Pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại ở việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÚY ANH

PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÚY ANH

PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS LÊ THỊ THU THUỶ

HÀ NỘI – 2015


1.1.1.1.Định nghĩa ngân hàng thương mại .................................................... 6
1.1.1.2.Đặc điểm của ngân hàng thương mại ................................................ 8
Từ các khái niệm nêu trên, có thể thấy NHTM có những đặc điểm chính
như sau: .......................................................................................................... 8
1.1.2.Khái niệm quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại...................... 10
1.1.3.Khái niệm tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại..... 13
1.2.Mục đích và vai trò của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương
mại ................................................................................................................. 15
1.2.1.Mục đích của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại ...... 15
1.2.2.Vai trò và lợi ích của việc tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương
mại ................................................................................................................. 20
1.3.Nội dung của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại .......... 21
1.3.1.Tái cơ cấu Bộ máy quản lý của ngân hàng thương mại .................... 22
1.3.2.Tái cơ cấu bộ máy điều hành ngân hàng thương mại........................ 30
Chương 2 ...................................................................................................... 38
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA
NHTM Ở VIỆT NAM .................................................................................. 38


2.1. ... Thực trạng pháp luật về tái cơ cấu bộ máy quản lý ngân hàng thương
mại ở Việt Nam............................................................................................. 38
2.1.3.Hội đồng thành viên ............................................................................ 54
2.1.4.Ban kiểm soát....................................................................................... 56
2.2.Thực trạng pháp luật về tái cơ cấu bộ máy điều hành ngân hàng thương
mại ................................................................................................................. 58
2.2.1.Tổng giám đốc ..................................................................................... 58
2.2.2.Kiểm toán và kiểm soát nội bộ ............................................................ 64
2.3.Ưu điểm, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tái cơ cấu quản
trị nội bộ ngân hàng thương mại ................................................................. 68
2.3.1.Pháp luật quản trị nội bộ ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn thiếu

TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 107


CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt

Tên/ cụm từ đầy đủ

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTMNN

Ngân hàng thương mại nhà nước

NHTMCP

Ngân hàng thương mại cổ phần

TCTD

Tổ chức tín dụng

ĐHĐCĐ


năm 2008 và đến nay vẫn còn để lại hậu quả nặng nề ở nhiều nước, đặc biệt là ở
Mỹ mà nguyên nhân chính là sự yếu kém của hệ thống ngành ngân hàng. Điều
đó buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các ngân
hàng. Và việc tái cấu trúc hệ thống các ngân hàng, trong đó chú trọng việc tái cơ
cấu Ngân hàng thương mại (NHTM) đã trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc
gia để đảm bảo cho các NHTM thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong
bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam hiện nay, khi thị trường
chứng khoán phát triển chưa ổn định, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai các
NHTM thì việc giữ cho hệ thống NHTM ổn định và lành mạnh càng cần phải
đặc biệt quan tâm.
1


Đến nay, có thể nói nền kinh tế cũng như hệ thống NHTM Việt Nam đã
cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, những hệ lụy của nó đã
bộc lộ nhiều vấn đề bất ổn, có thể kể đến như: Thanh khoản khó khăn, nợ xấu có
dấu hiệu tăng cao, năng lực quản trị điều hành hạn chế, sản phẩm dịch vụ nghèo
nàn, lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, rủi ro cao ảnh hưởng đến an toàn
hệ thống, ... Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu chéo; hệ thống mạng lưới các NHTM
phát triển với tốc độ quá nhanh, số lượng nhiều, chất lượng hoạt động chưa cao,
không ít NHTM hoạt động vì lợi ích cục bộ, chạy đua lãi suất gây ảnh hưởng
lớn đến hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ. Do đó, nếu không có biện pháp
can thiệp kịp thời sẽ có nguy cơ xảy ra rủi ro gây mất an toàn hệ thống.
Để ổn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả, bền vững, Hội nghị trung
ương khóa 11 (tháng 10 năm 2011) đã nhấn mạnh sự cần thiết tái cấu trúc nền
kinh tế, trong đó tái cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính là một
trong ba lĩnh vực chủ đạo, quan trọng nhất. Đây là chủ trương lớn thể hiện quyết
tâm của Đảng nhằm cải tổ nền kinh tế cùng với đẩy lùi tác động, ảnh hưởng tiêu
cực của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của tái cơ cấu hệ thống NHTM,

chính vì vậy các giải pháp đề xuất tính ứng dụng còn giới hạn.
- Nguyễn Thị Quỳnh Hoa: “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam”, Luận án tiến sỹ năm 2014 tại trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí
Minh. Luận án được đánh giá cao bởi các nội dung: (i) Luận án đã xác định
được đặc trưng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại là chương trình
mang tầm cỡ quốc gia và chỉ rõ những việc cần thực hiện trong quá trình tái cấu
trúc hệ thống NHTM; (ii) Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng tái cấu
trúc hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012, từ đó tổng hợp
những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá
trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam; (iii) Luận án đã phân tích rõ những
lý do cho thấy sự cấp thiết cần tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam, đề xuất lộ
trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam; (iv) Luận án đã đề xuất thành lâp
ủy ban tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam và những công việc cụ thể ủy ban
này cần thực hiện, gồm có: Xây dựng bộ tiêu chuẩn xếp loại NHTM sau khi tái
3


cơ cấu làm cơ sở để xác định mục đích mà cả cơ quan quản lý Nhà nước và từng
NHTM cần đạt được. Tuy nhiên, luận án còn mang tính bao quát chưa có nhiều
phân tích cụ thể xoáy sâu vào các lĩnh vực tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM.
- Tác giả Nguyễn Hồng Sơn, bài viết “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng:
kinh nghiệm quốc tế và một số hàm ý về tư duy cho Việt Nam” tại Hội thảo
quốc tế “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” ngày 21 tháng 11 năm 2011, trình
bày các vấn đề sau: (i) Lý do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là hệ thống ngân
hàng rơi vào khủng hoảng hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng; (ii)
vì sao cần thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; (iii) Những nguyên tắc cần
đảm bảo trong quá trình tái cấu trúc; (iv) NHTW độc lập và tăng cường năng
lực. Như vậy bài viết trên chỉ trình bày được lý do tái cấu trúc ngân hàng chủ
yếu là do khủng hoảng kinh tế, mà chưa coi tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là
công việc cần thực hiện thường xuyên, liên tục để duy trì sự ô định và phát triển.

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các bảng
phụ lục, luận văn gồm ba phần chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tái cơ cấu quản trị nội bộ
NHTM
Chương 2: Thực trạng pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM ở
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ
NHTM ở Việt Nam.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI
BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.

Khái niệm quản trị nội bộ ngân hàng thương mại và tái cơ cấu

quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
1.1.1.1.

Định nghĩa ngân hàng thương mại

Khi nền sản xuất hàng hóa xuất hiện thì tiền tệ và nghề kinh doanh tiền tệ
cũng ra đời. Bản thân sự phát triển của nghề kinh doanh tiền tệ cũng tạo tiền đề
và đòi hỏi phải xuất hiện ngân hàng, tức là đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức
và bộ máy thích hợp đảm nhiệm lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Như vậy, sự ra đời
của hình thức kinh doanh tiền tệ dưới dạng “ngân hàng” là sự đòi hỏi tất yếu

nhận: “1.Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một
hoặc một số nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng
dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Và tại Khoản 2,3, Điều 4 “Giải thích từ ngữ”, Luật các TCTD năm 2010
thì quy định:
“2. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực
hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo
tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm
ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
3. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện
tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”
Còn tại Khoản 1, Điều 5 “Giải thích từ ngữ”, Nghị định số 59/2009/NĐCP ngày 16-7-2009 của Chính phủ quy định về Tổ chức và hoạt động của
NHTM cũng ghi nhận cụ thể: “1. Ngân hàng thương mại là ngân hàng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có
liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và
các quy định khác của pháp luật.”
Theo các quy định trên, có thể hiểu NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ
mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với
7


trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết
khấu và làm phương tiện thanh toán với mục tiêu lợi nhuận, góp phần vào thực
hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước [22]. Và NHTM gồm có NHTM Nhà nước,
NHTM cổ phần nhà nước và nhân dân, NHTM có 100% vốn nước ngoài và
NHTM liên doanh.
1.1.1.2.

Đặc điểm của ngân hàng thương mại

toàn bộ số vốn huy động được này với một khoản lợi tức nhất định. NHTM lại
dùng chính số vốn huy động được này để cấp tín dụng cho người có nhu cầu với
cam kết trả tiền và lãi suất. Quá trình đi vay để cho vay này thực chất là tạm thời
chuyển nhượng quyền sở hữu. Lãi suất mà người đi vay trả cho NHTM cũng
chính là giá cả quyền sở hữu các khoản tiền tệ và cũng là lợi nhuận mà các
NHTM hướng tới.
Đồng thời với đặc điểm kinh doanh tiền tệ thì đối với vai trò là doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng, NHTM đóng vai trò như là thủ quỹ cho
các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng
như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ
hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản
thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương
tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ
thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình
phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ
tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần
hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản
thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời
gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy
lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó
góp phần phát triển kinh tế.
- NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Đây là đặc điểm rõ nét nhất để phân biệt NHTM với các ngân hàng khác
như ngân hàng chính sách và ngân hàng đầu tư. Và mục tiêu lợi nhuận với chức
năng tạo tiền được coi là yếu tố quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và
9


phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của



“Quản trị công ty là một loạt mối quan hệ giữa Ban Giám
đốc (BGĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), các cổ đông và các bên có liên
quan khác trong một doanh nghiệp. Quản trị công ty còn là một cơ
chế để thông qua đó xác định các mục tiêu của doanh nghiệp,
phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và theo dõi kết quả thực hiện”.
Quản trị công ty và quản lý công ty là hai khái niệm khác biệt. Nếu như
quản trị công ty tập trung vào các cơ cấu và các quy trình của công ty nhằm
đảm bảo sự công bằng, minh bạch, tính trách nhiệm và giải trình thì quản lý
công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp [51].
Như vậy, quản trị công ty được đặt ở một tầm cao hơn nhằm bảo đảm rằng
công ty sẽ được quản lý một cách hiệu quả và phục vụ lợi ích của các cổ đông.
Một cấu trúc quản trị doanh nghiệp hoàn chỉnh và hiệu quả là cấu trúc
quản trị bao gồm đầy đủ các cấu phần: Chủ sở hữu, HĐQT, các Ủy ban giúp
việc cho HĐQT, Ban điều hành cấp cao, cấp trung và các nhân viên tác nghiệp
trực tiếp. Bên cạnh đó, một cấu trúc quản trị doanh nghiệp còn đòi hỏi phải chứa
đựng những yếu tố vô hình như sự bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông, của
người gửi tiền đó là tính minh bạch trong việc cung cấp các thông tin, báo cáo;
tính tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; văn hóa tổ chức lành
mạnh và những chuẩn mực đạo đức [40].
Sơ đồ 1: Cấu trúc quản trị doanh nghiệp hiện đại

Nguồn: The Essential Handbook of Internal Auditing
11


Bên cạnh các cấu phần đầy đủ và hoàn thiện như trên, cơ cấu quản trị
doanh nghiệp hiệu quả cần phải đảm bảo xây dựng được bốn giá trị cốt lõi [33]:
Tính công bằng: Khuôn khổ quản trị doanh nghiệp phải bảo vệ quyền lợi

đạt được các mục tiêu đó và theo dõi kết quả thực hiện”.
Như vậy, có thể thấy hoạt động quản trị nội bộ NHTM có những đặc
điểm sau:
Một là, quản trị nội bộ NHTM được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa
quản lý và sở hữu ngân hàng. Ngân hàng là của chủ sở hữu (nhà đầu tư,
cổ đông…) nhưng để tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT,
sự điều hành của Ban Giám đốc, sự giám sát của Ban kiểm soát (BKS) và sự
đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có
chung ý chí và quyền lợi. Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế để nhà
đầu tư cũng như các cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm
đem lại hiệu quả cao nhất.
Hai là, quản trị nội bộ NHTM xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa
các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong ngân hàng, bao gồm các cổ
đông, HĐQT, Ban Điều hành, BKS và những người liên quan khác của
ngân hàng như người lao động, nhà cung cấp. Đồng thời, quản trị nội bộ
NHTM cũng lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra quyết định trong
ngân hàng, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu
những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao dịch với các
bên có liên quan, những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không có tiêu
chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin và không
minh bạch.
1.1.3. Khái niệm tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ và hoàn chỉnh về khái
niệm tái cơ cấu NHTM nói chung và tái cơ cấu quản trị nội bộ của NHTM nói
riêng.
Trong thực tế, thuật ngữ “Tái cấu trúc” hay “tái cơ cấu” mới chỉ xuất hiện
trong những năm trở lại đây. Theo từ điển Oxford: “tái cơ cấu là việc tổ chức lại
một cái gì đó như một hệ thống hoặc một công ty theo một cách mới hẳn và khác
13


14


với thực tiễn hoạt động của toàn bộ hệ thống cũng như điều kiện kinh tế của
từng ngân hàng.
Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM là một nội dung của tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng. Tái cơ cấu quản trị bộ có tác động không nhỏ đến việc phát
triển của hệ thống ngân hàng. Mặt khác, trong khi vấn đề quản trị nội bộ NHTM
hiện nay có tính đặc thù rất cao, nó khác nhiều với quản trị công ty đơn thuần vì
hệ thống NHTM kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt, kinh doanh tiền tệ, do vậy
vấn đề quản trị nội bộ trong hoạt động của các NHTM liên quan mật thiết với
mọi lĩnh vực khác của nền kinh tế và xã hội trong nước, thậm chí vươn ra khỏi
khuôn khổ của quốc gia. Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM hiện nay được coi là
vấn đề cốt lõi song song với quá trình tái cơ cấu NHTM nói riêng và hệ thống
ngân hàng nói chung. Nó giữ vai trò trọng yếu và quyết định đến sự hình thành,
tồn tại và phát triển của hệ thống NHTM. Chính vì vậy khi quản trị nội bộ ngân
hàng yếu kém sẽ kéo theo sự suy yếu của tất cả các lĩnh vực kinh doanh khác
của NHTM. Chỉ cần hệ thống quản trị nội bộ ngân hàng đổ vỡ, nguy cơ đổ vỡ
toàn hệ thống ngân hàng rất lớn, và lan truyền rộng khắp còn gọi là hiện tượng
Domino. Chính vì vậy tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM đòi hỏi phải thực hiện
một cách quyết liệt.
Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM gắn với việc đề xuất cách hiểu, quản trị,
điều hành NHTM theo hướng phù hợp với các yếu tố quản trị NHTM hiện đại
và phù hợp với thực tế kinh doanh ngân hàng, nhằm bảo đảm tách bạch giữa sở
hữu và điều hành hướng tới hoạt động hiệu quả của ngân hàng.
1.2.

Mục đích và vai trò của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng

thương mại

quốc tế đã chỉ ra [46].
Hoạt động ngân hàng tự nó đã chứa đựng rất nhiều rủi ro và khi những rủi
ro đó tích tụ, trở nên quá lớn do tác động của các yếu tố bên ngoài như bất ổn
kinh tế vĩ mô, khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán hay/và thị
trường bất động sản lao dốc hay do các yếu tố bên trong như quản trị rủi ro bất
cập, quy trình tín dụng không hoàn chỉnh, đầu tư mạo hiểm, trình độ năng lực và
đạo đức của đội ngũ không đáp ứng yêu cầu,… thì ngân hàng sẽ không thể tránh
khỏi đổ vỡ nếu không được cơ cấu lại, cả cơ cấu lại từng ngân hàng, cũng như
16


cơ cấu lại cả hệ thống ngân hàng. Cho đến nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam
đang đối mặt với những rủi ro ngày một gia tăng, nổi bật là:
Rủi ro tín dụng: Một mặt, để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp và người dân, trong khi nguồn vốn kinh doanh
chỉ chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng, nên đã có hiện tượng “tín dụng nóng”.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, người vay nợ gặp khó khăn thì
rủi ro tín dụng gia tăng, nhất là trong những trường hợp ngân hàng quá dễ dãi
trong việc cấp tín dụng cho vay và không thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng đầy đủ. Đặc biệt, sự hấp dẫn của thị trường bất động sản và chứng khoán
trong thời gian vừa qua đã khiến nhiều NHTM tập trung quá nhiều vốn cho
những thị trường đầy rủi ro này, góp phần không nhỏ vào thổi phồng “bong
bóng” bất động sản và chứng khoán. Song, những lúc thị trường này đảo chiều
đi xuống thì nguy cơ rủi ro lại tăng cao. Mặt khác, do một số NHTM mới thành
lập nên mặc dù qui mô vốn không lớn song vẫn cần tăng nhanh qui mô tín dụng
để qui mô tài sản có phù hợp với qui mô vốn, đồng thời, nhằm đáp ứng yêu cầu
lợi nhuận của cổ đông, cũng như thỏa mãn tham vọng nhanh chóng vươn lên
bằng các NHTM có qui mô lớn và bề dày kinh nghiệm khác. Trong điều kiện
đó, những ngân hàng này đã bất chấp các qui tắc về an toàn vốn, về quản trị rủi
ro để đạt tốc độ tăng tín dụng tới hàng chục phần trăm mỗi năm, kể cả tín dụng

lãi suất còn mang nặng tính hành chính đã khiến cho các NHTM thường xuyên
trong trạng thái đối phó, khi thì chạy đua tăng lãi suất huy động, khi lại giữ lãi
suất cho vay ở mức rất cao để phòng ngừa biến động lãi suất. Vì vậy, hiện tượng
“vượt trần, phá rào, hai lãi suất” diễn ra tương đối phổ biến làm giảm hiệu lực
của các chính sách tiền tệ, đồng thời làm suy giảm đạo đức kinh doanh của
không ít cán bộ quản lý cũng như cán bộ tác nghiệp trong hệ thống ngân hàng...
Hoạt động của không ít NHTM rất bấp bênh, chênh vênh giữa trạng thái lãi - lỗ,
kỷ luật kinh doanh không được tuân thủ triệt để, tạo ra những kẽ hở cho kẻ xấu
lợi dụng.
Bên cạnh đó, do tình trạng đô-la hóa chậm được khắc phục, với tổng tiền
gửi ngoại tệ vẫn chiếm trên 20% tổng tiền gửi, thậm chí còn phát sinh thêm tình
trạng vàng hóa với cả trăm tấn vàng được các NHTM huy động song không
được sử dụng hiệu quả, nên các NHTM còn phải đương đầu với rủi ro tỷ giá hối
đoái và cả rủi ro giá vàng. Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2011 tỷ giá hối đoái
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status