Quản lý về cạnh tranh đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng ở việt nam áp dụng tại công ty cổ phần xây dựng việt nam - Pdf 31

Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

MỤC LỤC

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuật ngữ cạnh tranh, đấu thầu đã trở nên quen thuộc trong những năm
gần đây ở Việt Nam mặc dù nó đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Trước đây khi
nền kinh tế Việt Nam còn trong chế độ bao cấp, người bán chỉ sản xuất và bán
những gì mình có và không quan tâm đến nhu cầu của người mua, do đó người
mua không có quyền lựa chọn cho mình những hàng hóa phù hợp. Chỉ đến khi
nền kinh tế chuyển dần sang hướng thị trường thì tính cạnh tranh xuất hiện,
khái niệm về cạnh tranh, đấu thầu cũng dần dần được hình thành và được chấp
nhận như một tất yếu. Trong lĩnh vực xây dựng hoạt động đấu thầu sẽ giúp cho
chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của mình,
nhờ đó họ có được những công trình có chất lượng cao, giá cả hợp lý tạo động
lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên thực tiễn công tác đấu thầu,
cạnh tranh ở nước ta cũng tồn tại nhiều hạn chế ở cả tầm vĩ mô và tầm vi mô,
chính vì vậy, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
luôn giành được sự quan tâm hàng đầu của nhà nước và các doanh nghiệp xây
dựng. Vì vậy, vấn đề nâng cao năng lực quản lý về cạnh tranh đấu thầu trong
xây dựng có một vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự

Đề tài nghiên cứu quản lý về cạnh tranh đấu thầu trong xây dựng, các
nhân tố ảnh hưởng và chi phối, thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý
về cạnh tranh đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng của doanh nghiệp, cụ thể là
Công ty cổ phần xây dựng Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
– Lênin;
- Phương pháp phân tích thực chứng trên cơ sở bám sát quan điểm của
Đảng, Nhà nước để tiếp cận và giải quyết vấn đề;
- Bên cạnh đó chúng tôi có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
khoa học khác như: khảo sát thực tế, phương pháp so sánh, phương pháp xã hội
học, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp...
5. Đóng góp mới của đề tài
- Trên cơ sở nhận thức về tính cần thiết của quản lý về cạnh tranh đấu
thầu trong xây dựng, để phân tích, làm rõ thực trạng quản lý về cạnh tranh đấu
thầu trong lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý về cạnh
tranh đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng; có liên hệ cụ thể của Công ty cổ phần
xây dựng Việt Nam.

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

2


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

6. Cấu trúc của chuyên đề

chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu. Nhà thầu là tổ
chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu. Nhà thầu là nhà xây
dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn,
nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư, nhà cung cấp trong đấu thầu
mua sắm hàng hóa”.
Bên cạnh đó đấu thầu còn được hiểu là quá trình thực hiện một hoạt động
mua bán đặc biệt nào đó mà bên mua yêu cầu bên bán cung cấp những bản
chào hàng cho một công trình, dịch vụ hoặc một hàng hóa cần mua nào đó trên
cơ sở những bản chào hàng, bên mua sẽ lựa chọn cho mình một hoặc nhiều bên
bán tốt nhất và phù hợp với mình nhất. Đấu thầu giúp cho bên mua mua được
dịch vụ, công trình hay hàng hóa mình cần một cách tốt nhất, sử dụng ngân quỹ
của mình một cách hiệu quả nhất.
- Đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu có năng lực thực
hiện những công việc có liên quan tới quá trình tư vấn, xây dựng, mua sắm
thiết bị và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình xây dựng... nhằm đảm
bảo tính hiệu quả kinh tế, các yêu cầu kỹ thuật của dự án. Đấu thầu xây dựng là
phương thức đấu thầu được áp dụng rộng rãi đối với hầu hết các dự án đầu tư
xây dựng cơ bản.

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

4


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

2. Đặc điểm đấu thầu xây dựng
Thứ nhất, về chủ thể tham gia đấu thầu xây dựng. Đấu thầu xây dựng là



Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

bảo sự độc lập về tài chính, theo đó, nhà thầu phải là đơn vị hạch toán kinh tế
độc lập; không có cùng lợi ích kinh tế với các tổ chức và cá nhân liên quan.
Thứ hai, về đối tượng hàng hóa tham gia đấu thầu xây dựng. Hàng hóa
tham gia đấu thầu xây dựng là hàng hóa đặc biệt, đó là các dự án xây lắp, các
dự án cung ứng hàng hóa, các dự án tư vấn về thiết kế, giám sát, đầu tư… Các
nhà thầu thực hiện việc cạnh tranh với nhau để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh,
đó là: đấu thầu tuyển chọn tư vấn thiết kế; đấu thầu mua sắm hàng hóa, thiết bị;
đấu thầu xây lắp; đấu thầu thực hiện lựa chọn đối tác thực hiện dự án... Hàng
hóa lúc đầu đem ra thị trường chưa được định giá một cách cụ thể, dựa trên các
thông số yêu cầu về điều kiện kinh tế - kỹ thuật của dự án, doanh nghiệp và nhà
đầu tư thông qua hình thức đấu thầu để xác định giá cả cụ thể của hàng hóa và
các yêu cầu cụ thể về kỹ thuật và điều kiện thực hiện để hoàn tất việc mua bán.
Hoạt động này diễn ra giữa người mua (chủ dự án) với người bán (nhà thầu) và
giữa các nhà thầu với nhau nhằm bán được sản phẩm của mình. Thông qua
cạnh tranh đấu thầu sẽ hình thành giá thầu - giá của hàng hóa đem ra bán đây
cũng chính là giá dự toán của công trình.
Thứ ba, về phương thức tổ chức đấu thầu, theo qui định của pháp luật có
ba phương thức đấu thầu cơ bản mà chủ đầu tư dự án có thể lựa chọn tổ chức
đấu thầu, đó là: đấu thầu một túi hồ sơ, đấu thầu hai túi hồ sơ và đấu thầu hai
giai đoạn.
+ Đấu thầu một túi hồ sơ, là phương thức mà nhà thầu nộp hồ sơ dự
thầu trong một túi hồ sơ. Phương thức này được áp dụng đối với đấu thầu mua
sắm và xây lắp.
+ Đấu thầu hai túi hồ sơ, là phương thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ

thầu hạn chế chỉ áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
- Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu;
- Do nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tổ chức đấu thầu hạn chế;
- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế.
Thứ năm, về nguyên tắc đấu thầu. Khác với các hình thức mua bán hàng
hóa khác, đấu thầu xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc mua bán đặc thù, đó
là: nguyên tắc công bằng, bí mật, công khai, có đủ năng lực và trình độ, và đảm
bảo cơ sở pháp lý.
II. Cạnh tranh trong đấu thầu trong xây dựng và đặc điểm của cạnh tranh
đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam.
1. Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh có nghĩa là "cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình
giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau.
Trong kinh doanh, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các nhà

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

7


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

kinh doanh trên thị trường nhằm chiếm ưu thế trên cùng một đối tượng khách
hàng, sản phẩm ... nhằm giành thắng lợi về phía mình.
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là sự cố
gắng giành được quyền thực hiện các dự án thông qua gọi thầu với điều kiện
thuận lợi và tối ưu nhất trên cơ sở nguồn nội lực và ngoại lực có khả năng
khống chế được của doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích kinh tế - xã


Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

tranh với nhau, điều này dẫn tới sự hình thành nhiều mối quan hệ cạnh tranh
giữa các chủ thể khi tham gia đấu thầu. Đó là, mối quan hệ cạnh tranh giữa
người bán và người mua, theo đó, người mua (bên mời thầu) thì muốn mua
được công trình xây dựng có chất lượng cao, thời gian thi công ngắn, chi phí
hợp lý, về phía những người bán (nhà thầu) thì muốn bán được công trình trong
tương lai có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhuận lớn nhất trong hạn độ
bảo đảm các qui chuẩn của xây dựng.
Thứ hai, về đối tượng của cạnh tranh đấu thầu xây dựng. Khi đánh giá và
quyết định lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư thường căn cứ vào các tiêu chí để xét
thầu, đó là: kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu; khả năng tài chính; trình độ
chuyên môn, kỹ thuật; tiến độ thi công và giá dự thầu. Trong đó, bên mời thầu
chú ý nhiều nhất tới chất lượng, tính năng ưu việt về kỹ thuật và giá thành sản
phẩm, đó cũng chính là đối tượng cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau.
Cạnh tranh bằng chất lượng công trình, là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong việc đề xuất các giải pháp tốt nhất về khoa học - công nghệ nhằm
đáp ứng các tiêu chuẩn do bên mời thầu đưa ra. Để thắng thầu, doanh nghiệp
phải không ngừng đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng công trình. Chất lượng công trình là một
trong những yếu tố quan trọng nhất, nó khẳng định năng lực thi công, uy tín
của doanh nghiệp. Mặt khác, chất lượng công trình còn góp phần không nhỏ
trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hoàn thành các mục tiêu
kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đề ra và thương hiệu của doanh nghiệp.
Cạnh tranh bằng giá dự thầu cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
quyết định đến thành công hay thất bại trong đấu thầu xây dựng. Do đó, xây
dựng được mức giá bỏ thầu hợp lý là yêu cầu hàng đầu quan trong việc đảm
bảo tính cạnh tranh và đạt hiệu quả kinh doanh cao của doanh nghiệp. Để tạo ra
ưu thế cạnh tranh về giá trong cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh
nhạy và linh hoạt trong việc tìm hiểu thông tin về dự án, đối thủ cạnh tranh,

Cạnh tranh theo chiều sâu (cạnh tranh không có giới hạn) là sự đầu tư
của doanh nghiệp thông qua việc nâng cấp thiết bị thi công, nghiên cứu và ứng
dụng những tiến bộ của khoa học - công nghệ vào thi công, nâng cao trình độ
chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân, viên chức trong doanh
nghiệp. Cạnh tranh theo chiều sâu thực chất là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp thông qua việc đầu tư nghiên cứu nhằm nâng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật của hàng hóa chào bán nói riêng (công trình) và năng lực khoa học của
doanh nghiệp nói chung.
Trong thực tế, doanh nghiệp thường thực hiện cả hai hình thức trên để
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

10


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

III. Quy định pháp lý về cạnh tranh, đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng
1. Quy định pháp lý về đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng
Hệ thống các quy định pháp lý về quản lý cạnh tranh, đấu thầu trong lĩnh
vực xây dựng ở nước ta hiện nay gồm: Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày
29/11/2005; Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003; Nghị định số
85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật
đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo luật xây dựng; Nghị định số
68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
85/2009/NĐ-CP và hệ thống các thông tư, hướng dẫn thi hành.
Cụ thể tại nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 hướng dẫn thi
hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng.

- Về hình thức phạt tiền: Nghị định mới không quy định các mức phạt cụ
thể như Nghị định 58/2008/NĐ-CP mà sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.
- Về quản lý nhà thầu nước ngoài: Theo Nghị định mới, trường hợp nhà
thầu nước ngoài được lựa chọn để thực hiện các gói thầu trên lãnh thổ Việt
Nam, trong vòng 15 ngày, kể từ ngày hợp đồng ký kết với nhà thầu nước ngoài
có hiệu lực, chủ đầu tư các dự án có trách nhiệm gửi báo cáo bằng văn bản,
bằng thư điện tử về Bộ Kế hoạch và Đầu tư đồng thời gửi Bộ quản lý ngành
(đối với dự án thuộc phạm vi quản lý của Bộ hoặc do Bộ trưởng quyết định đầu
tư), Bộ Xây dựng (đối với các gói thầu trong hoạt động xây dựng) và gửi cho
Sở Kế hoạch và Đầu tư ở địa phương (đối với dự án thuộc phạm vi quản lý của
địa phương) để tổng hợp và theo dõi.
Kể từ ngày Nghị định mới này có hiệu lực thi hành (từ 1/12/2009), Nghị
định số 58/2008/NĐ-CP ngày 5/5/2008 và Quyết định số 49/2007/QĐ-TTg
ngày11/4/2007 hết hiệu lực thi hành.
2. Quy định pháp lý về cạnh tranh đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và
hiệu quả của nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam,
cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành
hiệu quả của cơ chế thị trường. Trong nỗ lực tạo lập môi trường thuận lợi cho
phát triển kinh tế, ngày 03/12/2004, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã thông
qua Luật Cạnh tranh số 27/ 2004/QH11 và Luật này đã có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 1/7/2005.
Với 6 chương, 123 Điều, Luật cạnh tranh được ban hành nhằm mục đích:
- Kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi có thể
dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập
kinh tế quốc tế.

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21


+ Nguyên tắc có đủ năng lực và trình độ: đòi hỏi chủ đầu tư và các bên
dự thầu phải có năng lực thực sự về kỹ thuật và tài chính để thực hiện những
điều kiện cam kết khi tham gia đấu thầu. Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tránh
được thiệt hại cho các bên khi thực hiện các cam kết đã đề ra, qua đó, nâng cao
chất lượng, tạo ra sân chơi bình đẳng cho các nhà thầu khi tham gia đấu thầu.

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

13


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

+ Nguyên tắc đảm bảo cơ sở pháp lý: đòi hỏi các bên tham gia đấu thầu
phải chấp hành các qui định của nhà nước về nội dung, thủ tục đấu thầu và
những cam kết trong hợp đồng giao nhận thầu. Khi các bên tham gia đấu thầu
không tuân thủ nguyên tắc này, chủ dự án và cơ quan quản lý dự án có quyền
kiến nghị hủy kết quả đấu thầu.

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

14


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế


Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

15


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

Phần lớn các gói thầu đều được đấu thầu rộng rãi theo quy định, đảm bảo tính
cạnh tranh, minh bạch, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Qua đó đã
khuyến khích được các nhà thầu có kinh nghiệm, năng lực tham gia dự thầu,
phòng chống tiêu cực, tham nhũng trong công tác đấu thầu.
3. Thực trạng công tác quản lý về cạnh tranh, đấu thầu trong lĩnh vực xây
dựng ở Việt Nam
3.1 Những kết quả đạt được
- Các quy định pháp lý về cạnh tranh, đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng
được triển khai, thực hiện nghiêm túc: Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày
29/11/2005; Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003; Nghị định số
85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật
đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo luật xây dựng; Nghị định số
68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
85/2009/NĐ-CP và hệ thống các thông tư, hướng dẫn thi hành là các căn cứ
pháp lý hiện hành về cạnh tranh, đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng đã khẳng
định việc áp dụng hình thức đấu thầu trong hoạt động đầu tư là biện pháp đúng
đắn nhằm tăng cường tính cạnh tranh, đảm bảo hiệu quả đầu tư, đồng thời cũng
là sự hội nhập cần thiết với thế giới.
Việc triển khai, thực hiện các văn bản pháp lý đã giúp cho công tác đấu
thầu đi vào nền nếp đảm bảo tính cạnh tranh. Nhìn chung các Bộ, ngành địa
phương và các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện đấu thầu và quản lý

một số gói thầu thuộc 7 dự án lớn gồm: 4 gói thầu dự án WB2; 2 gói thầu R1 và
R5 thuộc dự án quốc lộ 10; 3 gói thầu thuộc dự án quốc lộ 18, gói thầu 1 thuộc
dự án hầm Hải Vân, gói thầu xây dựng cảng Cái Lân, gói thầu tư vẫn xây dựng
cầu Thanh Trì, tổng giá trị giả so với giá gói thầy đã là 109,865 triệu USD. Cần
khẳng định mặt tích cực và thành quả của công tác quản lý đầu thầu, cạnh tranh
trong lĩnh vực xây dựng mang tính bản chất là tạo ra sân chơi có tính cạnh
tranh cao, công bằng và minh bach, nhằm giúp các bên tham gia đạt được hiệu
quả kinh tế, đảm bảo tính công bằng và tuân thủ pháp luật.
- Sự phân cấp trong quản lý hoạt động đấu thầu đã rõ ràng, cụ thể
Việc thẩm định kế hoạch đấu thầu, thẩm định kết quả đấu thầu đã rõ
ràng, theo hướng mở rộng quyền của các cơ quan quản lý cấp dưới. Cấp trên
chỉ phê duyệt các nội dung quan trong còn lại sẽ ủy quyền cho cấp dưới thực
hiện.
Có sự phối hợp nhịp nhàng, thường xuyên giữa các cơ quan nhà nước
trong lĩnh vực quản lý đấu thầu xây dựng.
- Trình độ đội ngũ các nhà thầu Việt Nam và các cán bộ làm công tác
đấu thầu đã có nhiều tiến bộ.

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

17


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

Trách nhiệm của bên mời thầu và cơ quan quản lý các cấp ngày càng
được nâng cao, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đấu thầu từ trung ương đến
địa phương được đào tạo và ngày càng trưởng thành, có trình độ chuyên môn



Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

1 năm thực hiện chỉ thị của Bộ Công Thương về tăng cường sử dụng máy móc,
thiết bị, vật tư trong nước được tổ chức 1 ngày trước đó, Chủ tịch Hiệp hội Cơ
khí VN - ông Nguyễn Văn Thụ ta thán, với quy định về giá đánh giá theo các
tiêu chí “rẻ” là trúng của Luật Đấu thầu hiện hành thì các nhà thầu cơ khí VN
chỉ còn nước “ngồi nhìn” nhà thầu nước ngoài giành miếng bánh thị phần ngay
trên sân nhà. Hiện trạng hiện nay là có tới 20 công trình điện do nhà thầu Trung
Quốc thực hiện theo hình thức tổng thầu EPC, ngoài ra các công trình lớn như
phân đạm Ninh Bình, đạm Cà Mau, khai khoáng bôxít Tây Nguyên đều do các
nhà thầu Trung Quốc giành được hợp đồng. Có điều này là do các chủ đầu tư
kể cả nhà nước và tư nhân đều nhập khẩu thiết bị toàn bộ của nước ngoài vào
trong nước, kèm theo đó là các DN nước ngoài đưa toàn bộ vật tư, lao động, kể
cả lao động phổ thông sang. Ông Thụ kiến nghị: “Cần sửa Luật Đấu thầu, theo
hướng nghiêm cấm chủ đầu tư khi mời thầu cho phép nhà thầu sử dụng lao
động phổ thông nước ngoài”. Các chuyên gia tham dự cũng cho rằng, giải pháp
quan trọng trong tình hình “sức khỏe” của các nhà thầu VN chưa thể sánh với
nhà thầu nước ngoài cả về vốn, công nghệ, kinh nghiệm thực tế thì cần xây
dựng các hàng rào kỹ thuật đảm bảo tuân thủ quy định của WTO trong cạnh
tranh nhằm bảo vệ các nhà thầu trong nước.
Theo quy định tại Nghị định số 85/2009/NĐ-CP thì quy trình thẩm định
tuy đã khoa học cụ thể xong vẫn còn phức tạp, việc thẩm định rất tổn nhiều
công sức, nếu đợi thẩm định phê duyệt xong thì công trình sẽ bị đình trệ. Điều
đó làm tăng chi phí, gây lãng phí cho công trình do lập dự toán không chính
xác. Nhữn phát sinh trong xây dựng xảy ra dẫn đến phải điều chỉnh hợp đồng.
Trong Nghị định 85, nói chung có nhiều cái tiến bộ và việc đấu thầu trở

cách vận dụng, do đó có hiện tượng tranh cãi khi thực hiện, thậm chí kiện cáo
cho là chào hàng cạnh tranh là tiêu cực, là sai…
Khi lập hồ sơ mời thầu, những nội dung về lựa chọn nhà thầu theo “Hợp
đồng chìa khóa trao tay”, hoặc “hợp đồng trọn gói”, hoặc “hợp đồng có điều
chỉnh giá”, chưa được làm rõ. Trong khi đây là những vấn đề hết sức hệ trọng
đối với cấp quyết định đầu tư và chủ đầu tư.
Phương thức đấu thầu 2 giai đoạn; đấu thầu qua mạng cũng chưa có
hướng dẫn cụ thể nên các chủ đầu tư, nhà thầu rất lúng túng khi áp dụng.
- Công trình có vốn đầu tư nước ngoài có nhiều nguốn khác nhau, mỗi
loại có những đặc điểm riêng mà tổ chức cho vay vốn buộc phải làm theo quy
định của tổ chức đó. Luật của Việt Nam đã đề cập ưu tiên cho các nhà thầu
trong nước, nhưng thực chất chưa được làm rõ, cụ thể trong luật đấu thầu.
- Về công tác quản lý đấu thầu còn nhiều hạn chế, chưa chặt chẽ, có nơi,
có lúc chưa tuân thủ theo quy định của pháp luật.nb

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

20


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

- Tính chất mỗi loại hoặc mỗi gói thầu xây lắp có sự khác nhau. Ví dụ
chọn thầu tư vấn người ta thường sử dụng phương thức hai túi hồ sơ nộp đồng
thời, hoặc phương thức đấu thầu hai giai đoạn thường áp dụng cho những dự án
lớn, phức tạp về công nghệ hoặc dự án đấu thầu theo hợp đồng chìa khóa trao
tay. Thế nhưng trong thực tế đấu thầu vẫn lầm lẫn giữa các phương thức trên và
thường gây tranh cãi, khiếu kiện, đặc biệt chấm thầu bằng điểm số cùng lúc hai


Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

213 gói trong đó có 156 gói chỉ định thầu, 54 gói thầu hạn chế và 3 gói tự thực
hiện; Thành phố Hải phòng thực hiện 38 gói thầu nhưng chỉ có một gói thầu
rộng rãi; 20 gói chỉ định thầu còn 17 gói thầu hạn chế.
Năm 2001, theo báo cáo của Văn phòng xét thầu thuộc Bộ KH- ĐT:
- Về hình thức lựa chọn nhà thầu: Đấu thầu rộng rãi chiếm 13,6%; đấu
thầu hạn chế chiếm 27,7%, chỉ định thầu và tự thực hiện chiếm 51,4% các hình
thức còn lại chiếm 7,3%.
Như vậy trong khi quy định khuyến khích áp dụng hình thức đấu thầu
rộng rãi thì trên thực tế số gói thầu hiện thực hiện đấu thầu hạn chế và chỉ định
thầu vẫn chiếm tỷ lệ cao (tới 79,1%). So sánh các hình thức lựa chọn nhà thầu
thì mức tiết kiệm cao nhất là đấu thầu rộng rãi, rồi đến chào hàng cạnh tranh,
tiếp đến là đấu thầu hạn chế. Các ngành, địa phương vẫn lạm dụng việc sử
dụng việc sử dụng hình thức đấu thầu hạn chế, là nguyên nhân giảm cạnh tranh
trong đấu thầu, tạo điều kiện cho các hành động tiêu cực như thông đồng, đấu
thầu giả vờ.
b) Một số khó khăn trong kế hoạch đấu thầu đối với dự án nhóm C
- Thứ nhất: không dễ dàng xác định chính xác giá gói thầu và nguồn tài
chính từ khâu lập dự án. Về giá gói thầu, khi chưa có thiết kế kỹ thuật và tổng
dự toán, giá gói thầu được tạm lấy từ giá các hạng mục theo dự án, sẽ có sai số
rất lớn so với tổng dự tháo và dự toán hạng mục được phê duyệt; nếu tiến hành
đấu thầu sẽ có thể xảy ra hai trường hợp sau: hoặc là giá thầu quá cao, hoặc quá
thấp so với giá trúng thầu. Về nguồn tài chính của gói thầu, trên thực tế một số
dự án sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau, trong đó có nguồn vốn hỗ trợ từ
ngân sách nhà nước. Khi dự án chưa được phê duyệt, nguồn vốn hỗ trợ này rất
khó xác định chính xác. Do đó nếu phê duyệt kế hoạch đấu thầu cùng với dự
án, cơ quan thẩm quyền thường phải phê duyệt hai nội dung này trước khi đấu
thầu làm cho cơ chế quản lý cồng kềnh, cần tới ít nhất 2 quyết định phê duyệt

* Từ chuyện thiếu những chế tài xử phạt:
Các chuyên gia đấu thầu cho rằng, Quy định đấu thầu hiện hành trên
thực tế cũng đã đưa ra một số quy định cụ thể về trách nhiệm với các nhà thầu;
điển hình như việc phát hiện nhà thầu thông đồng sẽ bị loại khỏi danh sách dự
thầu và không được nhận lại bảo lãnh thầu. Còn lại tất cả những sai phạm khác,
mặc dù đã được đề cập khá cụ thể nhưng lại không có chế tài xử lý đủ mạnh.
+ Đến chuyện dự án không có chủ đích thực
Theo đánh giá của các chuyên gia ở Bộ KH – ĐT sở dĩ những vi phạm
trong đấu thầu lâu nay không thể xử lý được vì nó không có chủ. Thực tế có
quá nhiều cơ quan tham gia vào quá trình này, thông thường chủ đầu tư là

Thực hiện: Nhóm 4 – Lớp QLKT 2 –K21

23


Chuyên đề

Môn: Quản lý Nhà nước về kinh tế

người có quyền quyết định toàn bộ và chịu trách nhiệm trước pháp luật, nhưng
ở nước ta hiện nay đang diễn ra nghịch cảnh, nhà thầu lại có cấp trên của nhà
thầu, chủ đầu tư lại có cấp trên của chủ đầu tư. Và như thế chủ đầu tư cũng
không phải là người to nhất, mà còn có cơ quan phê duyệt tất cả, từ thiết kế, dự
toán đến kết quả đấu thầu…. nhất nhất cài gì cũng phải trình, kể cả các khâu từ
tư vấn, thiết kế đến những lĩnh vực chuyên môn thuần túy khác. Nếu đúng ra,
một thiết kế có vấn đề, theo luật ai ký duyệt người đó phải chịu trách nhiệm.
Nhưng ở đấy, khi xảy ra sự việc, hỏi cấp trên của chủ đầu tư thì lại bảo “Tôi là
cấp trên, chỉ phê duyệt hình thức thôi, còn tất cả là cấp dưới làm mà”, còn khi
hỏi cấp dưới thì lại được trả lời “Đó là phần trách nhiệm của cấp trên”, thế là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status