1
Lời cảm ơn !
Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản
thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu từ các thầy cô giáo
cùng các bạn.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới các thầy, cô
giáo khoa kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp I
- Hà nội và các thầy cô giáo thuộc bộ môn kế toán đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, đặc biệt là cô giáo: Lê Thị Minh
Châu - Giáo viên bộ môn kế toán, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực tập.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ nhân viên phòng kế
toán tài chính Công ty TNHH điện tử Deawoo - Hanel, KS. Park Hong
Kwon - người đã nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực
tập tại cơ sở.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những
người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như khi thực hiện
đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó!
2 phần I : Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều
thành công rực rỡ. Chúng ta vừa thoát khỏi một nền kinh tế tự cung tự cấp với
một cơ chế quản lý quan liêu bao cấp trì trệ kéo dài hàng chục năm để chuyển
sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước.
Nhiều doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành
nội(Hanel) và Công ty điện tử Deawoo, Công ty linh kiện điên tử Deawoo có
một lịch sử quan hệ hợp tác trên cơ sở Công ty Hanel là cơ sở sản xuất và lắp
ráp Tivi màu mang nhãn hiệu Deawoo từ những năm đầu thập kỷ 90. Theo đó
Công ty Hanel nhập khẩu linh kiện từ hai công ty Deawoo trên và lắp ráp Tivi
màu mang nhãn hiệu Deawoo và tiêu thụ trên thị trường nội địa.
Thực tế cho thấy bên cạnh những việc làm được, những xu hướng thuận
lợi còn có những vấn đề nảy sinh, những tồn tại vướng mắc cần phải giải
quyết và nhìn nhận một cách khách quan từ đó mới có thể đề ra được những
giải pháp thoả đáng đảm bảo cho phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo
quyền lợi của người lao động. Hiện nay Công ty đang từng bước thực hiện kế
hoạch hạ giá thành sản phẩm bằng cách từng bước đổi mới công nghệ, nâng
cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng xuất lao động, tiết kiệm chi phí trong
sản xuất kinh doanh.
Do vậy, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn
được xác định là khâu trọng tâm của công tác Kế toán trong các doanh nghiệp
sản xuất, vì nó vừa là vấn đề có tầm quan trọng trong Kế toán tài chính vừa là
nội dung cơ bản của Kế toán quản trị.
Từ những vấn đề nêu trên, nhận thức được vai trò quan trọng của Kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ công
tác Kế toán của doanh nghiệp và kết hợp với tình hình thực tế tại Công ty, với
những kiến thức và kinh nghiệm đã được học trong trường tôi tiến hành chọn
đề tài nghiên cứu:
((
Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí và tính giá thành
sản phẩm Tivi tại Công ty TNHH điện tử DEAWOO - hanel
))
cho báo cáo
tốt nghiệp của mình.
1.2. mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
*, Mục tiêu chung.
sản xuất, các doanh nghiệp sản xuất thường xuyên phải bỏ ra các khoản chi
phí về các loại đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động của con
người, các chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác. Để có thể
biết được số chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong từng kỳ hoạt động là bao
nhiêu, nhằm tổng hợp tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phục vụ yêu cầu
quản lý, mọi chi phí chi ra cuối cùng đều được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ
và được gọi là chi phí sản xuất.
Như vậy : Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí về
lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan
đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định( Tháng, quý,
năm...)
ở góc độ doanh nghiệp, để tạo ra sản phẩm thì doanh nghiệp phải bỏ ra
hai bộ phận chi phí là: lao động vật hoá và lao động sống. Đó là chi phí sản
xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tạo sản phẩm. Về mặt lượng chi phí sản
xuất phải phụ thuộc vào hai nhân tố:
-Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất tham gia vào quá trình sản xuất
trong một thời kỳ nhất định.
-Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiền
lương đơn vị...
Điều này cho thấy, trong điều kiện giá cả thường xuyên biến động thì
việc đánh giá chính xác các chi phí sản xuất không những là yếu tố khách
quan mà còn là một vấn đề trọng yếu nhằm xác định đúng đắn chi phí sản
xuất, phù hợp với giá cảc thị trường tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảo toàn
và phát triển vốn theo yêu cầu của chế độ quản lý kinh tế mới hiện nay.
Khi đề cập đến chi phí sản xuất cần phân biệt rõ chi phí sản xuất và chi
phí của doanh nghiệp. Chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định bao gồm cho nhiều mục đích
khác nhau trong đó có mục đích là cho sản xuất. Chi phí sản xuất có phạm vi
hẹp hơn chi phí của doanh nghiệp và nằm trong chi phí của doanh nghiệp. ở
6
trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ.
Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí.
Hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bao gồm
nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, do đó toàn bộ chi phí sản xuất kinh
doanh được chia thành:
Chi phí sản xuất , chế tạo sản phẩm: Là toàn bộ chi phí liên quan đến
việc sản xuất, chế tạo sản phẩm cũng như các chi phí liên quan đến hoạt động
quản lý và phục vụ sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận, tổ đội
7
sản xuất. Chi phí này được chia thành: chi phí sản xuất trực tiếp và chi phí sản
xuất chung.
+Chi phí trực tiếp: Là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế
tạo sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp.
+Chi phí sản xuất chung(chi phí gián tiếp): Là những chi phí phục vụ
quản lý sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình sản xuất, chế tạo sản
phẩm hoặc thực hiên các lao vụ, dịch vụ ở các phân xưởng, tổ đội sản
xuất.
Chi phí bán hàng: Là toàn bộ chi phí phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản
phẩm(chi phí ngoài sản xuất).
Chi phí hoạt động khác: Là chi phí phát sinh ngoài hoạt động sản xuất
kinh doanh(chi phí hoạt động tài chính và chi phí bấ thường).
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là chi phí phục vụ và quản lý chung các
hoạt động sản xuất kinh doanh(chi phí quản lý doanh nghiệp, quản lý hành
chính và chi phí khác).
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mục đích, công dụng cho
phép xác định được các chi phí tính trong giá thành của sản xuất, lao vụ hoàn
thành và tính cho số sản phẩm, lao vụ đã tiêu thụ cho phù hợp với điều kiện
kinh tế thị trường.
Ngoài hai cách phân loại chủ yếu trên phục vụ trực tiếp cho công tác kế
phân loại khác nhau mà giá thành sản phẩm được phân thành các loại tương
ứng từ đó ta phân ra các loại giá thành sau:
Giá thành kế hoạch: Việc tính toán, xác định giá thành kế hoạch sản
phẩm được tiến hành trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm
do bộ phận kế hoạch thực hiện. Giá thành kế hoạch của sản phẩm được tính
trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và được xem là mục tiêu phấn đấu của
doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành, kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
Giá thành định mức: Cũng giống như giá thành kế hoạch, giá thành định
mức cũng có thể thực hiện được trước khi sản xuất chế tạo sản phẩm dựa vào
các định mức, dự toán chi phí. Giá thành định mức được xem là thước đo
chính xác để xác định kết quả sản xuất kinh doanh.
Giá thành thực tế: Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế của
sản phẩm, lao vụ chỉ được xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm
đã được hoàn thành và dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát
sinh tập hợp được trong kỳ.
Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả phấn
đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế, kỹ
thuật để sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp.
*, Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất sản phẩm và giá thành sản
phẩm.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Chi phí là biểu hiện mặt hao
phí còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đây là hai mặt
thống nhất của một quá trình, vì vậy chúng giống nhau về chất. Cả chi phí sản
9
xuất và giá thành sản phẩm đều bao gồm những hao phí về lao động sống(V)
và lao động vật hoá(C) mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất sản
phẩm.
thể là nhóm sản phẩm.
+Trong sản xuất phức tạp, sản phẩm cuối cùng là do lắp ráp cơ học trong
bộ phận, chế biến qua nhiều bước thì đối tượng tập hợp chi phí có thể là bộ
phận chi tiết sản phẩm.
*, Loại hình sản xuất: Đơn chiếc hay sản xuất hàng loạt, khối lượng lớn.
10
+Sản xuất đơn chiếc là sản phẩm hoặc khối lượng hoàn thành không lặp
lại, đôi khi lặp lại ở các khoảng thời gian không xác định thì đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất là từng sản phẩm, từng công trình, từng hạng mục công
trình.
+Sản xuất hàng loạt, khối lượng lớn là: Nhiều sản phẩm ở cùng một giai
đoạn sản xuất, giai đoạn chế biến thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
nhóm sản phẩm.
*, Đặc điểm tổ chức sản xuất: Mỗi doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức khác
nhau.
Nếu doanh nghiệp có phân xưởng thì đối tượng tập hợp chi phí là nơi
phát sinh chi phí. Nếu doanh nghiệp không có phân xưởng thì đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất là đối tượng chịu chi phí. Việc tập hợp chi phí theo phân
xưởng phục vụ phân tích, kiểm tra chi phí ở phân xưởng, tạo điều kiện để xác
định đúng đắn kết quả hạch toán kinh tế nội bộ của doanh nghiệp.
*, Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp:
Đối với doanh nghiệp hạch toán kinh tế nội bộ rộng rãi, đòi hỏi phải
kiểm tra, phân tích kết quả hạch toán chi phí theo phân xưởng thì các giai
đoạn sản xuất cũng là đối tượng tập hợp chi phí.
*, Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành sản phẩm để từ đó xác định đối
tượng tập hợp chi phí cho phù hợp.
2.1.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Phương pháp hạch toán chi phí là một phương pháp hay hệ thống
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất trong giới
hạn tập hợp chi phí đã xác định. Mỗi phương pháp chỉ thích hợp với một loại
loại theo từng chi tiết, bộ phận riêng biệt phù hợp với tính chất của quy trình
công nghệ. Về cơ bản, phương pháp này giống hai phương pháp trên. Khi áp
dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm được xác định bằng cách tổng
cộng chi phí sản xuất từ các bộ phận chi tiết.
*, Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ.
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân
loại theo từng giai đoạn công nghệ. Trong mỗi giai đoạn công nghệ các chi
phí lại phân bổ cho từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm.
Sau mỗi giai đoạn công nghệ, thu được bán thành phẩm hoàn thành và
tiến hành nhập kho hoặc chuyển sang giai đoạn sau. Tuỳ vào yêu cầu có tính
giá bán thành phẩm hay không mà áp dụng hạch toán tổng hợp chi phí sản
xuất theo bán thành phẩm, hoặc không tính giá bán thành phẩm. Khi một phần
của bán thành phẩm được tiêu thụ ra ngoài.
Khi tổng hợp giá thành của sản phẩm hoàn thành, giá trị bán thành phẩm
chuyển sang các giai đoạn chế biến tiếp theo được thể hiện trong một khoản
mục
((
Bán thành phẩm tự chế
))
, hoặc tính hoàn nguyên trở lại theo khoản
mục ban đầu của chúng theo quy định của chế độ tính giá hiện hành.
Ngoài những trường hợp nêu trên, mọi trường hợp khác hạch toán chi
phí theo giai đoạn công nghệ phải được tổ chức theo phương án không có bán
thành phẩm. Theo phương án này các chi phí được tập hợp theo từng giai
đoạn công nghệ và theo sản phẩm. Khi tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm phải cộng chi phí ở các giai đoạn công nghệ tương ứng theo
từng khoản mục và theo từng sản phẩm.
12
Khi áp dụng phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo từng giai đoạn
công nghệ, giá thành sản phẩm được xác định theo phương pháp: Trực tiếp,
+Bên Nợ: Tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ( chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung ).
+Bên Có:
-Giá thành thực tế (Hay chi phí thực tế) của sản phẩm đã chế tạo xong
nhập kho hoặc chuyển đi bán.
-Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm (Phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm
hỏng không sửa chữa được).
-Trị giá Nguyên vật liệu gia công xong nhập kho.
+Dư Nợ: Chi phí sản xuất - kinh doanh dở dang cuối kỳ.
13
*, Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu...được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản
phẩm. Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng
đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt ( phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản
phẩm ...) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp nguyên vật liệu
xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức
hạch toán riêng được thì phải áp dung phương pháp phân bổ gián tiếp để phân
bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ thường được sử
dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, số
lượng sản phẩm.
Công thức phân bổ như sau:
Chi phí NVL phân bổ Tiêu thức phân bổ Tỷ lệ (Hệ số)
Cho từng đối tượng cho từng đối tượng phân bổ
Chi phí vật liệu cần phân bổ
Hệ số phân bổ
Tiêu thức phân bổ
Để theo dõi các khoản chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
TK 621:
((
khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí như TK 621.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 622:
+Bên Nợ: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sản xuất sản phẩm thực hiện
lao vụ, dịch vụ.
+Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá
thành.
Tài khoản 622 cuối kỳ không có số dư cuối kỳ.
*, Chi phí sản xuất chung.
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản
phẩm sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. Đây là
những chi phí sản xuất phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận sản
xuất của doanh nghiệp. Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán
sử dụng TK 627:
((
Chi phí sản xuất chung
))
. Mở chi tiết theo từng phân
xưởng, bộ phận dịch vụ.
Kết cấu và nội dung phản ánh tài khoản 627:
+Bên Nợ: Chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ.
+Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào chi phí lao vụ, dịch vụ.
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ do đã kết chuyển hay phân bổ hết
các loại sản phẩm dịch vụ, lao vụ.
*, Hạch toán khấu hao tài sản cố định.
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định, đại bộ phận tài sản cố định(Trừ
đất đai) sẽ mất dần tính hữu ích của nó. Sự mất dần tính hữu ích TSCĐ gọi là
hao mòn. Để phản ánh hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng do trích khấu
hao TSCĐ, ta sử dụng tài khoản 214
((
Chi phí trả trước( còn gọi là chi phí chờ phân bổ ) là các khoản chi phí
thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào chi phí sản xuất - kinh doanh của
kỳ này mà được tính cho hai hay nhiều kỳ hạch toán sau đó. Đây là những
khoản chi phí phát sinh một lần hay quá lớn hoặc do bản thân chi phí phát
sinh có tác dụng tơí hiệu quả sản xuất - kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán.
Để theo dõi các khoản chi phí trả trước, kế toán sử dụng TK 142:
((
Chi phí trả
trước
))
.
Kết cấu và nội dung phản ánh TK 142:
+Bên Nợ: Các khoản chi phí trả trước phát sinh.
+Bên Có: Các khoản chi phí trả trước đã phân bổ vào chi phí sản xuất -
kinh doanh.
+Số dư bên Nợ: Các khoản chi phí trả trước thực tế đã phát sinh nhưng
chưa phân bổ vào chi phí sản xuất - kinh doanh.
Tài khoản 142 có hai tiểu khoản:
TK 1421: Chi phí trả trước.
TK 1422: Chi phí chờ kết chuyển.
*, Chi phí phải trả.
16
Chi phí phải trả(còn gọi là chi phí trích trước) là những khoản chi phí
thực tế chưa phát sinh nhưng được ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán. Đây
là những khoản chi phí trong kế hoạch của đơn vị mà do tính chất hoặc yêu
cầu quản lý nên được tính vào chi phí kinh doanh cho các đối tượng chịu chi
phí nhằm đảm bảo cho giá thành sản phẩm, lao vụ, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp khỏi đột biến tăng khi những khoản này phát sinh. Các
khoản chi phí phải trả được theo dõi, phản ánh trên tài khoản 335:
((
của sản phẩm chính).
17
Nếu doanh nghiệp không dự tính trước ( Sản phẩm hỏng ngoài định
mức) thì toàn bộ phần giá trị sản phẩm hỏng ( trừ đi phần phế liệu thu hồi)
được tính vào thiệt hại trong sản xuất( tính vào chi phí bất thường).
Ngoài ra đối với sản phẩm hỏng trong thời gian bảo hành sản phẩm, mọi
chi phí phát sinh được tập hợp vào TK 641 coi như một khoản phí tổn thời kỳ.
*, Thiệt hại về ngừng sản xuất.
Trong thời gian ngừng sản xuất, vì những nguyên nhân chủ quan hay
khách quan, các doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra một khoản chi phí để duy trì
hoạt động như tiền công lao động, khấu hao tài sản cố định. Những khoản chi
phí chi ra trong thời gian này được coi là thiệt hại về ngừng sản xuất.
Với những khoản chi phí về ngừng sản xuất theo kế hoạch dự kiến, kế
toán theo dõi trên TK 335:
((
Chi phí phải trả
))
. Cuối kỳ sau khi đã trừ đi phần
thu hồi( nếu có, hoặc do bồi thường ) giá trị thiệt hại thực sẽ trừ vào thu nhập
như khoản chi phí thời kỳ.
Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai
thường xuyên
TK 621 TK 154 TK 152
K/c CF NVL trực tiếp
Các khoản ghi
Giảm CFSP
TK 622
K/c CF NC trực tiếp sản xuất
TK 155, 152
Nhập kho
-Chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ.
+Bên Có:
-Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ kết chuyển vào TK 154:
((
Chi phí sản
xuất - kinh doanh dở dang
))
.
-Giá thành sản phẩm nhập kho, lao vụ, dịch vụ hoàn thành kết chuyển
vào TK 631
((
Trị giá hàng bán
))
.
Tài khoản 631 không có số dư cuối kỳ.
*, Chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp.
Do đặc điểm của phương pháp kiểm kê định kỳ nên chi phí Nguyên vật
liệu xuất dùng rất khó phân định đâu là xuất cho mục đích sản xuất, quản lý,
tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy để khắc phục cho việc tính giá thành sản phẩm, lao
vụ, dịch vụ hoàn thành, kế toán cần theo dõi chi tiết các chi phí phát sinh liên
quan đến từng đối tượng ( phân xưởng, bộ phận sản xuất...).
Để phản ánh các chi phí Nguyên vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất -
kinh doanh, kế toán sử dụng TK 621:
((
Chi phí NVL trực tiếp
))
. Các chi phí
được phản ánh trên TK 621 không ghi theo chứng từ xuất dùng Nguyên vật
liệu, công cụ, dụng cụ mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán. Sau khi
tiến hành kiểm tra và xác định giá trị nguyên vật liệu, dụng cụ tồn kho và
TK 152
Trị giá NVL K/c trị giá SF dở K/c trị giá SF
dang đầu kỳ dở dang cuối kỳ
tồn kho c/kỳ
TK 621 TK 632
Trị giá NVL xuất dùng Chi phí NVL, d/cụ
cho sản xuất - kinh doanh
Tổng giá thành SX
20
TK 622
của SF lao vụ, dvụ
Chi phí nhân công trực tiếp hoàn thành
TK 627
Chi phí sản xuất chung 2.3. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản
phẩm.
2.3.1. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang.
Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp thu được những sản phẩm, dịch
vụ hoàn thành trong kỳ(thành phẩm) nhưng cũng có thể đến cuối kỳ những
khoản chi phí bỏ ra chưa tạo ra thành phẩm, bộ phận chi phí đó gọi là sản
trong giá thành, khối lượng sản phẩm dở dang lớn không đều giữa các kỳ.
Phương pháp này cho ta kết quả có độ chính xác cao nhưng khối lượng tính
toán nhiều, phù hợp với những doanh nghiệp mà chi phí về nguyên vật liệu
trực tiếp chiếm tỷ trọng không lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất.
*, Phương pháp tính giá sản phẩm dở dang theo giá thành định
mức.
Trong trường hợp này, căn cứ vào số lượng sản phẩm dở dang, tỷ lệ
hoàn thành của nó và giá thành kế hoạch để xác định giá trị sản phẩm dở
dang.
Giá trị Khối lượng Tỷ lệ hoàn
sản phẩm = sản phẩm dở x thành xác
dở dang cuối kỳ định ( % )
Tuy nhiên, mỗi phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở có ưu nhược
điểm và điều kiện áp dụng khác nhau. Khi tổ chức vận dụng vào doanh
nghiệp thì cần xem xét phương pháp nào phù hợp với đặc điểm cụ thể của
doanh nghiệp cũng như trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
2.3.2. phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Tính giá thành sản phẩm như một phương pháp của hạch toán kế toán là
tổng hợp các phương thức tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất vào các đối
tượng tính giá thành theo một nội dung và trình tự khoa học. Như vậy, giữa
tính giá thành sản phẩm và hạch toán chi phí sản xuất có quan hệ hữu cơ với
nhau. Hạch toán chi phí sản xuất ngoài việc phục vụ trực tiếp cho lãnh đạo
nghiệp vụ quá trình sản xuất, phải đáp ứng tối đa những đòi hỏi của phương
pháp tính giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, hạch toán chi phí sản xuất chưa
phải là mục tiêu của phương pháp tính giá thành sản phẩm, nó chỉ là cơ sở,
phương tiện, là một giai đoạn đầu tiên của tính giá thành sản phẩm. Hạch toán
chi phí sản xuất dù đầy đủ và chi tiết đến đâu cũng chỉ phản ánh được một
mặt của quan hệ này - mặt chỉ ra quá trình sản xuất. Hơn nữa, dù chi tiết đến
Tổng giá thành
Giá thành sản phẩm =
( 1 đơn vị ) Khối lượng sản phẩm hoàn thành
Trên cơ sở tính giá trị sản phẩm làm dở đầu kỳ, chi phí phát sinh trong
kỳ, giá trị sản xuất làm dở cuối kỳ, kế toán lập bảng tính giá thành sản phẩm.
Phương pháp này chỉ được áp dụng cho những đơn vị sản xuất - kinh
doanh có quy trình công nghệ giản đơn, khép kín từ khi đưa nguyên vật liệu
vào quá trình sản xuất cho đến khi sản phẩm hoàn thành, mặt hàng ít, khối
lượng sản phẩm lớn.
*, Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ.
23
Phương pháp này được áp dụng ở những doanh nghiệp trong cùng một
quá trình sản xuất, chế biến vừa thu được sản phẩm chính, vừa thu được sản
phẩm phụ mà đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính. Muốn tính được giá
thành sản phẩm chính, phải xác định được giá trị sản phẩm phụ. Giá trị sản
phẩm phụ thường được xác định theo giá thành kế hoạch hoặc theo giá bán ra
bên ngoài. Từ sổ tập hợp chi phí sản xuất và giá trị sản phẩm phụ, kế toán tính
được tổng giá thành của sản phẩm chính.
Công thức tính như sau:
Tổng giá Sản phẩm Chi phí SX Sản phẩm Chi
phí SX
thành của = làm dở + phát sinh - làm dở - sản phẩm
sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ phụ thu hồi
chính
*, Phương pháp phân bước.
Phương pháp này áp dụng thích hợp với doanh nghiệp có quy trình công
nghệ phức tạp kiểu liên tục, quá trình sản xuất sản phẩm phải trải qua nhiều
giai đoạn chế biến liên tục, kế tiếp nhau, sản phẩm của giai đoạn trước là đối
tượng để tiếp tục chế biến ở giai đoạn sau.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là quy trình sản xuất của từng giai
+ + +
Trình tự tính giá thành gồm các bước sau:
-Đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ giai đoạn 1.
-Lập bảng tính giá thành bán thành phẩm giai đoạn 2 (Giống mẫu bảng
tính giá thành theo phương pháp trực tiếp).
-Đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ giai đoạn 2.
-Lập bảng tính giá thành nửa thành phẩm(Thành phẩm giai đoạn 2)
*, Phương pháp phân bước không tính giá thành bán thành phẩm bước
trước.
Phương pháp này không cần phải kết chuyển tuần tự mà chỉ cần tinhs
toán phần chi phí của mỗi giai đoạn cấu thành trong giá thành sản phẩm hoàn
thành, sau đó tổng cộng song song cùng một lúc toàn bộ chi phí của các giai
đoạn sẽ được tính giá thành cuối cùng. Do đó phương pháp này còn được gọi
là phương pháp kết chuyển song song.
Theo phương pháp này, chi phí của từng giai đoạn trong thành phẩm
được tính như sau:
Chi phí SX Chi phí SX giai đoạn 1 Thành phẩm
giai đoạn i = x ở bước cuối
trong t/ phẩm Bán thành phẩm g/đ i + SF dở g/đ i cùng
Giá thành
bán thành
phm giai
25
n
Giá thành sản phẩm = CF SX giai đoạn i
i=1
*, Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo đơn đặt hàng.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt của khách hàng, kế toán
tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng. Đối tượng tính giá
thành sản phẩm là sản phẩm của từng đơn đặt hàng. Phương pháp tính giá
thành tuỳ theo chất lượng và số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ được áp
dụng phương pháp thích hợp. Đặc điểm của việc tập hợp chi phí trong các
doanh nghiệp này là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh đều được tập hợp theo
từng đơn đặt hàng, không kể số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng đó nhiều
hay ít, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm giản đơn hay phức tạp. Đối với
các chi phí trực tiếp(nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp) phát sinh
trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán trực tiếp cho
đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc(hay bảng phân bổ chi phí). Đối với chi
phí sản xuất chung, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu
chuẩn phù hợp(giờ công sản xuất, nhân công trực tiếp...).
Việc tính giá thành sản phẩm ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến
hành khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không trùng
với kỳ báo cáo.
Đặc điểm của phương pháp này là không có sản phẩm làm dở đầu kỳ,
cuối kỳ. ở doanh nghiệp, khi áp dụng phương pháp này với đơn đặt hàng được
sản xuất, chế biến qua nhiều phân xưởng thì kế toán phải xác định chi phí sản
xuất của từng phân xưởng liên quan đến đơn đặt hàng. Khi đơn đặt hàng hoàn
thành, trên cơ sở chi phí sản xuất đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm. Theo
phương pháp này, đến cuối tháng dù đơn đặt hàng đó đã hoàn thành, kế toán