Các nhân tố quyết định đến mức độ tiếp cận của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam - Pdf 31

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC.................................................................................................................................... 1


2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
1
2

Số bảng
1.1
1.2

3

1.3

4

1.4

5
6
7

2.1
2.2
2.3

20
21

3.2
3.3
3.4
3.5
3.6

Tên bảng
Các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM
Các biến sử dụng trong mô hình đánh giá các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ tiếp cận của TCTCVM.
Mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong mô
hình.
Quan hệ giữa nguồn tài trợ, hoạt động sử dụng vốn và mức độ
tiếp cận.
Phân đoạn thị trường TCVM hiện nay.
Các đơn vị cung cấp TCVM ở Việt Nam.
Số lượng khách hàng và tổng dư nợ của một số tổ chức cung
cấp dịch vụ TCVM.
So sánh chi phí vay vốn của khách hàng từ TCTCVM và
NHTM.
Số lượng người gửi tiền tại một số TCTCVM (2012 – 2013).
Huy động tiết kiệm của một số TCTCVM tiêu biểu tại
31/12/2013.
Mức cho vay trung bình một số TCTCVM từ năm 2011 đến
2013 (%).
Chi phí của một số tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM.
Mức độ trưởng thành của các tổ chức.

17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27

Từ viết tắt
ADB
AECI
AFD
ANT
BRI
BRVT
CAR
CGAP
Công ty TNHH
DID
DN
DOI
EIB
GGS, GB
GNI
GTZ
HĐQT và BKS

Hội phụ nữ
Quỹ tiền tệ quốc tế
Chi phí dự phòng
Nhóm công tác tài chính vi mô
Các tổ chức phi chính phủ
Ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng trung ương
Số lượng các khoản vay giải ngân từ một TCTCVM

28
29
30
31
32
33

NL
NRB
NSB
OPCO
OSS
QTDNDCS

trong một thời gian xác định
Những khách hàng vay lại
Những khách hàng vay đơn
Chi phí hoạt động
Chỉ tiêu tự bền vững hoạt động

TCTC
TCTCVM
TCTD
TCVM
TYM
WB
WTO

vững
Tài chính nông thôn
Tổ chức quần chúng
Tổ chức tài chính
Tổ chức tài chính vi mô
Tổ chức tín dụng
Tài chính vi mô
Tài chính quy mô nhỏ TNHH Tình Thương
Ngân hàng thế giới
Tổ chức thương mại thế giới


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tài chính vi mô (TCVM) từ lâu đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo; trong
đó, các tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) là hạt nhân, được thành lập với mục tiêu
cung cấp các dịch vụ TCVM cho người nghèo, người có thu nhập thấp, doanh nghiệp
từ siêu nhỏ đến nhỏ,… nhằm đem TCVM đến gần hơn với cuộc sống. TCVM không
giống với các mô hình tài chính thông thường, trước hết là bởi chính đối tượng mà

gồm tuổi, quy mô món vay trung bình, chi phí của mỗi đồng vay, tỷ lệ nợ trên vốn
chủ sở hữu, tỷ trọng danh mục cho vay trên tổng tài sản, lương và các lợi ích trung
bình khác và là TCTCVM được chuyển đổi trong khi lãi suất cho vay thực hiệu quả
không có tác động đáng kể.
(4) Đề xuất một số khuyến nghị với Chính phủ, với Ngân hàng Nhà nước và các
Bộ, ngành liên quan để hướng tới mục tiêu tăng mức độ tiếp cận cho các TCTCVM
tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận của
TCTCVM tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
• Nghiên cứu tập trung vào hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam trong
giai đoạn 2009 – 2013.
• Một số tổ chức được đề cập: Nghiên cứu sử dụng số liệu từ 28 TCTCVM.
Dữ liệu nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu chủ yếu là dữ liệu thứ
cấp (tổng hợp từ MIX Market) và tham khảo một số dữ liệu từ báo cáo của các
TCTCVM Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014.


3

Phương pháp phân tích:
• Phân tích tổng hợp: kết hợp phân tích định lượng và định tính để giải thích
số liệu, liên hệ các nguyên nhân từ thực tế.
• Mô hình kinh tế lượng.
• Phương pháp chuyên gia.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài này.
a)



Tại Việt Nam

Trong Luận án Tiến sỹ năm 1998 về “Chi phí giao dịch của người vay, thị
trường phân tách và kém tiếp cận: nghiên cứu về thị trường tín dụng nông thôn Việt
Nam”, PGS.TS Trần Thọ Đạt phân tích về chi phí giao dịch, sự chia tách thị trường
trong khu vực TCVM nông thôn, với mô hình từ số liệu sơ cấp của đồng bằng sông
Hồng.
Nghiên cứu “Báo cáo phân tích tiếp cận: nâng cao khả năng tiếp cận của hộ
gia đình đối với các dịch vụ tài chính chính thức ở Việt Nam” đề cập sâu hơn tới
mức độ tiếp cận của người nghèo tới các TCTCVM ở Việt Nam, tập trung vào khu
vực nông thôn.
Năm 2006, Ngân hàng Thế giới với nghiên cứu: “Việt Nam, phát triển một
chiến lược toàn diện để mở rộng tiếp cận của hộ nghèo đối với các dịch vụ TCVM:
Tăng cường tiếp cận, hiệu quả bền vững” có cái nhìn toàn cảnh về mức độ tiếp cận
của TCTCVM.
Luận án của TS. Lê Thanh Tâm “Phát triển các tổ chức tài chính nông thôn tại
Việt Nam” năm 2008 đã đưa ra một số kết luận về mức độ tiếp cận và tính bền vững
của TCTCNT tại Việt Nam cũng như kiểm định mối tương quan giữa tính bền vững
và mức độ tiếp cận dựa trên số liệu của các QTDND.
Nghiên cứu “Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam - Kiểm định và so
sánh” (2011) của PGS.TS. Nguyễn Kim Anh, PGS.TS. Ngô Văn Thứ, TS. Lê Thanh
Tâm và Ths. Nguyễn Thị Tuyết Mai đã phân tích và kiểm định tác động TCVM đến
thu nhập và tài sản của khác hàng, TCVM giúp khách hàng tăng cường năng lực xã
hội, sự hài lòng của khách hàng đối với NHCSXH, QTDND và các TCTCVM.


5

Nghiên cứu “Mức độ bền vững của các TCTCVM ở Việt Nam: Thực trạng và

6

đồng thuận với kết quả của Luka Jovita Okumu khi nghiên cứu các TCTCVM tại
Uganda. Nghiên cứu trên các TCTCVM tại Việt Nam cũng cho thấy rằng khi
TCTCVM được chuyển đổi sẽ có tác động tích cực đến gia tăng mức độ tiếp cận
trong khi tình trạng pháp lý được chứng minh không phải là nhân tố quyết định tại
Nigeria. Đồng thời, quy mô món vay trung bình được tìm ra là nhân tố quan trọng
nhất và có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ tiếp cận của TCTCVM so với nhân tố tình
trạng pháp lý và tuổi được chứng minh tại Uganda. Nhân tố tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở
hữu và tỷ trọng danh mục cho vay trong tổng tài sản tại các TCTCVM ở Viêt Nam
cũng được có mối quan hệ ngược chiều với mức độ tiếp cận, trái ngược so với kết
quả tìm được tại Uganda.
5. Cơ cấu nghiên cứu
Ngoài Lời cảm ơn của nhóm, phần kết luận, phụ lục, bảng biểu, hình vẽ minh
họa và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu được trình bày trong 3
chương:
Chương 1: Cơ sở Lý thuyết về các nhân tố quyết định đến mức độ tiếp cận của
tổ chức tài chính vi mô.
Chương 2: Thực trạng thị trường TCVM, mức độ tiếp cận và các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ tiếp cận của các TCTCVM tại Việt Nam.
Chương 3: Kinh nghiệm của một số TCTCVM trên thế giới và một số khuyến
nghị.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN
MỨC ĐỘ TIẾP CẬN CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ


7




9

một phần vì không am hiểu quy trình thủ tục, một phần do nhận thức của người
nghèo chưa cao, việc cử người đại diễn sẽ giải quyết vấn đề này.
Thứ ba, các đơn vị cung cấp tài chính vi mô phải đối mặt với rủi ro cao. Bởi vì
khách hàng của TCVM là ở nông thôn với thị trường tài chính và hàng hóa ở khu
vực này thường biến động mạnh dù chỉ có sự thay đổi nhỏ về cung và cầu. Thu nhập
của người nghèo chủ yếu từ nông nghiệp, các nguồn thu nhập từ làm ăn, kinh doanh
nhỏ như bán rong, mở cửa hàng tạp hóa… chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ. Rủi ro xảy ra cho
ngành nông nghiệp sẽ ảnh hưởng tới đời sống người nông dân rất nhiều, do đó, sẽ
ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.
Ngoài ra, rủi ro còn thể hiện ngay trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn
TCVM vì cán bộ tín dụng phải thu thập nhiều thông tin khách hàng thông qua những
lần đến thăm gia đình hoặc địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
nhỏ thường có các báo cáo tài chính khá sơ sài, thiếu thông tin, việc hạch toán còn
nhiều sai sót, do đó quá trình thẩm định gặp nhiều khó khăn. Việc tiếp xúc với người
nghèo cũng không dễ dàng khi họ thiếu hiểu biết và chưa quen với các thủ tục báo
cáo với người cho vay, nên cán bộ tín dụng phải giúp đỡ khách hàng chuẩn bị tài liệu
để đánh giá các dòng tiền tương lai và giá trị ròng của các khoản tiền, qua đó xác
định thời hạn và mức khoản vay.
Nếu cho vay qua người đại diện như đã nói ở trên, việc người đại diện này lợi
dụng số tiền của cả nhóm nhằm tư lợi cá nhân, biển thủ hoặc có hành vi lừa gạt cán
bộ tín dụng cũng như thành viên nhóm có thể xảy ra.
Thứ tư, chi phí giao dịch của các hoạt động TCVM cao hơn đối với các tổ chức
cung cấp dịch vụ, sản phẩm và khách hàng. Khách hàng của TCVM chủ yếu ở khu
vực nông thôn với mật độ dân số phân tán, cơ sở hạ tầng chất lượng kém. Do đó,
khách hàng khó tiếp cận thông tin, dịch vụ giáo dục và đào tạo. Thêm nữa, cán bộ tín
dụng phải thường xuyên thăm hỏi các gia đình tại các địa phương, nhằm tìm hiểu

những phát kiến tiến bộ vào đời sống, sản xuất, giúp tăng năng suất lao động, làm
tăng thu nhập cho các thành viên tham gia và cũng là tăng sản lượng cho toàn nền


11

kinh tế, do đó cải thiện thu nhập và cải thiện mức sống cho những thành viên tham
gia cũng như gia đình của họ, đồng thời tạo việc làm cho các thành viên khác trong
nền kinh tế, tránh chảy máu nhân lực và rơi vào tình trạng lao động giá rẻ.
Thứ hai, hoạt động TCVM còn giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập của các đối
tượng tham gia, giảm thiểu rủi ro từ việc chỉ sở hữu một nguồn thu nhập cố định
cũng như gia tăng quy mô nguồn vốn. Bên cạnh đó, các TCTCVM còn cung cấp
những sản phẩm bảo hiểm vi mô để giúp các đối tượng tham gia hạn chế những hậu
quả do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.
1.1.3.2. Đóng góp về mặt xã hội
Hoạt động TCVM góp phần vào công cuộc thúc đẩy tiến bộ xã hội thông qua
một số khía cạnh như:
Thứ nhất, hoạt động TCVM có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp xóa
đói, giảm nghèo của Chính phủ, thông qua những hoạt động hỗ trợ cho những người
nghèo và nghèo nhất trong xã hội, giúp họ không còn mặc cảm, có động lực vươn
lên, từ đó làm giảm khoảng cách giàu nghèo.
Thứ hai, hoạt động của các TCTCVM giúp người phụ nữ nâng cao được vị
thếcủa mình trong xã hội, giảm bớt hiện tượng bất bình đẳng giới. Người phụ nữ
được trao quyền làm kinh tế, đồng thời được tiếp cận với tiến bộ xã hội, khoa học
công nghệ, từ đó nâng cao nhận thức, dần xóa bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ, giúp
họ tự tin hơn, vững vàng hơn trong cuộc sống.
Thứ ba, hoạt động của các TCTCVM còn phần nào cải thiện dịch vụ y tế, giáo
dục, nâng cao trình độ hiểu biết cũng như giảm tỷ lệ mù chữ ở những địa phương có
triển khai hiệu quả hoạt động TCVM. Một khi đã có vốn đầu tư, cở sở hạ tầng cũng
theo đó mà phát triển, người nghèo được tiếp cận với các luồng thông tin đại chúng,


kiệm.

tiết kiệm quay vòng và

Các hiệp hội tín dụng.

Các ngân hàng phục vụ Các ngân hàng nhân dân các biến thể của nó.
nông thôn.

không đăng ký chính thức Các công ty tài chính,

Các ngân hàng theo mô là TCTD.
hình hợp tác xã.

đầu tư phi chính thức.

Các ngân hàng hợp tác xã. Những người cho vay cá

Các tổ chức phi ngân Các quỹ tiết kiệm tạo việc nhân thương mại (nặng
hàng khác.

làm.

lãi,…) và phi thương mại

Các công ty tài chính.

Các ngân hàng làng xã (bạn bè, họ hàng, làng


bán chính thức thì không phải tuân theo các quy định này nhưng lại do các cơ quan
của Chính phủ cấp phép hoạt động nên vẫn chịu sự quản lý của các cơ quan này. Các
đơn vị hoạt động trong khu vực phi chính thức nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát của
Chính phủ.
1.1.5. Các hoạt động tài chính cơ bản


14

Hoạt động cơ bản của các TCTCVM là cung cấp các dịch vụ trung gian tài
chính. Các hoạt động tài chính do TCTCVM thực hiện bao gồm: tín dụng tiết kiệm,
thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán, bảo hiểm vi mô. Việc lựa chọn tập trung thực hiện
hoạt động nào và phương pháp cung cấp phụ thuộc vào mục tiêu của TCTCVM, nhu
cầu thị trường và loại hình tổ chức đó.
1.1.5.1. Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi
vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền
hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định với một mục
đích nhất định. Người vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay đến
hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng có vị trí quan trọng
đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh
doanh.
Đối với TCTCVM, tín dụng thường đồng nghĩa với cho vay và các khoản vay
này thường phục vụ cho mục đích sản xuất. Một số TCTCVM cũng thực hiện cho
vay tiêu dùng như sửa chữa nhà cửa,… hoặc một số lý do đặc biệt nào đó.
Việc phân tích, thẩm định khách hàng đối với các TCTCVM về nguyên lý vẫn
theo các khung phân tích chung. Tuy vậy, do đặc trưng đối tượng khách hàng của
TCTCVM là người nghèo có thu nhập thấp, một số tiêu chuẩn đánh giá khách hàng
đã được điều chỉnh để phù hợp.
Có nhiều cách phân loại khác nhau về phương thức tín dụng cung cấp cho

hạn); theo đối tượng khách hàng (khách hàng cá nhân, tổ chức), theo vị trí địa lý của
khách hàng.
1.1.5.3. Hoạt động tài chính khác
a.
Hoạt động thanh toán
Hoạt động thanh toán của TCTCVM là việc TCTCVM trích tiền từ tài khoản
của đơn vị phải trả chuyển vào tài khoản của đơn vị thụ hưởng. Thanh toán thường
bao gồm các thể thức như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thư tín dụng L/C hay thẻ
thanh toán.
Cũng cần phải chú ý rằng không phải mọi TCTCVM đều được cung cấp dịch
vụ thanh toán, và cung cấp mọi thể thức thanh toán, tùy thuộc vào quy định của từng
quốc gia. Theo luật TCTD Việt Nam chỉ có các ngân hàng mới được cung ứng dịch
vụ thanh toán. Các dịch vụ thanh toán gắn liền với các dịch vụ huy động tiền gửi. Phí
từ hoạt động thanh toán có thể gắn với hoạt động tiền gửi nhưng cũng có thể tách
biệt với mục tiêu đảm bảo bù đắp các chi phí liên quan đến hoạt động thanh toán như
chi phí trang thiết bị và cơ sở hạ tầng khác, chi phí nhân sự, bảo hiểm.
b.
Hoạt động cung cấp dịch vụ thẻ thanh toán


16

Một số TCTCVM cũng thực hiện cung cấp dịch vụ thẻ thanh cho khách hàng,
bao gồm thẻ rút tiền tự động, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng. Thẻ là một phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt được các định chế tài chính hay công ty phát hành,
chủ thẻ sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng dịch vụ tại các đơn vị chấp
nhận thẻ.
Thẻ thanh toán tạo ra nhiều lợi thế cho TCTCVM và khách hàng vì chúng có
thể (i) giảm thiểu chi phí phát hành chính và chi phí hoạt động; (ii) giúp tổ chức hoạt
động hợp lý; (iii) bổ sung dòng tiền theo nhu cầu khách hàng khi cần thiết. Tuy vậy,

như: quản lý hộ tài sản, quản lý hộ ngân quỹ, bảo lãnh, ủy thác, tư vấn, đại lý… các
TCTCVM về nguyên lý có thể cung cấp cho khách hàng rất nhiều dạng dịch vụ
thông qua các hoạt động của mình. Việc quyết đinh thực hiện các hoạt động nào phụ
thuộc vào mục tiêu của TCTCVM, nhu cầu thị trường, sự tính toán chi phí chính xác
và tính khả thi của việc chuyển giao các dịch vụ hỗ trợ.
1.2. Khái niệm và đo lường mức độ tiếp cận của TCTCVM
1.2.1. Khái niệm về mức độ tiếp cận
Theo quan điểm của Conning, ông định nghĩa “Mức độ tiếp cận được sử dụng
để đề cập nỗ lực của TCTCVM nhằm mở rộng cung cấp các khoản cho vay và dịch
vụ tài chính cho một khách hàng trên diện rộng (độ rộng tiếp cận) và hướng tới các
khách hàng nghèo nhất trong những người nghèo (độ sâu tiếp cận)”. Trong định
nghĩa này mức độ tiếp cận được phản ánh nỗ lực nhằm cung cấp các khoản cho vay
và dịch vụ tài chính cho đối tượng khách hàng nghèo nhất trong những người nghèo.
Schreiner cho rằng mức độ tiếp cận đại diện cho lợi ích của TCVM thông qua
số lượng khách hàng hoặc quy mô tiền gửi bình quân. Với định nghĩa này, mức độ
tiếp cận được đánh giá qua sáu khía cạnh: giá trị tới khách hàng, chi phí, độ sâu, độ
rộng, chiều dài và phạm vi. Tương tự, Navaja và cộng sự định nghĩa mức độ tiếp cận
là “giá trị xã hội của các sản phẩm đầu ra mà các TCTCVM cung cấp xét trên cả độ
sâu, giá trị, chi phí, độ rộng, chiều dài và phạm vi”. Theo quan điểm của Navaja,
mức độ tiếp cận được nhìn nhận qua giá trị đầu ra của các TCTCVM. Nói cách khác,
các TCTCVM phải cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đầu ra và giá trị của những sản
phẩm và dịch vụ đầu ra này sẽ quyết định đến mức độ tiếp cận.
Một số các tác giả khác lập luận rằng khái niệm về mức độ tiếp cận khá mơ hồ
và rất khó có thể đánh giá vì mức độ tiếp cận bao gồm cả mặt số lượng cũng như mặt
chất lượng. Ngoài ra, đối tượng của việc đánh giá chính là khách hàng, thông thường
rất khó có thể xác định và biết được tình trạng của họ. Ví dụ điển hình như khi đánh


18




19

một phần thậm chí hoàn toàn là các thông tin không hữu ích để phản ánh khả năng tự
vững tài chính. Vì lí do này, Yaron đã đề nghị các phương pháp thay thế.
Yaron đã đưa ra bảy phương pháp khác nhau có thể sử dụng để đo lường độ tiếp
cận của các TCTCVM : (i) giá trị dư nợ của danh mục đầu tư và giá trị bình quân các
khoản cho vay, (ii) số lượng tiền gửi tiết kiệm và giá trị trung bình các khoản tiền gửi
tiết kiệm, (iii) số lượng các dịch vụ tài chính cung cấp, (iv) số lượng chi nhánh và
đơn vị, (v) tỷ lệ phần trăm tổng dân số nông thôn được phục vụ, (vi) tăng trưởng tài
sản hàng năm của TCTCVM so với những năm gần đây, (vii) tỷ lệ phụ nữ tham gia.
Trải qua nhiều năm, những phương pháp đo lường mức độ tiếp cận đầu tiên
được đề xuất bởi Yaron đã được mở rộng, cải tiến và phân loại. CGAP và Yaron
cùng cộng sự đã mở rộng phương pháp đo lường độ tiếp cận và phân loại theo ba
nhóm cơ bản: (i) độ tiếp cận khách hàng và nhân viên, (ii) độ tiếp cận các khoản cho
vay và (iii) độ tiếp cận các khoản tiền gửi tiết kiệm. Trong mỗi nhóm này, một số các
phương pháp đo lường cụ thể được đề xuất để thể hiện phạm vi TCTCVM tiếp cận
được tới các khách hàng và TCTCVM có phục vụ các khách hàng nghèo hay không.
Mặc dù không có phương pháp đo lường mức độ tiếp cận được đề cập một cách
cụ thể nhưng mức độ tiếp cận có thể được phản ánh thông qua sáu khía cạnh: giá trị
với khách hàng, chi phí của khách hàng, độ sâu, độ rộng, độ dài và phạm vi. Các khía
cạnh này được Schreiner đề xuất đầu tiên và sử dụng để ước tính lợi ích xã hội ròng
của các TCTCVM nổi tiếng ở Mỹ - Latinh – BancoSol của Bolivia và được coi như
phương pháp đo lường độ tiếp cận. Navaja giải thích rằng độ sâu tiếp cận chính là
giá trị lợi ích ròng xã hội từ việc sử dụng tín dụng vi mô. Khi xã hội dần quan tâm tới
tầng lớp dân cư nghèo hơn, mức độ đói nghèo được xem là một đại diện tốt cho độ
sâu tiếp cận. Có thể hiểu đơn giản, giá trị lợi ích ròng của xã hội khi cấp một khoản
vay nhỏ cho một đứa trẻ đường phố sẽ cao hơn so với việc cấp khoản vay đó cho một
người giàu có. Điều này có nghĩa rằng, độ sâu tiếp cận có được khi giá trị xã hội tăng

TCTCVM, ví dụ như các sản phẩm cho vay và tiết kiệm có quy mô khác nhau, điều
này sẽ làm tăng giá trị cho người sử dụng và tăng chiều dài độ tiếp cận.
Hơn nữa, các phương pháp đo lường độ tiếp cận có thể được phân loại lại
thành: độ rộng (hay quy mô) tiếp cận và độ sâu tiếp cận, mặc dù ngân hàng vi mô
Bulletin đã đưa ra một danh sách dài các chỉ số độ tiếp cận và MIX Market đã sử
dụng số lượng người đi vay thực tế như một phương pháp đo lường mức độ tiếp cận
do trên thực tế đây là đại điện phổ biến nhất để đo lường độ rộng tiếp cận. Trong khi
độ rộng tiếp cận được hiểu là số lượng khách hàng sử dụng dụng sản phẩm và dịch
vụ TCVM trong một giai đoạn nhất định thì độ sâu tiếp cận được định nghĩa là mức
độ đói nghèo của khách hàng được phục vụ (Legerwood).


21

Chavas và Gonzalez - Vega đề xuất rằng, chất lượng của các dịch vụ được đo
lường bằng chi phí giao dịch cũng có thể coi là một đại diện đo lường mức độ tiếp
cận. Tuy nhiên phương pháp đo lường này gặp phải vấn đề do những khó khăn trong
việc định lượng chi phí giao dịch của các khách hàng. Bên cạnh đó, đối tượng người
nghèo và những người không thuộc đối tượng người nghèo lại chịu chi phí giống
nhau, điều này gây lên khó khăn trong việc phân biệt chi phí giao dịch giữa người
nghèo và những người không thuộc đối tượng nghèo. Do đó, chỉ số này có thể không
chính xác khi đo lường độ sâu tiếp cận.
Christen sử dụng quy mô trung bình các khoản cho vay trên thu nhập bình quân
đầu người để đo lường độ sâu tiếp cận, tuy nhiên phải chú ý rằng, mặc dù phương
pháp này được sử dụng rộng rãi nhưng nó lại chưa được thực chứng một cách hệ
thống. Điều này có thể dẫn đến sai lệch do không thống nhất về kỳ hạn và mục đích
sử dụng của các sản phẩm cho vay. Do đó có thể không phản ánh hết được thị trường
mục tiêu và mức độ đói nghèo của các khách hàng.
Từ sau năm 2006, các ý kiến đều đồng thuận rằng trong các ngành công nghiệp
tài chính vi mô việc đo lường mức độ tiếp cận chia thành hai loại: quy mô và chiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status