Website : Email : Tel ( : 0918.775.368
Lời nói đầu
Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở của hai hình thức: sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở công hữu lúc đầu
đã phát huy tơng đối tốt việc thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống của
nhân dân góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ an ninh, chủ quyền của đất nớc.
Tuy nhiên cùng với sự thay đổi của thời đại, tình hình trong nớc và thế giới, chế độ
công hữu cùng với mô hình cũ đã tỏ ra bất lực, gây khủng hoảng kinh tế- xã hội.
Điều đó buộc ta phải tiến hành công cuộc đổi mới. Tiến hành chuyển đổi từ mô
hình kinh tế tập chung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trờng theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
Việc xây dựng nền kinh tế thị trờng đòi hỏi ta phải thực hiện chế độ đa dạng
hoá các loại hình sở hữu. Đứng trớc tình hình đó Đảng và nhà nớc ta đã có chủ tr-
ơng tổ chức lại cơ cấu nền kinh tế, đa dạng hoá các hình thức sở hữu mà trong đó
chủ yếu là cổ phần hoá một bộ phận các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) để đảm
bảo tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng, tạo thêm động lực mới trong công
tác quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cờng vai trò tự chủ cho ngời lao động,
huy động thêm vốn cho DNNN. Chủ trơng của Đảng và nhà nớc ta là có cơ sở
khoa học và dựa trên cơ sở thực tế. Do đó vấn đề cổ phần hoá DNNN là đúng đắn,
là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế và hiện thực nền
kinh tế quốc dân của nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Chơng trình thực hiện cổ phần hoá DNNN đợc bắt đầu từ năm 1992 theo
quyết định số 202/ CT-HĐBT về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp thành
công ty cổ phần (ngày 8/6/1992). Đến nay vẫn còn những vớng mắc cha khắc
phục đợc, làm chậm tiến trình cổ phần hoá DNNN nhng quá trình cổ phần hoá bộ
phận DNNN ở Việt Nam vẫn diễn ra mạnh mẽ là một trong những điều kiện cơ
bản để nớc ta thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Hiểu đợc tầm quan trọng của việc cổ phần hoá các DNNN trong giai đoạn
hiện nay tôi chọn đề tài cổ phần hoá này nhằm làm rõ hơn mục tiêu,các chính sách
hiện nay và một số ý kiến về cổ phần hoá. Đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
thực trạng tình hình cổ phần hoá các DNNN và giải pháp để đẩy mạnh quá trình
sở hữu trong đó là các cổ đông. Đây là một hình thức tốt để tập trung vốn và phát
huy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
ở bình diện chung trên thế giới hiện có nhiều cách đánh giá khác nhau về
loại hình kinh tế của các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá. Chúng ta có thể chú ý tới
một số quan điểm về cổ phần hoá sau:
- Cổ phẩn hoá là một hình thức kinh tế theo chế độ sở hữu công cộng
- 2 -
hình thái kinh doanh
một chủ
hình thái kinh doanh một chủ
hình thái chung vốn
hình thái Công ty cổ phần
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
- Cổ phần hoá là một hình thức kinh tế theo chế độ sở hữu tập thể
- Cổ phần hoá là t nhân hoá.
- Cổ phần hoá xác định lại chủ sở hữu thực, cụ thể của doanh nghiệp
- Cổ phần hoá thực chất là quá trình xã hội hoá các doanh nghiệp.
Nếu cổ phần hoá chủ yếu đợc thực hiện ở các doanh nghiệp nhà nớc, cổ
phần đợc bán tự do cho t nhân thì quá trình cổ phần hoá thực chất là quá trình t
nhân hoá. Điều này chủ yếu xảy ra ở các nớc t bản chủ nghĩa. Nếu cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nớc mà cổ phần của nhà nớc chiếm vị trí chủ đạo và do nhà
nớc điều tiết thì cổ phần hoá thuộc về chế độ công hữu. Nếu cổ phần hoá đợc bán
cho cán bộ, công nhân viên và các cá nhân ngoài xã hội thì doanh nghiệp ấy đợc
cổ phần hoá theo hình thức tập thể.
ở Việt Nam cổ phần hoá chủ yếu đợc thực hiện theo 3 hình thức sau:
- Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp chủ đạo, có khả năng điều tiết nền kinh
tế quốc dân, chúng ta thờng tiến hành hình thức cổ phần hoá mà trên 50% cổ phần
thuộc sở hữu nhà nớc. Do cổ phần nhà nớc chiếm tỷ trọng lớn, nến nó đóng vai trò
chi phối và định hớng sự phát triển của doanh nghiệp. Các danh nghiệp này dới sự
quản lý, điều tiết chặt chẽ của nhà nớc. Với vị trị chủ dạo của mình, cổ phần của
lành mạnh, giữ vững đợc sự phát triển của đất nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Thực chất cổ phần hóa ở nớc ta hiện nay là sự hình thành các doanh nghiệp
đa sở hữu cho mọi thành phần kinh tế có thể tham gia, hợp tác chia sẻ trách nhiệm,
san sẻ rủi ro thị trờng và cùng hởng lợi trong điều kiện có Đảng Cộng Sản lãnh
đạo, nhà nớc xã hội chủ nghĩa quản lý. Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà
nớc đảm bảo cho DNNN sau khi cổ phần hóa sẽ đi đúng định hớng XHCN, khác t
nhân hoá ở các nớc khác quản lý doanh nghiệp cổ phần theo kiểu t bản chủ nghĩa.
Một điểm khác biệt nữa là DNNN sau khi cổ phần hoá sẽ thành công ty cổ phần,
điều lệ và thể thức hoạt động theo luật công ty. Còn DNNN sau khi t nhân hoá trở
thành doanh nghiệp t nhân và thể thức hoạt động theo luật doanh nghiệp t nhân.
II. sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc ở việt nam
1 Lợi ích công ty cổ phần trong sự phát triển kinh tế thị tr ờng
- Công ty cổ phần cho phép đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập chung t bản,
mở rộng quy mô sản xuất nhanh chóng tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xã hội
hoá sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho di chuyển t bản, phân tán bớt rủi ro cho
những ngời đầu t trong môi trờng cạnh tranh
- Cổ phần hoá DNNN tạo động lực mạnh mẽ cho nhà đầu t, cho nền kinh tế bằng
cách đa dạng hoá sở hữu không riêng gì cho DNNN đợc cổ phần hoá mà
còn góp phần đa dạng hoá cả nền kinh tế. Cổ phần hoá DNNN mở ra triển
vọng xây dựng thị trờng vốn lành mạnh phong phú, đỡ gánh nặng cho ngân
sách nhà nớc . Cổ phần hoá góp phần tích cực cho việc hình thành thì trờng
vốn lành mạnh tiến đến hình thành thị trờng chứng khoán, một yêu cầu cấp
thiết cho việc vận hành của nền kinh tế thị trờng.
- Cổ phần hoá sẽ mở rộng đa dạng sở hữu, do đó có điều kiện thuận lợi cho việc
mạnh dạn cơ cấu lại nền kinh tế phân bổ theo nhiều thành phần kinh tế.
Đồng thời cải tiến công tác quản lý kinh tế có hiệu quả hơn, bởi nó khẳng
định vai trò của hội đồng quản trị là tổ chức thay mặt tất cả các cổ đông,
quản lý với t cách ngời chủ thật sự với động cơ tất cả vì hiệu qủa của đồng
....Vậy nên quan điểm của Đảng ta khi thực hiện cổ phần hoá một bộ phận doanh
nghiệp.
III. Mục tiêu của cổ phần hoá
Theo đề án thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc sang công ty cổ
phần ban hành kèm theo quyết định 202-HĐBT của chủ tịch hội đồng bộ trởng
mục tiêu của cổ phần hóa bao gồm:
- Một là: chuyển một thành phần sở hữu về tài sản của nhà nớc thành sở hữu
của cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh.
- 5 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
- Hai là: phải huy động đợc một khối lợng vốn nhất định ở trong và ngoài nớc
để đầu t sản xuất kinh doanh
- Ba là: tạo điều kiện để ngời lao động thc hiện sự làm chủ doanh nghiệp
Với 3 mục tiêu trên chơng trình thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
của chính phủ có thể thấy vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh
nghịêp nhà nớc cần phải giải quyết một cách cơ bản. Sự lựa chọn giải pháp cổ
phần hoá là con đờng giải quyết đợc những vấn đề cơ bản này, đồng thời tạo ra
một mô hình doanh nghiệp hữu hiệu trong nền kinh tế thị trờng và đáp ứng đợc
yếu cầu kinh doanh hiện đại - đó là công ty cổ phần
Các mục tiêu của cổ phần hoá về thực chất là nhằm chuyển hình thái kinh
doanh một chủ với sở hữu nhà nớc toàn phần trong doanh nghiệp thành công ty cổ
phần hỗn hợp nhà nớc- t nhân hoặc công ty t nhân tạo điều kiện xác lập thị trờng
tài chính, mà cốt lõi là thị trờng chúng khoán để chuyển phơng thức vay mợn từ
ngân hàng sang huy động vốn từ thị trờng tài chính
Chơng II
Thực trạng của cổ phần hoá một bộ phận doanh
nghiệp nhà nớc ở nớc ta hiện nay.
I TIếN TRìNH Cổ PHầN HOá
Quá trình cổ phần hoá diễn ra trong hai giai đoạn: