1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012
Tên công trình:
ÁP DỤNG MÔ HÌNH FAHP (FUZZY AHP) NHẰM CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ
CHIẾN LƯỢC TRONG M&A NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 1 (KD1)
HÀ NỘI, 2012
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Tổng quan tình hình nghiên cứu về M&A ngân hàng Việt Nam
Công trình: “Con đường đi tới thành công cho M&A Việt Nam” của Võ Thị
Ngọc Hân và Nguyễn Thế Duy (Đại học Kinh tế TP HCM) nói về thực trạng
M&A Việt Nam 2008 và phân tích để rút ra bài học kinh nghiệm, yếu tố thành
công thất bại từ các thương vụ M&A tiêu biểu trên thế giới để áp dụng cho M&A
Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu: “Mergers and Acquisitions in Vietnam’s Emerging Market
Economy, 1990 – 2009” của Vương Quân Hoàng, Trần Trí Dũng và Nguyễn Thị
Châu Hà của trường Kinh tế và Quản lý Solvay Brussels mô tả kỹ càng về các hoạt
động M&A ở Việt Nam sau Đổi mới thời kỳ 1990 – 2009.
Đề tài “Quy trình thực hiện M&A và thực trạng tình hình Mua bán – Sáp nhập
doanh nghiệp (M&A) tại Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu cách thức tiến hành và
15% cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài). Còn MHB vẫn đang xúc tiến việc
chào bán.
Để hạn chế một số vấn đề về rủi ro dài hạn trong việc lựa chọn nhà đầu tư chiến
lược của các ngân hàng TMCP, tôi đề xuất sử dụng mô hình FAHP để phân tích và
chọn ra hướng đi đúng đắn.
Đề tài này phân tích ví dụ của Vietinbank bằng mô hình FAHP nhằm tìm ra sự
khác biệt giữa hai thương vụ IFC và Nova từ đó thảo luận về chiến lược chọn đối
tác nước ngòai dài hạn cho các ngân hàng TMCP.
Câu hỏi nghiên cứu
Điều kiện để áp dụng mô hình FAHP trong việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược
trong M&A ngân hàng ở Việt Nam?
Phương pháp nghiên cứu
Mô hình FAHP, phương pháp khảo sát lấy ý kiến chuyên gia, sử dụng sơ đồ tư
duy
Bố cục đề tài
Cấu trúc của đề tài gồm 4 chương chính:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về M&A ngân hàng, các khái niệm cơ bản, quy
trình cơ bản trong M&A và đi sâu vào phân tích về bước “Lựa chọn nhà đầu tư
chiến lược trong M&A” bằng cách giải thích khái niệm nhà đầu tư chiến lược, căn
cứ lựa chọn và phương thức lựa chọn trên thế giới.
Chương 2: Đưa ra mô hình FAHP nhằm lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trong
M&A ngân hàng, tổng quát về lịch sử mô hình, cách thức hoạt động và lĩnh vực
ứng dụng của mô hình này, trong đó có lĩnh vực ngân hàng trên thế giới.
Chương 3: Quy trình M&A ở Việt Nam (lĩnh vực ngân hàng), khái niệm nhà
đầu tư chiến lược theo luật pháp, thực trạng M&A ngân hàng và việc lựa chọn nhà
đầu tư chiến lược trong M&A ngân hàng ở Việt Nam. Qua đó đưa ra một số rủi ro
tiềm ẩn của việc lựa chọn này.
Chương 4: Áp dụng mô hình FAHP vào case study của Vietinbank, xác lập các
điều kiện áp dụng mô hình để đánh giá việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước
ngoài của Vietinbank từ đó thảo luận mở rộng về chiến lược của các ngân hàng
DANH SÁCH BẢNG
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ, HÌNH
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ CHIẾN LƯỢC
TRONG M&A NGÂN HÀNG
1.1. Lịch sử M&A ngân hàng
1.1.1.
Các làn sóng M&A trên thế giới
1.1.2.
Khái niệm M&A ngân hàng
1.1.3.
Lịch sử M&A ngân hàng
1.1.4.
Quy trình M&A ngân hàng
1.2. Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trong M&A ngân hàng
1.2.1.
Khái niệm, đặc trưng nhà đầu tư chiến lược
1.2.2.
Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược
1.2.2.1.
Căn cứ lựa chọn
1.2.2.2.
Rủi ro trong lựa chọn
1.2.2.3.
Phương pháp lựa chọn
CHƯƠNG 2
MÔ HÌNH FAHP NHẰM LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ CHIẾN LƯỢC
TRONG M&A NGÂN HÀNG
2.1. Những quyết định dựa trên nhiều yếu tố - Giới thiệu mô
hình FAHP
39
6
3.1.2.1. Áp lực tái cơ cấu
3.1.2.2. Thực trạng M&A
ngân hàng ở Việt Nam
3.2. Khái niệm nhà đầu tư chiến lược trong M&A ngân hàng ở
Việt Nam
3.3. Đánh giá về việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trong M&A
ngân hàng ở Việt Nam
CHƯƠNG 4
ÁP DỤNG MÔ HÌNH FAHP NHẰM LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ
CHIẾN LƯỢC TRONG M&A NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
4.1. Giới thiệu thương vụ
4.2. Thiết lập các điều kiện áp dụng
4.3. Áp dụng mô hình
4.4. Thảo luận kết quả mô hình từ case Vietinbank
4.4.1.
Những con số đáng lưu ý
4.4.2.
Vấn đề và đề xuất cho việc chọn lựa nhà đầu tư
chiến lược nước ngòai của Vietinbank
4.5. Đề xuất áp dụng mô hình FAHP trong chọn lựa nhà đầu tư
chiến lược của các ngân hàng TMCP
PHỤ LỤC
39
ROA: Return On Assets - Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
ROE: Return On Equity - Tỷ suất sinh lợi trên vốn
EPS: Earning per Share – Thu nhập trên mỗi cổ phần
ROS: Return On Sales - Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
P/E: Price/EPS – Chỉ số Giá trên thu nhập
P/E: Price/Book Value – Chỉ số Giá trên giá trị sổ sách
LBO: Leveraged Buyout - Sử dụng nợ để mua lại
GDP: Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội
UBCKNN: Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước
HĐQT: Hội Đống Quản Trị
VDR: Virtual Data Room - Dữ liệu phòng ảo
PVR: Physical Data Room - Dữ liệu vật lý
DD: Due Diligence – Rà soát đặc biệt (Thẩm định chi tiết)
CVR : Contingent Value Rights
VAT: Value Added Tax - Thuế giá trị gia tăng
VN: Việt Nam
8
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Quy trình chào bán trong M&A ngân hàng trên thế giới
Bảng 2: Cây yếu tố trong mô hình FAHP
Bảng 3: Quy ước lượng hóa các biến ngôn ngữ trong FAHP theo Buckley
Bảng 4: Minh họa cây yếu tố 3 tầng trong FAHP
Bảng 5: Quy ước lượng hóa các biến ngôn ngữ trong FAHP theo Chen
Bảng 6: Minh họa ma trận so sánh cặp giữa các yếu tố trong FAHP
Bảng 7: Quy trình chào bán trong M&A ngân hàng ở Việt Nam
Bảng 8: Giới thiệu thương vụ Vietinbank – IFC, Vietinbank – Nova
Bảng 9: Cây yếu tố của đối tác ảnh hưởng đến sự thành công của một
Hình 5: Điểm số thành phần (II)
Hình 6: Đánh giá mức độ rủi ro ngân hàng BICRA
10
33
56
58
60
61
10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ CHIẾN LƯỢC TRONG
M&A NGÂN HÀNG
Lịch sử M&A ngân hàng
Các làn sóng M&A trên thế giới
1.1.
1.1.1.
Trên thế giới, làn sóng M&A đầu tiên bắt đầu từ năm 1897 đến 1904. Trong giai
đoạn này, sự sáp nhập xảy ra giữa các công ty độc quyền như đường sắt, điện, khai
khoáng… Các vụ sáp nhập ngang hàng này chủ yếu diễn ra giữa các ngành sản
xuất công nghiệp nặng. Tuy nhiên đa số các vụ sáp nhập này thất bại vì hiệu quả
quá thấp. Sự thất bại một phần đến từ yếu tố khách quan như sự suy giảm kinh tế
năm 1903 và sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1904. Hơn thế nữa, làn
sóng sáp nhập này cũng không được hỗ trợ pháp lý, thể hiện ở đạo luật Sherman
ngăn chặn các vụ sáp nhập độc quyền của tòa án Tối cao.
Làn sóng M&A thứ năm (1992-2000) được lấy cảm hứng từ toàn cầu hóa, sự
bùng nổ thị trường chứng khoán và nới lỏng các quy định. Các vụ M&A diễn ra
12
1.1.2.
chủ yếu trong các ngành công nghiệp ngân hàng và viễn thông. Họ chủ yếu dùng
cổ phiếu chứ không dùng nợ để thực hiện M&A nữa. Các vụ M&A này cũng được
định hướng lâu dài chứ không phải là động cơ lợi nhuận ngắn hạn. Làn sóng này
kết thúc với sự đổ vỡ của bong bóng thị trường chứng khoán.
Làn sóng thứ sáu bắt đầu từ năm 2004, trong giai đoạn này các hoạt động M&A
xuyên quốc gia diễn ra dễ dàng hơn rất nhiều, tốc độ tăng trưởng ở những nước
kinh tế mới nổi, cùng với những chính sách kêu gọi đầu tư ở những nước này đã
mở ra một xu hướng hoạt động M&A xuyên quốc gia đặc biệt cho những công ty,
tập đoàn muốn mở rộng hoạt động, củng cố lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, vốn
đã bão hòa tại thị trường những nước phát triển. Đặc biệt, do áp lực cạnh tranh
tăng cao nên trong giai đoạn này bùng nổ các hoạt động M&A giữa các doanh
nghiệp tư nhân.
Khái niệm M&A ngân hàng
M&A là viết tắt của cụm từ Mergers & Acquisitions (mua bán và sáp nhập).
M&A được định nghĩa trên Wikipedia như sau:
Acquisition – Mua lại
Acquisition được hiểu như một hành động tiếp quản bằng cách mua lại một công
ty (gọi là công ty mục tiêu) bởi một công ty khác. Trước đây, để thực hiện một
thương vụ mua lại các công ty thường hợp tác thương lượng với nhau, nhưng về
sau này hình thức này đã khác, và thương vụ mua lại có thể diễn ra khi bên bị mua
không sẵn lòng bán lại hoặc là bên bị mua không biết gì về bên mua. Một thương
vụ mua lại thường đề cập đến một công ty nhỏ bị mua lại bởi một công ty lớn hơn,
sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập)
bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, quyền lợi và lợi ích hợp pháp
sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp
nhập”.
Hợp nhất doanh nghiệp: “Hai hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị
hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng
cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất,
đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”.
Khái niệm hai công ty cùng loại trong hai điều luật trên được hiểu theo nghĩa là
các công ty cùng loại hình doanh nghiệp theo qui định của pháp luật. Như vậy điều
kiện tiên quyết để có một vụ sáp nhập hay hợp nhất là hai doanh nghiệp phải cùng
loại hình và có sự chấm dứt hoạt động của một hoặc cả hai bên tham gia.
Trong khi Luật Doanh Nghiệp 2005 không đề cập đến việc mua lại doanh
nghiệp, thì Luật Cạnh Tranh 2004 có nhắc tới việc mua lại doanh nghiệp: “Mua lại
doanh nghiệp là việc doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh
nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh
nghiệp bị mua lại”.
M&A Ngân hàng chính là một phần trong hiện tượng đó, đó là hiện tượng mua
bán, sáp nhập diễn ra trong lĩnh vực ngân hàng, với một hoặc cả hai bên chủ thể
đều là ngân hàng.
Lịch sử M&A ngân hàng
Việc gỡ bỏ các quy định trong thị trường tài chính, tự do hóa thị trường, cải cách
kinh tế, và một số yếu tố khác như công nghệ đóng một vai trò quan trọng đằng sau
sự phát triển của hiện tượng sáp nhập và mua lại trong ngành ngân hàng. Đối phó
với những thay đổi này, các ngân hàng đã cố gắng phát triển chiến lược để nâng
cao hiệu quả, tăng sản lượng và mở rộng phạm vi dịch vụ cung cấp (Goddard,
2001). Xu hướng M&A của các tổ chức tài chính bắt đầu ở Hoa Kỳ trong những
năm 1980 và tăng lên một cách nhanh chóng trên toàn thế giới trong những năm
1990, trở thành một hiện tượng toàn cầu.
Số liệu được cung cấp bởi Amel (2004) chỉ ra rằng hầu hết các hoạt động
Hiệu quả của việc sản xuất quy mô lớn
Điều này giả định rằng, trước khi sáp nhập, các công ty đang hoạt động ở mức
độ thấp hơn so với những yêu cầu để đạt được các hiệu quả thực sự của việc sản
xuất quy mô lớn. Cơ hội sáp nhập của hai công ty là một cơ hội để sản xuất ở mức
chi phí trung bình thấp hơn bằng cách dàn trải các chi phí cố định trên một khối
lượng lớn hơn của các sản phẩm đầu ra. Điều này tự nhiên dẫn đến sáp nhập
ngang. Trong ngành ngân hàng, hầu hết các khoản tiết kiệm chi phí đến từ đóng
15
cửa chi nhánh dư thừa, củng cố hệ thống văn phòng, xử lý kiểm tra và giao dịch
thẻ tín dụng và thanh toán (Brealey et al., 2001).
Hiệu quả của mở rộng phạm vi sản xuất
Như đã chỉ ra bởi Amel (2004), khai thác hiệu quả của việc mở rộng phạm vi
sản xuất là động cơ phổ biến thứ hai cho M&A ngành tài chính, ngân hàng. Chi phí
tổng thể giảm đi tính theo phạm vi sản xuất rộng hơn với cùng chi phí cố định
trong việc thu thập cùng một cơ sở dữ liệu hoặc thiết bị máy tính. Công ty có thể
tận dụng cùng một tập hợp các yếu tố đầu vào để cung cấp một phạm vi rộng
hơn các sản phẩm và dịch vụ qua cho cùng một cơ sở khách hàng hiện có.
Các ngân hàng đôi khi có những hệ thống máy tính hiện đại dùng để chia sẻ việc
xử lý một loạt các khoản vay và tài khoản tiền gửi. Một ví dụ khác là trường
hợp ngân hàng cung cấp các sản phẩm bảo hiểm sau khi sáp nhập một ngân hàng
vào một công ty bảo hiểm.
Tăng vị thế thị trường
Một lý do khác cho M&A là sự gia tăng sức mạnh thị trường. Gaughan (1996)
lập luận rằng có ba nguồn của sức mạnh thị trường là: sự khác biệt sản phẩm, rào
cản đối với việc thâm nhập thị trường và chia sẻ thị trường. Khả năng duy trì mức
giá là một kết quả của sức mạnh kết hợp của hai công ty trong cùng một ngành
công nghiệp. Vander Vennet (1994a, B) đã đưa ra trường hợp của các tổ chức tín
giữa các cổ hoặc lợi ích của riêng họ bằng cách duy trì ngân hàng độc lập (Hadlock
1999). Trong một trường hợp khác, quản lý có thể muốn tăng kích thước của công
ty khi tiền lương của họ tính theo quy mô doanh nghiệp (Mueller, 1969).
Yếu tố khách quan
Trong báo cáo của G10 (2001) ba yếu tố khách quan chính giải thích tốc độ gần
đây của các hoạt động M&A là: việc gỡ bỏ dần các quy định và rào cản pháp lý;
tiến bộ công nghệ và toàn cầu hóa của thị trường. Ngòai ra còn có điều kiện kinh tế
vĩ mô.
-
Bãi bỏ quy định và pháp luật
Trong vòng hai mươi năm trở lại đây, sau những thay đổi trong pháp luật và quy
định quản lý các tổ chức tài chính, nhiều rào cản đối với M&A đã được nới
lỏng. Có năm cách mà qua đó chính phủ có thể ảnh hưởng đến M&A (G10, 2001)
1. Gỡ bỏ rào cản tự do cạnh tranh và điều kiện thâm nhập thị trường mới
2. Có quyền quyết định chấp thuận hay từ bỏ giao dịch M&A
3. Thông qua giới hạn về phạm vi hoạt động cho phép cung cấp dịch vụ.
4. Thông qua quyền sở hữu đại chúng của các tổ chức.
5. Giảm thiểu các chi phí xã hội nếu thương vụ thất bại.
Berger et al. (1999) lập luận rằng các hạn chế về địa lý khiến một số ngân hàng
không hoạt động hiệu quả, và loại bỏ những hạn chế này cho phép một số hình
thức M&A trước đây bị cấm có thể xảy ra, các ngân hàng không hiệu quả hoặc là
mua lại các tổ chức khác, được mua lại, hoặc tái cơ cấu. Ngoài ra, bán bớt các
nhánh hay sáp nhập công ty con vào hệ thống cũng là một dạng M&A.
17
-
Điều kiện kinh tế vĩ mô
Điều kiện kinh tế vĩ mô được coi là một yếu tố khác mà có thể trực tiếp ảnh
hưởng đến quyết định M&A của các công ty.Ví dụ, các làn sóng sáp nhập xảy ra
giữa thời cực thịnh của nền kinh tế (Mueller, 1989). Theo định nghĩa, thời
gian bùng nổ nền kinh tế là khi tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và giá chứng
khoán tăng mạnh. Nelson(1959) cho rằng M&A tương quan thuận với giá thị
trường chứng khoán. Điều kiện kinh tế vĩ mô cũng có thể có một tác động gián tiếp
đến quyết định của các ngân hàng trong M&A. Ví dụ, sự tăng trưởng của GDP
được dự kiến sẽ có một tác động tích cực lên sự hoạt động của các ngân
hàng, theo các tài liệu trên mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và hiệu suất
của lĩnh vực tài chính (ví dụ như King và Levine, 1993; Levine, 1997, 1998;
Rajan và Zingales, 1998).
1.1.4.
Quy trình M&A ngân hàng
18
Bước
Chi tiết cho nhà tư vấn
1. Chuẩn bị Chuẩn bị các chiến lược bán chi tiết,
thông tin và có thời gian và kế hoạch hoạt động
lên kế hoạch cụ thể.
Chuẩn bị thư chào bán
Định giá dựa trên thông tin tài chính
cụ thể
Hợp tác với nhà tư vấn để thảo hợp
đồng
Chuyển đi hợp đồng nháp
Quyết định giá cuối và hoàn thiện
hợp đồng
Đánh giá thỏa thuận cuối cùng
5.Ký kết và Rà soát đặc biệt lần cuối
đóng thương Đàm phán với những đối tác còn lại
Câu hỏi dành cho người
bán
Mục đích của việc bán đi?
Một số yêu cầu cơ bản?
Báo cáo tài chính, thuế, nợ,
kiện tụng đã dàn xếp chưa?
Chuẩn bị nhân lực và thời
gian cần thiết để tham gia
vào toàn bộ quá trình
Đã có ý định bán cho ai
chưa?
Có muốn bí mật trong những
bước chào bán đầu tiên
không?
Chọn lọc danh sách người
mua tiềm năng mà nhà tư
vấn đưa ra.
Tiếp tục chọn lọc người mua
Quyết định bán?
Sẵn sàng để bán chưa?
ngành và những thị trường mà nó đang hoạt động, bao gồm cả sự năng động và xu
hướng của thị trường đó. Theo đó, một quy trình DD (rà soát đặc biệt) ban đầu sẽ
được đưa ra, bao gồm một số mặt sau:
Rà soát về tình hình hoạt động: tài chính, quản lý, sản phẩm/dịch vụ,
marketing/sales, giám sát
Rà soát về pháp luật: đánh giá các vụ chuyển nhượng, các yếu tố thuế và luật định,
các vấn đề pháp luật khác.
Rà soát về tài chính: điều kiện về giá và các yêu cầu, cấu trúc thuế, ý kiến về thuế,
trách nhiệm về thuế và chi tiêu…
Phần việc vô cùng quan trọng đó là toàn bộ ban lãnh đạo và quản lý cấp cao sẽ
ngồi lại và nghĩ về các cơ hội phát triển kinh doanh tiềm năng và đưa ra một kế
hoạch tăng trưởng dài hạn cho ngân hàng. Phần này yêu cầu một quy trình cụ thể
để xác định mọi cơ hội, mọi xu hướng, mọi mô hình phát triển có liên quan đến kế
hoạch tăng trưởng lâu dài trong tương lai. Trong đó, việc tính toán về năng lực (tài
sản vô hình) là vô cùng quan trọng, có rất nhiều cách khiến cho tài sản vô hình trở
thành một nguồn lực có giá trị ví dụ như tạo ra rào cản thâm nhập thị trường cho
các đối thủ để bảo vệ thị phần và lợi nhuận, cũng như tạo ra tự do kinh doanh,
giảm thiểu rủi ro qua việc bảo vệ bản quyền.
20
Đội ngũ này sau đó sẽ viết ra một bộ hồ sơ chào bán sơ bộ gồm thông tin sơ qua
về công ty (mô tả về tình hình kinh doanh, lịch sử, tình hình tài chính, chiến
lược…) cũng như phương thức chào bán và thời gian biểu của thương vụ. Bộ hồ sơ
thông tin này về sau được dùng gửi đến những người mua tiềm năng có ý định
tham gia thương vụ. Trong lúc chờ đợi, đội M&A sẽ phát triển một danh sách
những người mua tiềm năng và báo cáo lại cho khách hàng của họ.
Bước 2: Tiếp cận người mua tiềm năng
Đội ngũ thực hiện thương vụ sẽ liên hệ với các người mua tiềm năng trong danh
21
đến từ một ngân hàng đầu tư hoặc là một doanh nghiệp chuyên về kế toán, sẽ mời
đến một chuyên gia tư vấn bên ngoài nữa – những luật sư – bởi vì những nhà tư
vấn M&A thường không có phòng chuyên về luật pháp với những vấn đề liên quan
đến kinh doanh, tài chính.
-
-
Bài thuyết trình là một tài liệu tổng quát mô tả ngân hàng dựa trên chiến lược,
kết quả kinh doanh, vị thế thị trường, các cơ hội chiến lược trong tương lai và khả
năng phát triển sau này… Đó là một công cụ marketing mà đội ngũ M&A có thể
dùng để “PR” khách hàng của họ tới các người mua tiềm năng.
Bản dự thảo hợp đồng đầu tiên sẽ liệt kê ra kế hoạch thương vụ và những vấn đề
thuế liên quan trong khi tính toán để cân bằng về lợi ích giữa người mua và người
bán (bảo hành…)
Phòng dữ liệu là phòng chứa các thông tin về công ty khách hàng hoặc phần
công ty mà họ muốn bán. Các thông tin dựa trên kiểu công ty và quy trình giao
dịch. Phòng dữ liệu có thể có cả các thông tin được công bố ra ngoài và cả các
thông tin bí mật.
Thông tin đại chúng: báo cáo hàng năm, ghi chép chính thức, hợp đồng đại chúng,
website ngân hàng, tin tức, báo chí, thông tin thị trường tài chính, bản thuyết trình
đại chúng, thông cáo báo chí…
Thông tin mật: phỏng vấn với các nhà quản lý, những nhân viên cốt cán, nhà cung
cấp, khách hàng, chuyên gia… Hợp đồng, báo cáo quản lý, thuyết trình, rà soát
khách hàng, phân tích thị trường, kế hoạch kinh doanh…
sự chuyển đổi quyền sở hữu.
Bước 4: Đấu giá lần 2
Chất lượng: chọn những ứng viên có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp
Khả năng tiếp cận người mua đủ điều kiện một cách nhanh chóng là quan trọng,
bởi vì các yếu tố thị trường và ngành công nghiệp có thể thay đổi qua đêm, và do
đó ảnh hưởng đến các điều khoản và giá bán cuối cùng của công ty bạn. Sau đó
nhà tư vấn sẽ kiểm tra nhiều người mua tiềm năng để tìm những ứng viên chứng
minh sức mạnh tổng hợp với công ty của bạn thông qua nhiệm vụ kinh doanh,
nhân viên của họ, văn hóa doanh nghiệp và chiến lược cạnh tranh.
Đội M&A sẽ mời những người mua được lựa chọn vào phòng dữ liệu và sẽ gửi
đi các bản báo cáo rà soát đặc biệt cho những người mua cuối cùng. Sau khi được
người mua yêu cầu và người bán chấp nhận, một chuyến viếng thăm cơ sở và
thuyết trình về quản lý sẽ được tổ chức. Những người mua có thể sẽ muốn thực
hiện rà soát đặc biệt sâu hơn với đội tư vấn của riêng họ. Đội M&A sẽ giúp đỡ tạo
điều kiện cho đội ngũ tư vấn của đối tác ở phần này.
Cung cấp các Bản thông tin bí mật (Confidential Offering Memorandum COM)
Sau khi tất cả các dữ liệu được được thu thập và Hiệp định hợp tác chắc chắn được
ký kết, nhà tư vấn sẽ chuẩn bị một bộ tài liệu trình bày lịch sử công ty của ngân
hàng và thuyết phục người mua về tiềm năng thu nhập của ngân hàng đó. Tài liệu
này, Bản thông tin bí mật (COM), phải trình bày sự thật về công ty của bạn một
cách có ý nghĩa cho người mua. Tuy nhiên COM không tiết lộ giá cả hoặc các điều
khoản.
Các cuộc đàm phán
Đồng thời, đội tư vấn sẽ hợp tác với người tư vấn luật của họ để thảo ra dự thảo
23
hợp đồng để gửi đi cho khách hàng hoặc người đại diện của các công ty mua. Bản
dự thảo hợp đồng này dùng như một nền tảng để đàm phán. Đội ngũ M&A sẽ tổ
Họ cần chính xác các mảnh ghép vào trò xếp hình của họ. Việc mua lại chiến lược
đơn thuần chỉ mang nghĩa đó. Người đi mua sẽ mua đúng công ty mà có sự phù
hợp chiến lược quan trọng với họ, vì vậy nhiều khi họ sẵn sàng trả thêm một khoản
để giữ công ty đó khỏi rơi vào tay đối thủ.
24
-
Họ thường có các mối quan tâm khác với các quỹ. Các quỹ chỉ quan tâm đến một
số chỉ số nhất định.
Họ tìm kiếm các cơ hội đầu tư lâu dài. Họ sẵn sàng trả cao hơn vì lý do đó. Họ
không tìm kiếm một chút lợi nhuận từ khỏan đầu tư đó, họ tìm kiếm lợi nhuận từ
các dòng tiền tệ của chính công ty đó.
Các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ phòng hộ đều là các nhà đầu tư đơn thuần về
mặt tài chính. Cũng tương tự như vậy với các ngân hàng đầu tư và các tổ chức tài
chính khác. Các nhà đầu tư tài chính chỉ đi tìm mối lợi về tiền bạc. Họ mua sự sở
hữu, mua sản phẩm và mua cả sự quản lý. Họ mua quá khứ. Các nhà đầu tư chiến
lược lại đại diện cho các giá trị dài hạn cho tương lai. Nhà đầu tư chiến lược có ảnh
hưởng lớn hơn về giá trị cổ phần của công ty. Chất lượng quản lý, tỷ lệ giới thiệu
sản phẩm mới, sự thành công hay thất bại của chiến lược tiếp thị, mức độ hài lòng
của khách hàng, giáo dục lực lượng lao động - tất cả phụ thuộc vào các nhà đầu tư
chiến lược.
Các nhà đầu tư chiến lược, thông thường, phụ trách những việc sau:
Lên kế hoạch và quản trị dự án
1. Lựa chọn cơ sở hạ tầng, dụng cụ, nguyên liệu, quy trình…
2. Đàm phán và thỏa thuận với các nhà cung cấp dịch vụ và nhà cung cấp;
4. Sự kiện đặc biệt, tài trợ, hợp tác với các doanh nghiệp.
5. Việc quy hoạch và thực hiện hệ thống ưu đãi (ví dụ: tích điểm, giảm giá).
6. Các nhà đầu tư chiến lược thường tổ chức một mạng lưới phân phối và đại lý,
một mạng lưới nhượng quyền thương mại, hoặc một mạng lưới bán hàng (bán lẻ
dây chuyền) bao gồm: đào tạo, làm giá, giám sát chất lượng, kiểm soát mạng, hàng
tồn kho và kiểm soát kế toán, quảng cáo, tiếp thị địa phương và xúc tiến bán hàng
và chức năng quản lý mạng khác.
7. Các nhà đầu tư chiến lược cũng là phụ trách "tư duy tầm nhìn": phương pháp
mới của hoạt động, thủ đoạn tiếp thị mới, các phân khúc thị trường mới, dự đoán
xu hướng trong tương lai và nhu cầu thị trường, phân tích thị trường và nghiên
cứu.
Các nhà đầu tư chiến lược mang đến cho các công ty kinh nghiệm có giá trị trong
tiếp thị và bán hàng.
Công nghệ
1. Các kỹ sư của nhà đầu tư chiến lược sẽ lập kế hoạch, thực hiện và giám sát tất cả
các giai đoạn của công nghệ của doanh nghiệp.
2. Việc quy hoạch và thực hiện một hệ thống máy tính đầy đủ (phần cứng, phần
mềm, truyền thông, mạng nội bộ) có tất cả các khía cạnh của cấu trúc và hoạt động
của công ty. Các nhà đầu tư chiến lược xử lý các phần mềm độc quyền của công ty
phát triển và cung cấp đặc biệt phù hợp với nhu cầu của các công ty hoạt động
trong thị trường của công ty.
3. Khuyến khích sự phát triển bên trong, mang lại giải pháp công nghệ cho các nhu
cầu của công ty, khách hàng và nhà cung cấp.
Giáo dục và Đào tạo
Các nhà đầu tư chiến lược có trách nhiệm đào tạo tất cả các nhân viên trong công