụ thể cơ cấu lại tổ chức tín dụng được áp phù
hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể của từng tổ chức tín dụng.
Năm là, không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng;
giới hạn đến mức thấp nhất tổn thất, chi phí xử lý những vẫn đề của hệ
thống các tổ chức tín dụng.
6.3. Một số giải pháp chủ yếu
Đánh giá, phân loại tổ chức tín dụng, nên chia các tổ chức tín dụng
làm 3 nhóm: (i) Nhóm lành mạnh; (ii) Nhón thiếu thanh khoản tạm thời; và
(iii) Nhóm yếu kém (phải có tiêu chí rõ ràng).
- Với nhóm 1:
+ Tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng này tự củng cố, đổi mới
hoạt động, quản trị và nâng cao NLCT.
+ Khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng loại này
nhận sáp nhập và mua lại các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc tự
nguyện để tăng quy mô và NLCT.
- Với nhóm 2:




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status