BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN VĂN AN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
THỊ TRƯỜNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 31 10
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM BẢO DƯƠNG
Hµ néi - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được sử dụng
trong bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Tôi xin cam đoan, mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 12 năm 2011
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn An
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
Danh mục hộp
viii
1
MỞ ĐẦU
1
1.1
Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
28
3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
41
3.1
Đặc điểm của huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
41
3.2
Phương pháp nghiên cứu
49
3.3
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
52
4.
57
Khái quát về các đối tượng điều tra
57
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
iii
4.2.2
Quản lý nhà nước về số lượng, chủng loại, cơ cấu vật tư nông nghiệp
60
4.2.3
Quản lý nhà nước về chất lượng vật tư nông nghiệp
66
4.2.4
Quản lý nhà nước về giá cả vật tư nông nghiệp huyện Trực Ninh
71
4.4
Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước
về thị trường vật tư nông nghiệp huyện Trực Ninh
85
4.4.1
Định hướng quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
85
4.4.2
Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông
nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định
87
5.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
95
5.1
Kết luận
Bảo vệ thực vật
CC
Cơ cấu
CSHT
Cơ sở hạ tầng
DT
Diện tích
ĐVT
Đơn vị tính
HTX
Hợp tác xã
LCLSPHH
Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa
LĐ
Lao động
Trung ương
UBND
Ủy ban nhân dân
VTNN
Vật tư nông nghiệp
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình đất đai huyện Trực Ninh qua 3 năm 2009 - 2011
3.2
Tình hình dân số và lao động của huyện Trực Ninh qua 3 năm 2009
4.3
Sản lượng phân bón của Công ty cổ phần vật tư kỹ thuật Trực Ninh
phân theo chủng loại tiêu thụ trên thị trường tỉnh Nam Định giai đoạn
2006 - 2010
4.4
Số lượng hội nghị khách hàng được tiến hành trên địa bàn huyện Trực
Ninh giai đoạn 2006 - 2010
4.5
62
Nguồn mua và hình thức thanh toán vật tư nông nghiệp của hộ điều tra
năm 2011
4.6
61
63
Kết quả thanh tra, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp huyện Trực
Ninh giai đoạn 2008 – 2011
67
4.7
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
76
vi
4.12
Đánh giá về giá cả vật tư nông nghiệp của người dân năm 2011 so với
năm 2010
4.13
Kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra năm
2011
4.14
77
77
Lý do hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về thị trường vật tư
nông nghiệp tại huyện Trực Ninh
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
79
vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy cần có sự quan tâm và
đầu tư thích đáng tới ngành sản xuất vật chất này.
Quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường đã
từng bước khẳng định xu thế phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta. Cơ chế kinh tế
thị trường đã và đang chi phối phần lớn các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc
dân. Nghị quyết đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Vận
dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô Nhà nước,
đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị kinh doanh, nhằm phát huy
những tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường".
Với ngành nông nghiệp, để tạo ra ngày càng nhiều các nông sản có giá trị,
nâng cao hiệu quả kinh tế và tạo thu nhập cho người dân, đảm bảo chỗ đứng cho
nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, việc đảm bảo chất lượng đầu vào trong
sản xuất là việc quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2008, chính phủ đã có chỉ thị về việc
tăng cường công tác quản lý chất lượng nông, lâm sản, vật tư nông nghiệp và đảm
bảo vệ sinh, an toàn nông sản thực phẩm. Hiện nay vấn đề này vẫn tiếp tục được
triển khai và được cụ thể hóa qua thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT về Quy định
việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm
nông lâm thủy sản.
Cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, tình trạng buôn lậu, buôn bán
hàng cấm, sản xuất và buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép hoạt động tinh vi
bằng nhiều thủ đoạn. Vấn đề giá cả biến động mạnh gây không ít khó khăn cho
nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Trách nhiệm quản lý thị trường vật tư nông
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
1
nghiệp trước hết thuộc về cán bộ ngành quản lý thị trường, ngành nông nghiệp và
2
tới quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp huyện Trực Ninh - tỉnh Nam
Định;
- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về thị trường vật
tư nông nghiệp huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải pháp quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông
nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Đối tượng điều tra bao gồm các chủ thể có liên quan tới công tác quản lý nhà
nước về thị trường vật tư nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu. Cụ thể là nhà nông,
các cơ sở sản xuất - kinh doanh vật tư nông nghiệp, đội quản lý thị trường, chính
quyền địa phương.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà
nước về thị trường vật tư nông nghiệp chủ yếu đối với thị trường phân bón, thức ăn
chăn nuôi, trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể và đối tượng trong việc mua, bán,
quản lý, đánh giá về chất lượng, giá cả, chính sách liên quan tới đảm bảo chất lượng
của vật tư nông nghiệp. Chú trọng tới việc đảm bảo về chất lượng, giá cả phù hợp
phục vụ sản xuất nông nghiệp của người dân tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định.
- Về thời gian: Các tư liệu tổng quan thu thập từ các tài liệu đã công bố trong
5 năm 2007 đến năm 2011. Số liệu điều tra hiện trạng chủ yếu thu thập năm 2011.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
3
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
4
trường hàng hoá, thị trường lao động, thị trường đất đai, thị trường tư bản…
C.Mác đã chỉ rõ: thị trường là lĩnh vực của trao đổi và cao hơn là lưu thông
hàng hoá.
Theo Lênin: Khái niệm thị trường không thể tách rời khái niệm phân công xã
hội được. Hễ ở đâu và khi nào có phân công xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó và
khi ấy có thị trường. Quy mô của thị trường gắn chặt với trình độ chuyên môn hoá
của lao động xã hội. Phân công lao động xã hội sẽ phát triển vô cùng tận bởi vậy
phát triển của thị trường cũng là vô cùng tận.
Theo Philip Kotler, tác giả nổi tiếng về Marketing, định nghĩa: “Thị trường
bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ
thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn
đó”. Ở khái niệm này Philip Kotler phân chia người bán thành ngành sản xuất còn
người mua thì họp thành thị trường.
Theo quan điểm chung hiện nay, thị trường được coi là tổng hòa các mối
quan hệ giữa người mua và người bán, là tổng hợp số cung và cầu về một họặc
một số loại hàng hóa nào đó. Nó được biểu hiện ra bên ngoài bằng các hành vi
mua bán hàng hóa thông qua giá cả và các phương thức thanh toán nhằm giải
quyết các mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các thành viên tham gia thị trường.
Thị trường là một dạng “tổ chức kinh tế vô định hình” được tạo ra bởi các mối
quan hệ chằng chịt giữa bên bán và bên mua, từ đó xác định giá cả hàng hóa (dịch
vụ), số lượng hàng cần cung ứng và phương thức thanh toán giữa các bên.
Với quan điểm hiện đại, giới hạn về không gian và thời gian của thị trường bị
xóa nhòa, thị trường không bị giới hạn về mặt không gian và thời gian nhưng để tồn
tại thị trường vẫn phải hội tụ đủ các điều kiện sau:
- Một là, phải có khách hàng (người mua hàng) nhưng không nhất thiết phải
giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản,
vật tư nông nghiệp: bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi, phân bón, thức ăn
chăn nuôi, thức ăn thủy sản, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm
sinh học, máy móc, nguyên vật liệu, thiết bị sử dụng trong sản xuất kinh doanh
nông lâm thủy sản, thủy lợi và muối thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn.
Cơ sở sản xuất vật tư nông nghiệp: nơi thực hiện một, một số hoặc tất
cả các hoạt động sản xuất, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển vật
tư nông nghiệp.
Cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp: nơi thực hiện các hoạt động buôn
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
6
bán vật tư nông nghiệp.
c. Khái niệm thị trường vật tư nông nghiệp
Thị trường vật tư nông nghiệp là nơi diễn ra mối quan hệ giữa người mua
và người bán, là tổng hợp số cung và cầu về vật tư nông nghiệp. Nó được biểu
hiện ra bên ngoài bằng các hành vi mua bán hàng hóa thông qua giá cả và các
phương thức thanh toán nhằm giải quyết các mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các
thành viên tham gia thị trường.
Cơ sở
sản xuất,
kinh
doanh
VTNN
Thị trường VTNN
7
động quản lý.
Yếu tố chính trị: Chính trị là định hướng của quản lý. Ý chí của giai cấp
thống trị được thể hiện tập trung ở các đảng chính trị. Ở Việt Nam, điều 4 của Hiến
pháp năm 1992 đã ghi “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực
lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”.
Yếu tố tổ chức: Tổ chức là một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ
giữa các con người để thực hiện một công việc quản lý Đảng và Nhà nước ta đã chỉ
rõ rằng một tổ chức được sinh ra và tồn tại do nhu cầu quản lý xã hội, nhu cầu công
việc, nhất thiết không được xuất phát từ tình cảm riêng tư của một nhóm hoặc một
cá nhân lãnh đạo nào. Một tổ chức đã hình thành thì phải có chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn rõ ràng, có một đội ngũ viên chức đủ mạnh để thực thi công vụ, đồng
thời phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả mang lai lợi ích cho xã hội. Quyền uy
là thể thống nhất của quyền lực và uy tín. Quyền lực là công cụ quản lý bao gồm
một hệ thống pháp luật, điều lệ, quy chế, nội quy, kỷ luật, kỷ cương... được tổ chức
và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân công, phân cấp rành mạch
trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật quản lý.
Yếu tố thông tin: Thông tin là một trong những điều kiện quản lý, là căn cứ
để ra các quyết định quản lý.
2.1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, được sử dụng các quyền lực
nhà nước để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản lý
công việc của Nhà nước. Quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt
động lập pháp của cơ quan lập pháp (Quốc hội), hoạt động hành pháp (chấp hành và
đến địa phương, có chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các
hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước.
Hệ thống Quản lý thị trường gồm:
a. Ở Trung ương: Thành lập Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Thương
mại trên cơ sở sát nhập bộ máy chuyên trách của Ban Quản lý thị trường Trung
ương chuyển giao về Bộ Thương mại và Vụ Quản lý thị trường thuộc Bộ Thương
mại (được thành lập theo Nghị định số 95/CP ngày 04/12/1993 của Chính phủ) nay
thuộc bộ Công thương.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
9
b. Ở tỉnh, thành phố: Thành lập Chi cục Quản lý thị trường trực thuộc Sở
Công thương trên cơ sở tổ chức lại bộ máy chuyên trách của Ban chỉ đạo Quản lý
thị trường tỉnh, thành phố hiện có.
c. Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện): Theo
yêu cầu cụ thể trên từng địa bàn, chủ tịch UBND tỉnh quyết định việc thành lập các
Đội Quản lý thị trường trực thuộc Chi cục hoạt động trên địa bàn huyện hoặc liên
huyện, trên cơ sở tổ chức lại các Đội kiểm tra thị trường hiện có ở địa phương.
2.1.2.4 Khái niệm quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu, quản lý nhà nước về thị trường vật tư
nông nghiệp là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước mà
trước hết là của quản lý thị trường, dùng nhiều biện pháp nhằm tác động tới mối
quan hệ giữa người bán và người mua chủ yếu là về tổng hợp số cung, cầu cũng
như chất lượng, giá cả, chủng loại, cơ cấu của vật tư nông nghiệp trên cơ sở pháp
luật để giải quyết các mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các thành viên tham gia thị
trường vật tư nông nghiệp.
2.1.3 Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Cung VTNN vận động theo xu hướng tỉ lệ thuận với giá cả hàng hóa, giá
cao lượng - cung ứng cao, giá thấp - lượng cung ứng thấp. Ngoài sự tác động của
giá cả cung VTNN còn chịu sự tác động của các nhân tố: chi phí sản xuất, cầu hàng
hóa, yếu tố chính trị xã hội, trình độ công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, kỳ vọng của
người cung ứng.
Thứ hai, quản lý nhà nước về cầu VTNN: là quản lý số lượng VTNN, dịch
vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau. Tổng
hợp các nhu cầu của người dân hàng tạo nên cầu VTNN.
Cầu VTNN vận động theo xu hướng tỉ lệ nghịch với giá VTNN, giá cao lượng cầu thấp, giá thấp - lượng cầu cao. Ngoài sự tác động của giá cả, cầu hàng
hóa còn chịu sự tác động của cá nhân tố sau: quy mô thị trường, cung hàng hóa, thu
nhập của dân cư, thị yếu hay sở thích, giá cả của những hàng hóa có liên quan (hàng
hóa bổ sung, hàng hóa thay thế), kỳ vọng của người tiêu dùng.
Thứ ba, đối tượng chịu sự quản lý nhà nước về thị trường VTNN bao gồm:
những người sản xuất - kinh doanh vật tư nông nghiệp (các công ty, doanh nghiệp,
nhà máy sản xuất vật tư nông nghiệp; các công ty, doanh nghiệp, cơ sở, đại lý kinh
doanh vật tư nông nghiệp; và những người trung gian tham gia trong quá trình vận
chuyển và tiêu thụ vật tư nông nghiệp. Trình độ của các đối tượng này cũng không
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
11
đồng đều, gây khó khăn trong công tác quản lý.
Thứ tư, người phản hồi ý kiến về chất lượng VTNN là người sử dụng vật tư
nông nghiệp, trực tiếp nhất là người dân (các nông hộ, trang trại).
Thứ năm, quản lý nhà nước về thị trường VTNN mang những tính chất đặc
thù riêng:
a. Thường xuyên đụng chạm đến lợi ích kinh tế của thương nhân và mọi tầng
lớp dân cư, kể cả dân nghèo được bọn “đầu nậu” thuê mướn để mang thuê, vác
mướn; có những trường hợp đã va chạm đến lợi ích của bạn bè, người thân… Cuộc
quản lý số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh VTNN đảm bảo tiêu chuẩn của nhà
nước về sản xuất kinh doanh VTNN cũng như đảm bảo các yêu cầu liên quan về
VTNN như bao bì, nhãn hiệu…
Cầu VTNN chịu ảnh hưởng của quy mô thị trường tiêu dùng VTNN, cung
VTNN, thu nhập của người dân, thói quen sử dụng VTNN, giá cả so sánh của các
VTNN cùng công dụng và kỳ vọng của người nông dân trong sử dụng VTNN.
Cung về VTNN chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau: chi phí sản xuất VTNN,
cầu về VTNN, yếu tố chính trị, trình độ công nghệ, tài nguyên thiên nhiên (về
nguyên liệu), kỳ vọng của người cung ứng VTNN.
Việc đảm bảo về nguồn cung đáp ứng đủ cầu tiêu dùng về VTNN là một yếu
tố sống còn cho nông nghiệp phát triển. Nhiều mặt hàng VTNN nhất là phân bón
nước ta còn phụ thuộc nhập khẩu, nguyên liệu sản xuất cũng từ xuất khẩu. Vì vậy
việc đảm bảo số lượng VTNN là bài toán cho các nhà hoạch định chiến lược về thị
trường VTNN.
Thông tư 14/2011/TT-BNNPTNT ban hành ngày 29/3/2011 quy định việc
kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông,
lâm, thủy sản là căn cứ cho việc quản lý về số lượng cơ sản sản xuất kinh doanh
VTNN đảm bảo cho quá trình vận hành của VTNN trong thị trường được diễn ra
suôn sẻ.
Chủng loại cơ cấu VTNN càng đa dạng thì người nông dân càng có nhiều cơ
hội lựa chọn và sử dụng. Điều này kích thích các nhà sản xuất VTNN nâng cao tính
cạnh tranh và đảm bảo yêu cầu của thị trường để tồn tại. Việc quản lý nhãn hiệu
hàng VTNN theo quy chuẩn của nhà nước là cơ sở để giúp người dân có được hàng
hóa thật, đảm bảo để phục vụ SXNN.
Thứ hai, quản lý về chất lượng vật tư nông nghiệp. Đây việc đảm bảo hàng
VTNN là hàng đúng, đảm bảo yêu cầu về nhãn mác, các tiêu chuẩn về kỹ thuật khi
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
13
ảnh hưởng, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quyết định thông báo
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
14
trên đài phát thanh hoặc truyền hình địa phương hoặc trung ương, phương tiện
thông tin đại chúng khác.
Khi phát hiện vi phạm cần xử lý vi phạm hành chính, cơ quan kiểm tra
chuyển hồ sơ và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục xử lý vi
phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Cơ quan
có thẩm quyền tiến hành xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm thông báo cho cơ
quan kiểm tra biết việc xử lý và kết quả xử lý để theo dõi.
- Lực lượng Hải quan, lực lượng Bộ đội Biên phòng: có trách nhiệm tổ chức
việc chống hàng giả xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửa khẩu, trên biên giới đất liền
và trên biển theo nhiệm vụ của từng ngành.
- Lực lượng Quản lý thị trường có trách nhiệm: + Thanh tra, kiểm tra chống
sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng ở thị trường nội địa.
+ Chủ trì tổ chức phối hợp với các lực lượng Thanh tra chuyên ngành, các
lực lượng có chức năng chống hàng giả, hàng kém chất lượng khác trên địa bàn.
- Lực lượng Công an có trách nhiệm:
+ Điều tra, khám phá các đường dây, ổ nhóm sản xuất, buôn bán hàng giả
đặc biệt là giấy tờ, hoá đơn, tem.
+ Phối hợp với các lực lượng chức năng thanh tra, kiểm tra ở các ngành các
cấp chống hàng giả khi có yêu cầu.
- Các lực lượng thanh tra, kiểm tra chuyên ngành: có trách nhiệm tổ chức
thanh tra, kiểm tra chống hàng giả đối với hàng hóa, thuộc phạm vi quản lý nhà
nước chuyên ngành, đồng thời phối hợp với các lực lượng có chức năng chống hàng
giả để tiến hành thanh tra, kiểm tra khi có yêu cầu.
* Nội dung phối hợp:
đủ căn cứ khẳng định là hàng giả, hàng kém chất lượng thì phải lấy mẫu theo đúng
quy định gửi đến cơ quan nhà nước có chức năng để giám định, thẩm định.
- Các cơ quan chức năng có trách nhiệm giám định, thẩm định các mẫu hàng
hoá, ấn phẩm khi các cơ quan kiểm tra, kiểm soát yêu cầu.
* Xử lý hàng giả:
- Tái xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng VTNN giả, hàng kém chất
lượng nhập khẩu đang làm thủ tục Hải quan theo các quyết định của các cơ quan có
thẩm quyền.
- Tổ chức tiêu huỷ theo quy định hiện hành của Nhà nước:
+ VTNN không đảm bảo mức chất lượng tối thiểu gây hại đối với sản xuất
hoặc tính mạng, sức khoẻ người, động vật, thực vật và môi sinh, môi trường.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
16