NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG THANG DINH DƯỠNG KHOÁNG TRÊN LÁ VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM BÓN PHÂN THEO CHUẨN ĐOÁN DINH DƯỠNG CHO CÀ PHÊ VỚI KINH DOANH TẠI ĐĂC LẮC - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN SANH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG THANG DINH DƯỠNG KHOÁNG
TRÊN LÁ VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM BÓN PHÂN THEO
CHẨN ĐOÁN DINH DƯỠNG CHO CÀ PHÊ VỐI KINH
DOANH TẠI DAK LAK

Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 62 62 01 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại:
Viện đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Vào hồi 8 giờ 30 ngày 15 tháng 5 năm 2009.
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Thư viện Trường Đại họ
c Tây Nguyên
iiDANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Văn Sanh và CTV(1991), "Trạng thái dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê vối

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cà phê cung cấp loại thức uống nóng được nhân loại ưa thích, ngày nay hầu như
không có nhân dân của một Quốc gia nào là không dùng cà phê. Nhu cầu tiêu thụ ngày một
tăng nên cây cà phê được xác định là cây mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Ở Dak Lak, sau ngày giải phóng chỉ có vài ngàn ha nhưng đến nay (2007)
diện tích cà phê đã ổn định đến 169.345 ha với sản lượng hàng năm đạt kho
ảng 330.000 tấn
nhân, kim ngạch xuất khẩu cà phê trên 300 triệu USD, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu của
tỉnh. Nhờ cà phê mà đời sống của người dân trồng cà phê từng bước được đổi mới. Song
không phải thế mà không chấp nhận thực tế: quy luật thị trường chi phối cũng làm cho
người trồng cà phê ít vốn lao đao khốn khổ. Rõ ràng vốn ít, đầu tư thấp, năng suất thấp, thu
nhập kém là
điều không tránh khỏi, nhưng cũng phải thừa nhận rằng trên cùng một loại đất
với cùng một giống năng suất cà phê phụ thuộc rất lớn vào phân bón và năng lực tay nghề
của người quản lý chăm sóc. Hơn nữa, khi cà phê đạt được năng suất cao thì dinh dưỡng bị
mất đi thông qua sản phẩm càng lớn, cân bằng dinh dưỡng trong cây trở nên không phù hợp,
cần phải nghiên cứu nhu cầ
u dinh dưỡng của cây theo từng giai đoạn để đáp ứng yêu cầu
năng suất cao, độ phì đất không giảm sút mà còn mang lại hiệu quả kinh tế nữa. Để làm
được điều đó thì phải kiểm soát và phát hiện sớm những việc thừa, thiếu các nguyên tố dinh
dưỡng trong lá trước khi chúng thể hiện ra triệu chứng bên ngoài nên Sylvain đã nhấn
mạnh: 'vấn đề chẩn đoán dinh dưỡng trên lá cà phê là cơ sở
khoa học để đưa ra công thức

trồng trên đấ
t nâu đỏ basalt của Dak Lak;
- Đây là đề tài rất phức tạp và chưa được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, nên
nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu hướng tới việc đưa ra một thang dinh dưỡng của các
nguyên tố khoáng N, P, K trong lá cà phê trước khi bón phân vào đầu mùa mưa để làm cơ
sở cho các nghiên cứu ứng dụng theo hướng này nên chưa đưa ra được các ứng dụng cụ thể
của thang dinh dưỡng này. Vì vậy, cần có các nghiên cứu tiếp tụ
c theo hướng này để có thể
hoàn chỉnh được phương pháp bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá cho cây cà phê;
- Việc thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trên lá theo DRIS (Diagnosis and
Recommendation Integrated Systems) để bón phân cho cà phê cũng chỉ bước đầu thực hiện ở
công ty cà phê Thắng Lợi, Êa Pok đại diện cho các vùng trồng cà phê vối của Dak Lak.
5. Những đóng góp mới của luận án
+ Đã xây dựng được thang dinh dưỡng các nguyên tố khoáng trong lá cà phê vối Dak
Lak vào đầu mùa mưa một cách hoàn chỉnh từ rất thi
ếu, thiếu, trung bình, tối ưu, thừa, làm
tiền đề cho việc bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá;
+ Lần đầu tiên ở Việt Nam đã sử dụng phương pháp DRIS (N/P, P/K, N/K) để chẩn
đoán dinh dưỡng, đề xuất và kiểm nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê;
+ Bước đầu đã thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trong lá để điều chỉnh lượng phân
bón theo DRIS cho 2 công ty cà phê Thắng Lợi và Êa Pok đạt kết quả tốt.
6. Bố c
ục của luận án
Luận án gồm 123 trang (không kể tài liệu tham khảo, phụ lục). Mở đầu 4 trang;
Chương 1: Tổng quan tài liệu 34 trang; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp
nghiên cứu 11 trang; Chương 3: Kết quả và thảo luận 75 trang; Kết luận và đề nghị 3 trang.
Luận án có 24 bảng biểu số liệu, 17 hình vẽ đồ thị, 8 hình ảnh và tham khảo 99 tài liệu trong
& ngoài nước.

3

2
O
5
% K
2
O%
> 70cm 4,5 - 5,5 > 2 0,15 - 0,20 12 0,10 - 0,15 0,10 - 0,15
Theo Nguyễn Sỹ Nghị (1982) [37] tiêu chuẩn của đất để trồng được cà phê cho năng
suất bình thường phải nằm trong giới hạn sau: N% = 0,15 - 0,20%, P
2
O
5
%= 0,08 - 0,10%,
K
2
O% = 0,10 - 0,15%, hàm lượng mùn tối thiểu là 2%. Theo Trương Hồng, Tôn Nữ Tuấn
Nam và CTV (1996)[19] tỷ lệ NPK 1:0,3:0,91 đạt năng suất cao nhất, nhưng Phan Kim
Hồng Phúc (2000) [42] cho rằng cây cà phê cần dùng lượng N và K gấp ba lần so với lượng
P. Vì vậy, phân hỗn hợp NPK phải được sản xuất theo tỷ lệ 1 : 0,3 : 1 là hợp lý hơn cả. Tôn
Nữ Tuấn Nam (1993)[32] tiến hành cân đối P trên nền NK (N
0
= 0, N
1
= 150, N
2
= 300 kg
N/ha; K
0
= 0, K
1

= 200 kg
P
2
O
5
/ha; K
1
= 200, K
2
= 300, K
3
= 400 kg K
2
O/ha) bón N từ 200 đến 400 kg N/ha có làm

4
thay đổi năng suất cà phê khá rõ, tương quan giữa các nguyên tố cho thấy bón N cao trên
nền P và K cao mới làm tăng năng suất cà phê. Còn trên nền P và K thấp có bón tăng N
cũng không làm thay đổi năng suất cà phê.

1.3 Những nghiên cứu bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới phương pháp bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá đã được áp
dụng từ lâu. Năm 1957, Chaverri ở Costa Rica (dẫn qua Đoàn Triệu Nhạn,1984 [39]) cho
rằng hàm lượng N thích hợp trong lá
đầu mùa mưa là 3,0%, vượt quá giới hạn này được
xem là thừa N. Hàm lượng P trong lá biến thiên từ 0,12 đến 0,14% là thích hợp. Về K từ 1,5
đến 2,5% được xem là mức độ thích hợp nhất cho cà phê ở Costa Rica. Về Ca, hàm lượng
thích hợp lớn hơn 1,5%. Loue, A. (1958)[93] đưa ra giá trị dinh dưỡng ở cặp lá thứ 3 như
sau: 1,5-1,8% thiếu N nghiêm trọng, từ 2,5-2,8% thiếu ít, từ 2,8-3,0% cần bón ít, từ

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng
Cây cà phê vối Coffea canephora var. robusta ở độ tuổi 10 - 15 trồng trên đất nâu đỏ
basalt FRr (Rhodic Ferralsols) của Dak Lak.
2.2 Nội dung
+ Điều tra, đánh giá tình hình sử dụng phân bón của nhân dân trồng cà phê ở Dak Lak;
+ Nghiên cứu chẩn đoán dinh dưỡng khoáng qua lá cho cà phê vối kinh doanh Dak
Lak;
+ Bước đầu thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá cho cà phê vối
kinh doanh tại Dak Lak:
- Thử nghiệm 1: Nghiên cứu thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trên lá để điều
chỉ
nh lượng phân bón cho cà phê vối kinh doanh ở Công ty cà phê Thắng Lợi, Dak Lak;
- Thử nghiệm 2: Hiệu quả của việc thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh
dưỡng kết hợp phân hữu cơ sinh học cho cà phê ở Công ty cà phê Êa Pok, Dak Lak.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và năng suất cà phê vối
Dak Lak: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rapid Rural Appraisal);
+ Phương pháp tính hiệu quả đầu tư phân bón: FIE = GR - (TVC1+ TVCf)/TVCf;
VCR = VY/CF
+ Phương pháp l
ấy mẫu và phân tích đất, lá theo quy trình phổ biến hiện hành;
+ Phương pháp xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê theo giá trị trung
bình x = ∑ x
i
/ n và độ lệch chuẩn δ = ∑(x
-
x)
2

nhất 26,4 kg đến cao nhất 840 kg K
2
O/ha. Như vậy đầu tư lượng phân ở mức thấp thì quá
thiếu, ở mức cao lại vượt quá xa so với quy trình[28], cá biệt tổng lượng phân thương phẩm
cao nhất lên tới 5284 kg/ha. Trong 86 hộ điều tra chỉ có 22% số hộ bón phân cân đối, tỷ lệ
thích hợp, hiệu quả cao.
Bảng 3.1 Thực trạng sử dụng phân bón và năng suất cà phê của 3 huyện Krông Ana,
Êa Kar, Buôn Đôn, tỉnh Dak Lak (2002-2003) (trích một số hộ đạ
i diện)
stt Họ và tên kg nguyên chất/ha Tỷ lệ phân hữu cơ Năng suất
N P
2
O
5
K
2
O NPK tấn/ha tấn nhân/ha
2. Nguyễn Văn Hòa 384 384 192 1. 1.0,5 20 6,0
5. Nguyễn Cảnh Hải 493 177 260 1. 0,35.0,53 15 5,7
11. Đặng Ngọc Nhân 460 460 230 1. 1.0,5 18 5,0
19. Nguyễn Thị Liên 328 128 343 1. 0,39.1,05 10 4,4
28. Y Mi Niê 416 252 216 1. 0,61.0,52 14 4,0
33. Hồ Đăng Khoa 390 294 100 1. 0,75.0,26 12 3,8
36. Đặng Văn Ngọc 304 120 360 1. 0,39.1,18 - 3,6
39. Bùi Quang Trung 753 753 376 1. 1.0,5 - 3,5
41. Lê Văn Tâm 350 230 340 1. 0,6.0,86 10 3,3
48. Hồ Thị Tuyền 285 240 120 1. 0,26.0,78 - 3,0
52. Đinh Sỹ Phu 228 228 114 1. 1.0,5 - 2,9
56. Đào Thị Nhung 345 125 450 1. 0,36.1,30 - 2,8
59. Lê Thị Hồng 200 200 100 1. 1.0,5 - 2,8

kết hợp với phân hữu cơ từ 13 - 19 tấn /ha, để đạt được năng suất từ 3,2 - 4,6 tấn nhân/ha
các hộ đã bón kết hợp với phân hữu cơ từ 10 - 20 tấn. Đáng chú ý nhất là khả năng tiết kiệm
phân vô cơ khá lớn như h
ộ Nguyễn Văn Hòa để đạt được 6,0 tấn nhân/ha hộ này đã bón
2400 kg phân NPK + 20 tấn phân hữu cơ, trong khi hộ Đặng Ngọc Nhân để đạt được năng
suất 5,0 tấn nhân/ha hộ này đã bón 2875 kg phân NPK + 18 tấn phân hữu cơ.
+ Ở huyện Êa Kar năng suất cà phê thấp nhưng chênh lệch nhau khá lớn, năng suất
thấp nhất chỉ có 1,1 tấn nhân/ha nhưng cao nhất lên tới 5,7 tấn nhân/ha. Sở dĩ có tình trạng
này là do lượ
ng phân vô cơ đầu tư chênh nhau quá lớn và chỉ có 2/30 hộ được điều tra là có
bón kết hợp phân vô cơ với phân hữu cơ. Hộ Bùi Quang Trung bón lượng phân hóa học cao
nhất đến 4705 kg phân NPK nhưng không có kết hợp với phân hữu cơ nên năng suất cũng
chỉ đạt 3,5 tấn nhân/ha. Trong khi để đạt được năng suất 3,3 tấn nhân/ha hộ Lê Văn Tâm chỉ
cần bón 2700 kg phân NPK kết hợp với 10 tấn phân hữu cơ
. Rõ ràng khi bón phân cho cà
phê có kết hợp với phân hữu cơ đã tiết kiệm khá lớn lượng phân hóa học và tăng hiệu quả
của phân hóa học khá cao. Vai trò của phân hữu cơ chưa được nông dân huyện Êa Kar coi
trọng đúng mức nên số hộ bón kết hợp phân vô cơ với phân hữu cơ rất ít.
+ Ở huyện Buôn Đôn lượng phân hóa học được bón cho cà phê tương đối thấp so với
2 huyện trên và tỷ lệ NPK c
ũng chưa thích hợp nên năng suất chỉ đạt được từ 1,3 - 4,1 tấn
nhân/ha. Phần lớn các hộ trồng cà phê huyện Buôn Đôn bón phân không có kết hợp phân
hóa học với phân hữu cơ, chỉ có 6 hộ bón kết hợp phân hữu cơ với số lượng thấp đều < 5,5
tấn phân hữu cơ/ha nhưng vẫn đạt được năng suất khá cao từ 2,9 - 4,1 tấn nhân/ha, các hộ
còn lại không bón kết hợp vớ
i phân hữu cơ chỉ đạt được năng suất từ 1,3 - 3,3 tấn nhân/ha.
Nếu bón cùng tỷ lệ NPK 1 : 1 : 0,5 nhưng năng suất chênh nhau khá lớn giữa có và không
có kết hợp bón phân hữu cơ như hộ Đinh Sĩ Phu bón theo tỷ lệ 1 : 1 : 0,5 không kết hợp
phân hữu cơ thì đạt được năng suất 2,9 tấn nhân/ha nhưng hộ Đinh Viết Hải cũng bón theo
tỷ lệ 1 : 1 : 0,5 có kết hợp 4,4 tấn phân hữu c


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status