Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non hoa sen vĩnh yên vĩnh phúc thông qua hoạt động vẽ - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
***************

HOÀNG THỊ CHÀM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC THẨM MĨ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
TRƯỜNG MẦM NON HOA SEN - VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VẼ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho
trẻ mầm non

Người hướng dẫn khoa học
VŨ LONG GIANG

Hà Nội, 2012

Hoàng Thị Chàm

1

Lớp K34 - GDMN



LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu tại trường Đại học. Bên cạnh đó, tôi còn nhận được sự quan
tâm, tạo điều kiện của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học,
các thầy giáo bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” và đặc biệt
là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Vũ Long Giang.
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao giáo
dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên –
Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ” không trùng lặp với bất kì một đề tài nào
khác và chưa được công bố trên bất kì công trình nghiên cứu nào.

Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên

Hoàng Thị Chàm

Hoàng Thị Chàm

3

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
XHCN: Xã hội chủ nghĩa

mẫu giáo lớn
1.1.1. Khái niệm giáo dục thẩm mĩ
1.1.2. Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2. Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ
1.2.1. Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn
1.2.2. Một số vấn đề về hoạt động vẽ cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2.3. Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ
Chương 2: Tìm hiểu việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường
Mầm non Hoa Sen – Vĩnh yên – Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ
2.1. Một số nét về khách thể nghiên cứu
2.2. Thực trạng về việc giáo dục thẩm mĩ thông qua hoạt động vẽ ở trường
Mầm non Hoa Sen – Vĩnh yên – Vĩnh phúc
Hoàng Thị Chàm

5

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2.2.1. Thực trạng nhận thức của các giáo viên về vai trò của việc giáo
dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ
2.2.2. Thực trạng về việc tổ chức và thực hiện các phương pháp nhằm
giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ
2.2.3. Thực trạng việc phối hợp giáo viên – gia đình trẻ trong vấn đề giáo
dục thẩm mĩ thông qua hoạt động vẽ
Chương 3: Đề xuất của các giáo viên về việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ

giai đoạn lứa tuổi này. Vì vậy, giáo dục trẻ trong giai đoạn này vô cùng quan
trọng và cần được sự quan tâm của cả cộng đồng.
Nhà giáo dục Xô Viết A. S. Makarenkô khẳng định: Những cơ sở căn
bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy
cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo
dục con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng những
nụ hoa thơm đó được vun trồng trong 5 năm đầu.
Trong báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005,
UNESCO đánh giá: “Những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của
sự phát triển trí tuệ, nhân cách và hành vi”. “Bằng chứng cho thấy rằng sự
chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi học có liên quan đến việc phát
triển nhận thức và xã hội tốt hơn”.
Trong điều 21, 22, Luật Giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục
tiêu giáo dục mầm non “Giáo dục Mầm non thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”, “Mục tiêu của giáo dục Mầm non là
giúp trẻ về thể chất, tinh thần, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”.

Hoàng Thị Chàm

7

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Như vậy, giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

việc cần được tiến hành một cách nghiêm túc. Vì vậy, để nâng cao chất lượng
giáo dục nói chung và giáo dục thẩm mĩ nói riêng cho trẻ mẫu giáo lớn thì
việc tìm ra phương thức giáo dục thẩm mĩ hiệu quả là vấn đề cần thiết, rất
quan trọng và luôn được quan tâm chú ý một cách đặc biệt trong các trường
mầm non hiện nay.
Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn có thể theo nhiều con đường,
nhiều hoạt động và nhiều hình thức khác nhau. Song con đường giáo dục
thẩm mĩ cho trẻ mầm non thông qua hoạt động vẽ được coi là con đường cơ
bản và hiệu quả cao. Bởi hoạt động vẽ ở trường mầm non có vai trò to lớn
trong việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ về trí tuệ, đạo đức và đặc
biệt về mặt giáo dục thẩm mĩ. Qua hoạt động vẽ và làm quen với các tác
phẩm của hoạt động vẽ tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, làm quen và tập tạo ra
cái đẹp để chúng nâng cao nhận thức giáo dục thẩm mĩ và vận dụng những
hiểu biết về cái đẹp vào cuộc sống hàng ngày như ăn mặc sao cho đẹp, ở sao
cho gọn gàng ngăn nắp. Từ đó trẻ có ý thức tôn trọng và bảo vệ cái đẹp.
Hơn thế nữa, hoạt động vẽ là một trong những hoạt động hấp dẫn nhất
đối với trẻ mẫu giáo lớn, được tham gia vào tiết học vẽ là trẻ được tiếp xúc,
khám phá và thể hiện một cách sinh động những gì chúng nhìn thấy trong thế
giới xung quanh làm cho chúng cảm thấy rất thích thú, say mê muốn tạo ra
những cái đẹp, cái hay làm cho quá trình giáo dục có hiệu quả cả về trí tuệ,
đạo đức và đặc biệt là giáo dục thẩm mĩ. Như một nhà văn đã nói “Phải giáo
dục cho trẻ biết yêu cái đẹp từ tuổi bé nhất vì nó là cơ sở ban đầu cho việc
hình thành nhân cách con người”.

thống nhất của chân - thiện - mĩ và nhiều quan điểm của các nhà mĩ học
khác.
Bên cạnh đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
L.X. Vưgotxki (1896 - 1955), trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi
thiếu nhi. NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1985.
C.Mac, Ănghen trong tuyển tập, T1, NXB Sự thật, Hà Nội (1980) đã
đưa ra quan điểm về cái đẹp: Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của
con người mà là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người.
Krupkaia N.K về giáo dục Mẫu giáo XN 1975 - TR208 “Cứ để các em
làm con tàu mà các em đi bằng những chiếc ghế, cứ để các em dựng ngôi nhà
bằng các mảnh gỗ vụn. Trong quá trình trẻ chơi trẻ khắc phục khó khăn,

Hoàng Thị Chàm

10

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nhận biết những cái xung quanh mà tìm ra lối thoát, phát triển óc tưởng
tượng, sáng tạo trong quá trình chơi”.
Các công trình nghiên cứu về tâm lí học khẳng định: “Tính hình tượng,
tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm tạo nên đặc trưng của tuổi mẫu giáo”
(A.V.Daparojets).
Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về
thẩm mĩ nói chung và việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo nói riêng như:


5. Phạm vi nghiên cứu
Việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ trong trường Mầm non có thể thực hiện
bằng nhiều con đường và ở nhiều mức độ khác nhau. Nhưng do thời gian và
điều kiện có hạn nên trong đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu và nghiên cứu
việc nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm
non Hoa Sen - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu các vấn đề lí luận về giáo dục thẩm mĩ và hoạt động vẽ của
trẻ mẫu giáo lớn.
Tìm hiểu thực trạng về giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường
Mầm non Hoa Sen - Vĩnh yên - Vĩnh Phúc và bước đầu đề xuất một số biện
pháp tác động nhằm nâng cao việc giáo dục thẩm mĩ trong hoạt động vẽ.
7. Giả thuyết khoa học
Hoạt động vẽ là một hoạt động quan trọng trong nội dung giáo dục
mầm non. Nó có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách
cho trẻ cả về trí tuệ, đạo đức và đặc biệt là về thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn
tại trường Mầm non Hoa sen. Nhận thức đúng ý nghĩa của hoạt động vẽ trong
việc giáo dục trẻ, sẽ làm hiệu quả của giáo dục toàn diện nói chung và giáo
dục thẩm mĩ nói riêng được nâng cao.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: thông qua những tài liệu về tâm lí học, giáo
dục học, mĩ thuật học, phương pháp hoạt động tạo hình…
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: dự giờ và quan sát tiết học vẽ.
+ Phương pháp điều tra: phiếu hỏi, trò chuyện…
+ Phương pháp thống kê toán học.

Hoàng Thị Chàm


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số vấn đề về giáo dục thẩm mĩ và giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu
giáo lớn
1.1.1. Khái niệm giáo dục thẩm mĩ
1.1.1.1. Khái niệm thẩm mĩ
Thẩm mĩ là một phạm trù triết học nói về cái đẹp khách quan của tự
nhiên, con người và xã hội.
Nói đến thẩm mĩ không thể không nói đến khái niệm cái đẹp. Cái đẹp
là cái hài hòa, sự cân đối cả trong đời sống vật chất và tinh thần. Cái đẹp là sự
kết hợp của các quan niệm cả khách quan lẫn chủ quan. Đã có rất nhiều quan
điểm của các nhà Mĩ học về cái đẹp. Arixtôt cho rằng, cái đẹp có thuộc tính
như: sự cân xứng, sự hài hòa, trật tự, số lượng… còn Palaton lại coi cái đẹp là
ý niệm chung được thâm nhập vào các hiện tượng cụ thể mà tạo thành vẻ đẹp,
ông cho rằng cái đẹp có tính chất vĩnh cửu trong mọi thời gian, mọi địa điểm,
mọi ý nghĩa. Với Baumgacten - giáo sư người Đức: cái hoàn mĩ là một cơ sở
của cái đẹp, sự hoàn mĩ là nhận thức thuần túy bao gồm có lí tính và ý chí, do
đó sự hoàn mĩ là sự thống nhất của chân - thiện - mĩ. Theo Mác: “Cái đẹp
không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn để chỉ
phẩm chất người”. Mác viết “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo
giống loài nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo và thích dụng cho
mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái
đẹp” (C.Mac. Ănghen. Tuyển tập, T1, NXB sự thật, Hà Nội 1980, trang 19).
Như vậy, cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của con người gắn với
quá trình hoàn thiện, hoàn mĩ. Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự cân đối trong đời
sống vật chất lẫn tinh thần.

Hoàng Thị Chàm

14


đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội.
Giáo dục thẩm mĩ trong trường Mầm non là quá trình giáo dục nhằm
hình thành ở trẻ những nhận thức đúng đắn về cái đẹp trong tự nhiên, đời

Hoàng Thị Chàm

15

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

sống xã hội và trong nghệ thuật, phát triển năng lực cảm thụ đánh giá và sáng
tạo cái đẹp.
1.1.2. Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn
1.1.2.1. Ý nghĩa của giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn
Giáo dục thẩm mĩ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển,
trẻ mẫu giáo là thời kì “hoàng kim” của giáo dục thẩm mĩ. Hầu hết trẻ thơ đều
có một tâm hồn nhạy cảm. Đối với các em, thế giới xung quanh chứa đựng
bao điều mới lạ, hấp dẫn. Trẻ thơ thường tỏ ra dễ xúc cảm đối với người và
cảnh vật xung quanh. Tính hình tượng đang phát triển mạnh mẽ hầu như chi
phối mọi hoạt động tâm lí của trẻ. Với các đặc điểm tâm lí như vậy mà năng
khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi thơ và tất nhiên việc giáo
dục thẩm mĩ và nghệ thuật cần tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo để ươm
trồng những tài năng cho tương lai.
Giáo dục thẩm mĩ là một khái niệm rộng, trong đó chủ yếu là giáo dục
thái độ thẩm mĩ đối với thiên nhiên, lao động, đời sống, sinh hoạt và nghệ

thẩm mĩ làm phong phú thêm cuộc sống của trẻ, góp phần giáo dục tính lạc
quan yêu đời của các em, mối quan hệ của các em với cuộc sống và những
người xung quanh. Giáo dục thẩm mĩ làm cho sự tri giác được sắc bén hơn,
giúp cho việc hiểu cái đã tự giác được sâu sắc hơn và góp phần phát triển
năng lực nhận thức của con người.
Giáo dục thẩm mĩ có liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể dục.
Bản thân lao động được tổ chức tốt là phương tiện giáo dục thẩm mĩ.
Với tất cả những ý nghĩa ở trên, giáo dục thẩm mĩ là một bộ phận của
giáo dục XHCN, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách phát
triển toàn diện. GDTM cần được tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo. Các hiện
tượng nghệ thuật tác động vô cùng mạnh mẽ đến trẻ em. Bởi vì, trẻ cảm thụ
nhờ tư duy trực quan hình tượng, nhờ tính dễ xúc cảm và nhờ mối quan hệ
tích cực của trẻ mẫu giáo đối với hiện tượng xung quanh.
Hình thành cơ sở của thị hiếu thẩm mĩ thông qua việc tìm hiểu và tiếp
xúc với các tác phẩm cổ điển của thiếu nhi, với các tác phẩm âm nhạc, hội
họa. Trẻ học cách nhận biết, yêu mến các tác phẩm chân chính.
Dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ vẻ đẹp trong cuộc sống xung quanh trẻ
và có ý thức bảo vệ những vẻ đẹp đó. Ví dụ: Những bông hoa đẹp, một lớp
học ấm cúng và sạch sẽ… đều là những cái đẹp trong cuộc sống cần được bảo
vệ và chăm sóc, giữ gìn và nâng niu.
Hoàng Thị Chàm

17

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

18

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Phát triển các năng lực nghệ thuật sáng tạo của trẻ
Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh
động, cụ thể, gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm
(từ điển tiếng Việt - NXB - KHXH 1994). Bởi vậy, giáo dục nghệ thuật cho
trẻ là một quá trình khó khăn và phức tạp.
Đặc điểm sáng tạo của trẻ thể hiện ở chỗ: trong hoạt động trẻ thực hiện
một cách có chủ định, biết phối hợp các tri thức về ấn tượng của mình ở tính
chân thực cao khi thể hiện tình cảm và tư tưởng… Hơn nữa đặc điểm tâm lí
được thể hiện rất rõ ở tuổi mẫu giáo là sự bắt chước. Đặc điểm này thể hiện
rất rõ trong hoạt động vui chơi của trẻ. Trong trò chơi trẻ bắt chước những
hoạt động của người lớn, trẻ biết thể hiện bằng hình ảnh những ấn tượng lấy
trong thế giới xung quanh.
Óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ cũng được thể hiện ở chỗ các em
thường kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau. Các em lấy tư tưởng từ
chuyện cổ tích hay những câu chuyện trong cuộc sống, phim ảnh, từ các vở
diễn trên sân khấu… các em phối hợp các tri thức, ấn tượng và thống nhất
chúng trong một cái hoàn chỉnh. Thường các em mô tả những cái có thể
không có trong thực tế (trò chơi trên cung trăng, ước mơ bay lên những vì
sao) song tính chân thực của trẻ trong trò chơi vẫn thể hiện rõ nhất.
Tính sáng tạo cũng thể hiện trong các hình thức nghệ thuật khác: vẽ,
nặn, ca hát, kể chuyện. Trẻ thỏa mãn nhu cầu của mình trong việc thể hiện có

biết bảo vệ nó.
Tóm lại, nghiên cứu các nhiệm vụ cơ bản của GDTM cho trẻ mẫu giáo
lớn cho thấy chúng có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách của trẻ,
đồng thời cũng thấy được quá trình GDTM rất phức tạp, nhiều hình, nhiều vẻ
và đòi hỏi ở nhà giáo dục một vốn tri thức và kĩ năng văn hóa thẩm mĩ nhất
định.
1.2. Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ
1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn
1.2.1.1. Đặc điểm sinh lí
Ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển diễn ra chậm hơn so với giai đoạn
trước. Về số lượng: Chiều cao trung bình tăng từ 4 - 6cm, đạt từ 105,5 125,2cm. Về cân nặng tăng khoảng 1 - 2,5kg, đạt khoảng 25,7kg. Có sự thay
đổi rõ rệt về chất lượng.

Hoàng Thị Chàm

20

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Về hệ thần kinh, ở trẻ mẫu giáo lớn, cường độ và tính linh hoạt của các
quá trình thần kinh tăng lên rõ rệt. Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối
tượng nhất định trong thời gian 15 - 20 phút. Đồng thời, lứa tuổi này, vai trò
của hệ thống tín hiệu ngày càng tăng. Tư duy bằng từ đã tăng lên, ngôn ngữ
bên trong xuất hiện. Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt gần
như ở người lớn, ở chỗ, sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp. Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích
lũy được khá phong phú, không chỉ về danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên
từ,… không chỉ hiểu được từ ngữ mà trẻ còn nắm vững ngữ pháp một cách
vững vàng đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày.
Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc: Trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng nắm
được ý nghĩa của các từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của
người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là
nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh
vi nhất về phương diện cú pháp và về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc,
thoải mái.
Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý.
Tuổi mẫu giáo lớn, trẻ có biểu hiện ý chí tương đối lâu. Trong sự phát triển
các hành động ý chí của trẻ có thể thấy được sự liên kết giữa ba mặt: Thứ nhất
là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứ hai là sự xác lập quan hệ
giữa mục đích của hành động với động cơ, thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh
của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động.
Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ
đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic. Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng hiểu
một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết
quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật. Trong thời gian này, trẻ bắt đầu hiểu
rằng, có thể biểu thị một sự vật hay một hình tượng nào đó bằng từ ngữ hay
các kí hiệu khác nhau khi phải giải những bài toán tư duy độc lập.
Cả tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình tượng đều liên
hệ mật thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ
nhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm ra cách giải
quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn.

Hoàng Thị Chàm

giới xung quanh, về giới hữu sinh, về con người và lao động của họ về nhiều
mặt của đời sống xã hội, về các chuẩn mực đạo đức hành vi. Đặc biệt là khơi
dậy ở trẻ lòng ham hiểu biết, muốn khám phá những điều mới lạ của thế giới
tự nhiên và cuộc sống xã hội.
Trình độ phát triển ngôn ngữ được coi là một điều kiện hết sức quan
trọng trong việc lĩnh hội các tri thức về khoa học tự nhiên cũng như khoa học
xã hội. Bởi vậy, lứa tuổi mẫu giáo lớn, việc trẻ em sử dụng thông thạo tiếng
Hoàng Thị Chàm

23

Lớp K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

mẹ đẻ được coi là yêu cầu nghiêm túc. Trước khi đến trường, trẻ phải biết nói
năng mạch lạc khi giao tiếp với người xung quanh, biết sử dụng ngôn ngữ
như một phương tiện để tư duy, để giao tiếp.
Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc học tập ở
trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh
chóng gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý
thức trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung. Đó là những động cơ xã
hội của hành vi, là cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xác lập và
duy trì những mối quan hệ qua lại lẫn nhau với các bạn cùng lứa tuổi.
1.2.2. Một số vấn đề về hoạt động vẽ cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2.2.1. Khái niệm hoạt động vẽ ở trường mầm non
Hoạt động vẽ (cho lứa tuổi mầm non) là hoạt động tạo ra sản phẩm trên

các con vật quen thuộc. Tranh vẽ rõ nội dung (có hình ảnh chính, phụ) và vẽ
màu tự do.
1.2.2.2. Đặc điểm hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo lớn đã hình thành kiểu tư duy mới - trực quan sơ đồ giúp
trẻ hiểu được những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Đây là một
bước ngoặt về sự phát triển tư duy của trẻ chuyển từ tính hình tượng sang tính
trừu tượng. Ở độ tuổi này, do sự phát triển về thể lực, cơ bắp và sự khéo léo
của vận động, trẻ đã có khả năng sáng tạo nên các đường nét với tính chất
khác nhau khá phức tạp. Cùng với sự tăng lên ngày càng phong phú của kinh
nghiệm nhận thức, xúc cảm, tình cảm, trẻ bắt đầu nhận ra được sự hạn chế và
vẻ hấp dẫn của các hình vẽ khái quát với những nét đơn điệu, sơ lược. Đặc
biệt, trẻ ở độ tuổi này khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của
các đường nét và hình thể để thể hiện hình vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi hình
tượng, sự vật cụ thể. Ở độ tuổi này, nhiều trẻ đã có vốn hiểu biết khá phong
phú về cảm giác màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ
linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật hiện tượng trong hiện thực
và làm quen trong quá trình tri giác với một số cách phối hợp màu sắc. Tính
tích cực quan sát, nhận thức chính là điều kiện giúp trẻ biết sử dụng màu sắc
một cách sinh động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung vẽ, qua đó mà
biểu lộ suy nghĩ, tình cảm, ước mơ của mình qua những bức tranh trẻ vẽ.

Hoàng Thị Chàm

25

Lớp K34 - GDMN


Trích đoạn PHIẾU TRƯNG CẦ UÝ KIẾN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status