Phát triển các hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCP chứng khoán Bảo Việt - Pdf 31

Lời mở đầu
Công nghiệp hoá là bớc phát triển tất yếu của mỗi dân tộc mỗi đất nớc
phải trải qua. Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá nền
kinh tế quốc dân ở nớc ta, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề quan trọng.
Trong đó vốn là chìa khoá để thực hiện công nghiệp hoá.
Để công nghiệp hoá với tốc độ nhanh cần có cơ chế chính sách và biện
pháp huy động đợc nhiều vốn nhất và sử dụng vốn có hiệu quả. Một trong
những biện pháp thực hiện huy động mọi nguồn vốn có thể huy động đợc
khơi động mọi nguồn vốn trong nớc, khuyến khích dân chúng tiết kiệm và
thu hút một nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu t, thu hút vốn đầu t từ nớc ngoài, đó
là TTCK.
Đối với chúng ta, đây là vấn đề mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, vì
vậy để có một TTCK hợp lý, đem lại hiệu quả cao đòi hỏi chúng ta có nhận
thức và quan điểm đúng đắn về vấn đề này.
Nhằm góp phần vào lĩnh vực phát triển của TTCK của Việt Nam. Em
chọn chuyên đề tốt nghiệp với đề tài là: Giải pháp phát triển các hoạt
động kinh doanh chứng khoán của CTCP chứng khoán Bảo Việt.
Bố cục chuyên đề gồm 3 Chơng:
Chơng I : Những vấn đề chung về hoạt động của CTCK
Chơng II : Thực trạng hoạt động của CTCK Bảo Việt
Chơng III: Giải pháp nhằm phát triển các hoạt động của
CTCP chứng khoán Bảo Việt
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình
của Cô giáo - ThS. Lê Hơng Lan và các cán bộ phòng Ngiệp vụ I tại CTCP
chứng khoán Bảo Việt đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
1
Chơng I
Những vấn đề chung về hoạt động của
Công ty chứng khoán
1.1. KHáI QUáT Về CTCK
1.1.1. Sự hình thành CTCK

chức giúp cho TTCK hoạt động lành mạnh và có hiệu quả. Từ đó CTCK đợc
hình thành.
Các CTCK ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của TTCK. ở các
nớc có TTCK phát triển CTCK hoạt động rất tấp lập và chính họ là tác nhân
quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của TTCK nói
riêng.
Ngày nay, kể cả các nớc đang phát triển, các CTCK ra đời rầm rộ và
phổ biến, chiếm lĩnh phần lớn các giao dịch chứng khoán trên thị trờng. Nhờ
các CTCK mà các trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu của các CTCP
đợc lu thông, buôn bán với doanh số lớn trên TTCK. Qua đó một lợng vốn
lớn đợc tập trung vào để đầu t từ những lợng vốn nhỏ trong dân chúng, tổ
chức đoàn thể hay doanh nghiệp.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của CTCK
Một CTCK trên thị trờng tuỳ thuộc vào quy định của từng nớc hoặc
khả năng của Công ty mà có thể kinh doanh trên một lĩnh vực nhất định hoặc
có thể kinh doanh trên tất cả các lĩnh vự. Căn cứ vào các nghiệp vụ kinh
doanh và lĩnh vực kinh doanh hoặc tuỳ từng nớc mà tên các Công ty này có
thể là CTCK hoặc Công ty môi giới chứng khoán hay Công ty kinh doanh
chứng khoán
3
Tại Việt Nam theo quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK ngày
13/10/1998 của UBCKNN, CTCK là CTCP, Công ty TNHH thành lập hợp
pháp tại Việt Nam, đợc UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số
loại hình kinh doanh chứng khoán.
Công ty Môi giới chứng khoán: là Công ty thực hiện việc trung gian,
mua bán chứng khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng .
Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán : là CTCK có lĩnh vực hoạt
động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ Bảo lãnh để hởng phí hoặc chênh lệch giá.
Công ty kinh doanh chứng khoán: là CTCK thực hiện nghiệp vụ kinh
doanh, nghĩa là tự bỏ vốn và chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.

- CTCP là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu Công ty là các cổ
đông.
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp.
- CTCP có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra
công chúng theo quy định pháp luật về chứng khoán hiện hành.
Công ty TNHH
- Thành viên của Công ty chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ
và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam
kết góp vào doanh nghiệp.
- Công ty TNHH không đợc phép phát hành Cổ phiếu.
Công ty hợp danh
- Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở nên.
5
- Thành viên của Công ty bao gồm: Thành viên góp vốn và thành viên
hợp danh. Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn
bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty. Các thành viên góp vốn
không tham gia điều hành Công ty, họ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong
phần vốn góp của mình với những khoản nợ của Công ty.
- Công ty hợp danh thông thờng không đợc phép phát hành bất cứ một
loại chứng khoán nào.
Do các u điểm của loại hình CTCP và Công ty TNHH so với Công ty
hợp danh, vì vậy hiện nay chủ yếu các CTCK đợc tổ chức dới hình thức Công
ty TNHH và CTCP.
1.1.3.2. Theo mô hình kinh doanh
Hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh
nghiệp sản xuất thơng mại thông thờng vì CTCK là một định chế tài chính
đặc biệt. Vì vậy, vẫn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK
cũng có những điểm khác nhau và vận dụng cho các khối thị trờng có mức
độ phát triển khác nhau (thị trờng cổ điển; thị trờng mới nổi; thị trờng các n-

lĩnh vực khác và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng đợc thế mạnh về
tài chính, kinh nghiệm, mạng lới khách hàng rộng khắp của Công ty. Bên
cạnh đó, bởi vì có qui định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho
nên hạn chế đợc rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai thị trờng. Đặc
biệt, mô hình này phù hợp với những nớc mới thành lập TTCK, khi mà cần
có các tổ chức tài chính lành mạnh tham gia vào thị trờng và khi hệ thống
luật, kiểm soát còn nhiều mặt hạn chế.
CTCK đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự tách bạch nào
giữa hoạt động Ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, NHTM không những
đợc hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn đợc hoạt động trong lĩnh vực
7
chứng khoán và bảo hiểm. Nó đợc áp dụng ở các nớc Bắc Âu, Hà Lan, Thụy
Sĩ, áo...
Khác với mô hình chuyên doanh, u điểm của mô hình này là Công ty
có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó mà giảm bớt rủi ro cho hoạt
động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu đựng các biến động
của TTCK. Tuy nhiên, mô hình đa năng hoàn toàn có một số hạn chế: TTCK
phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệ thống Ngân hàng dùng vốn để
cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán, do đó Ngân hàng thờng quan tâm đến
lĩnh vực Ngân hàng hơn là lĩnh vực chứng khoán. Điều này đã thể hiện sự
kém phát triển của TTCK Châu Âu so với TTCK Mỹ.
Bên cạnh đó, nó còn có nhợc điểm là trong trờng hợp biến động của
TTCK, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nếu
không có sự tách biệt giữa hai loại hình kinh doanh này, thực tế đã chứng
minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929 -1933, hay vụ phá sản Ngân
hàng Barings của Anh năm 1995. Ngợc lại, trong trờng hợp thị trờng tiền tệ
biến động có thể ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của các
Ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan là một minh
chứng.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của CTCK

1.1.4.2. Nhóm nguyên tắc tài chính.
- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán
báo cáo quy định của UBCKNN. Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết
kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
- CTCK không đợc dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để
kinh doanh, ngoại trừ trờng hợp đó đợc dùng phục vụ cho giao dịch của
khách hàng.
9
- CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản
của mình. CTCK không đợc dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế
chấp vay vốn trừ trờng hợp đợc khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.1.5. vai trò của CTCK
Các CTCK ra đời và phát triển một cách nhanh chóng nh vậy là do
chúng đóng một vai trò rất quan trọng trên TTCK. Để hiểu rõ sự cần thiết của
các CTCK trên TTCK chúng ta xem xét vai trò của các CTCK đối với từng
đối tợng, chủ thể khác nhau trên TTCK.
1.1.5.1. Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động
vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động
đại lý phát hành, Bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy
động vốn phục vụ cho các nhà phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung
gian. Nguyên tắc yêu cầu những nhà đầu t và những nhà phát hành không đ-
ợc mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua
bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả ngời đầu t và nhà phát
hành. Và khi thực hiện công việc này CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn
cho nền kinh tế thông qua TTCK.
1.1.5.2. Đối với các nhà đầu t
Thông qua các hoạt động nh môi giới, t vấn đầu t, quản lý danh mục
đầu t, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng

trờng cấp hai, do thực hiện giao dịch mua và bán, các CTCK giúp ngời đầu t
chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngợc lại. Những hoạt động đó có
thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính.
1.1.5.4. Đối với các cơ quan quản lý thị trờng:
11
Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về thị TTCK cho các cơ quan
quản lý thị trờng để thực hiện mục tiêu đó các CTCK thực hiện đợc vai trò
này bởi vì họ vừa là ngời Bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa
là trung gian mau bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trờng,
do vậy họ nắm đợc tình hình tài chính cũng nh hoạt động kinh doanh của các
tổ chức phát hành nh là các nhà đầu t trên TTCK.
Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải đợc
công khai hoá dới sự giám sát của cơ quan quản lý thị trờng. Việc cung cấp
thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề
nghiệp của các CTCK vì CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt
động. Các thông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao
dịch mua bán trên thị trờng, thông tin về các nhà đầu t...Nhờ các thông tin
này, các cơ quan quản lý thị trờng có thể kiểm soát và chống các hiện tợng
thao túng, lũng đoạn bóp méo thị trờng.
Nh vậy, các CTCK với vai trò có ảnh hởng rộng rãi tới các chủ thể trên
TTCK: Tạo ra cơ chế huy động vốn, cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch,
tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán và góp phần điều tiết bình ổn thị
trờng là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và của TTCK nói riêng, do đó nó có một vị trí quan trọng trên TTCK.
1.2. Các hoạt động của CTCK
1.2.1. Các hoạt động chính
1.2.1.1. Hoạt động Môi giới chứng khoán
Bản chất hoạt động môi giới
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian đại diện mua bán chứng
khoán cho khách hàng để hởng hao hồng. Theo đó CTCK đại diện cho khách

khoản tại CTCK, phải đợc ghi rõ trong hợp đồng giao dịch chứng khoán. Nếu
13
điều này không ghi trong hợp đồng, CTCK không đợc sử dụng chứng khoán
hay số tiền nói trên, mọi việc vi phạm đều sử theo luật định.
+ CTCK phải thông báo kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng chậm
nhất là ngày làm việc kế tiếp ngày thực hiện giao dịch. Nếu thông báo chậm
trễ, CTCK phải chịu trách nhiệm về việc thanh toán và chuyển giao chậm trễ
của khách hàng.
+ Khách hàng có trách nhiệm thanh toán hay chuyển giao số chứng
khoán khi CTCK thực hiện đúng những yêu cầu của khách hàng.
+ Khi muốn sửa đổi hay hủy bỏ lệnh đã đặt, khách hàng phải thông
báo cho CTCK biết để kịp thời điều chỉnh. Trong trờng hợp lệnh đã đợc thực
hiện thì việc sửa đổi hay hủy bỏ sẽ không có giá trị, khách hàng có trách
nhiệm thanh toán hay chuyển giao số chứng khoán đã đợc thực hiện.
+ Khi khách hàng uỷ quyền cho CTCK hay một ngơiì môi giới toàn
quyền sử dụng tài khoản của mình để mua bán chứng khoán, khách hàng
phải làm giấy uỷ quyền cho CTCK hay ngời môi giới đó. Trình tự và thủ tục
theo đúng pháp luật hiện hành và phải có sự đồng ý của CTCK hoặc Ngân
hàng, nơi khách hàng mở tài khoản.
+ Khi nhận đợc thông báo kết quả giao dịch, nếu không đồng ý với kết
quả này, khách hàng phải thông báo cho CTCK tra soát.
+ Mọi thủ tục chuyển nhợng quyền sở hữu chứng khoán từ chủ cũ
sang chủ mới do CTCK liên hệ trực tiếp với Công ty phát hành chứng khoán
hoặc thông qua Trung tâm bảo quản chứng khoán để thực hiện.
+ Mức hoa hồng cho các hoạt động môi giới chứng khoán thờng đợc
tính bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số giao dịch và theo nguyên tắc doanh số
giao dịch càng lớn thì tỷ lệ hoa hồng càng thấp. Mức tối thiểu và tối đa về
hoa hồng cho hoạt động môi giới chứng khoán sẽ do UBCKNN quy định.
Kỹ năng của ngời môi giới chứng khoán thể hiện trên các khía
cạnh sau

Nếu là lệnh bán Công ty sẽ đề nghị khách hàng xuất trình số chứng
khoán muốn bán để kiểm tra trớc khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị phải
ký quỹ một phần số chứng khoán theo một tỷ lệ do UBCKNN quy định.
Nếu là lênh đặt mua, Công ty phải đề nghị khách hàng mức tiền ký
quỹ nhất định trên tài khoản khách hàng ở Công ty. Khoản tiền này thờng
bằng 40% trị giá mua theo lệnh.
Phòng môi giới chứng khoán của Công ty sau khi phân loại các lệnh
mua bán và hoàn tất thủ tục ban đầu thoả thuận với khách hàng nh: Mức ký
quỹ, hoa hồng, lệ phí sẽ thông báo bằng điện thoại, telex hoặc Fax cho th
ký văn phòng đại diện của Công ty có mặt tại quầy giao dịch trong SGDCK
hoặc tại TTCK không tập trung.
+ Bớc 3: Chuyển lênh tới thị trờng phù hợp để thực hiện
Những ngời đại diện có giấy phép của CTCK hoạt động với vai trò
trung gian giữa khách hàng với Công ty. Trớc đây, ngời đại diện gửi tất cả
lệnh mua bán chứng khoán của khách hàng tới bộ phận thực hiện lệnh hoặc
phòng kinh doanh giao dịch của Công ty. ở đây, một th ký sẽ kiểm tra xem
chứng khoán đó đợc mua bán trên thị trờng nào (phi tập trung hay tập trung).
Sau đó ngời th ký sẽ gửi lệnh này tời thị trờng để thực hiện.
Ngày nay, những CTCK có mạng lới thông tin trực tiếp từ các trụ sở
chính và các phòng giao dịch. Vì vậy, các lệnh mua bán chứng khoán không
còn đợc chuyển đến phòng thực hiện lệnh nữa mà đợc chuyển trực tiếp tới
phòng giao dịch của SGDCK.
+ Bớc 4: Xác nhận cho khách hàng
Sau khi lệnh đã đợc thực hiện sau, CTCK gửi cho khách hàng một
phiếu xác nhận đã thi hành xong lệnh.
Thông thờng, các Công ty môi giới chứng khoán gửi xác nhận trong
ngày làm việc hôm sau so với ngày mua bán chứng khoán. Xác nhận này
cũng giống nh một hoá đơn hẹn ngày thanh toán với khách hàng.
16
+ Bớc 5: thanh toán bù trừ giao dịch

thỉnh thoảng lại điều chỉnh cho thích hợp. Các Công ty nhỏ thờng phải chờ
xem những hãng lớn nh Merril Luynch (Mỹ), Nomura (Nhật) cho biết tỷ
suất hoa hồng của họ rồi mới công bố tỷ suất của mình.
Thuế giao dịch chứng khoán
Cũng nh tất cả các loại hình kinh doanh khá, các CTCK phải nộp các
loại thuế đối với hoạt động kinh doanh của mình. Doanh thu chịu thuế sẽ phụ
thuộc vào từng hoạt động mà Công ty thực hiện. Đối với hoạt động môi giới
hay Bảo lãnh, thuế sẽ đợc đánh trên cơ sở tổng mức hoa hồng hay triết khấu
mà Công ty thực hiện. Đối với hoạt động tự doanh, thuế đợc đánh trên mức
lãi vốn, tức là chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán. Ngoài ra,
các CTCK còn phải chịu thuế lợi tức trong trờng hợp Công ty kinh doanh có
lãi.
Tuy nhiên, để khuyến khích mọi ngời tham gia mua Trái phiếu Chính
phủ, các nớc thờng có quy định không đánh thuế lãi vốn hay thuế đối với các
khoản lãi nhận đợc từ việc đầu t vào Trái phiếu Chính phủ.
1.2.1.2. Hoạt động Tự doanh.
Bản chất hoạt động tự doanh
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng
khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của CTCK đợc thực hiện thông
qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trờng OTC. Tại một số thị trờng
vận hành theo cơ chế khớp giá hoạt động tự doanh của CTCK đợc thực hiện
thông qua hoạt động tạo lập thị trờng. Lúc này, CTCK đóng vai trò nhà tạo
lập thị trờng nắm giữ một số chứng khoán nhất định của một số loại chứng
khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hởng chênh
lệch giá.
18
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính
Công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ
này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch
cho khách hàng đồng thời cũng phục cho chính mình, vì vậy trong quá trình

này đảm bạơ công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng
khoán. Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị
trờng nên các CTCK có thể dự đoán trớc đợc diễn biến của thị trờng và sẽ
mua hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên.
+ Góp phần bình ổn thị trờng: Các CTCK hoạt động tự doanh nhằm
góp phầnlàm bình ổn giá cả thị trờng. Trong trờng hợp này, hoạt động tự
doanh đợc tiến hành bắt buộc theo luật định. Luật các CTCK phải dành một
tỷ lệ nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn
thị trờng. Theo đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán bị
giảm và bán ra khi chứng khoán lên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định.
+ Hoạt động tạo thị trờng: Khi đợc phát hành, các chứng khoán mới
cha có thị trờng giao dịch. Để tại thị trờng cho các chứng khoán mới này các
CTCK thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứng khoán, tạo tính
thanh khoản trên thị trờng cấp hai. Trên những TTCK phát triển, các nhà tạo
lập thị trờng sử dụng nghiệp vụ mua và bán chứng khoán trên thị trờng OTC
để tạo thị trờng. Theo đó, họ liên tục có những báo giá để mua hoăc bán
chứng khoán với các nhà kinh doanh chứng khoán khác. Nh vậy họ sẽ duy trì
một thị trờng liên tục với chứng khoán mà họ kinh doanh.
1.2.1.3. Hoạt động Bảo lãnh phát hành.
Bản chất Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra chông
chúng đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK t vấn cho đợt phát
hành và thực hiện Bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây là
20
nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ
doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của CTCK.
Nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng Bảo lãnh(tổ
chức Bảo lãnh) giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trớc khi chào
bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá
chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên TTCK, tổ chức Bảo

hiện phát hành, nếu không huy động đủ thì sẽ huỷ bỏ. Cũng có thể, để cho
việc chào bán có hiệu quả, nhẹ nhàng hơn trong trách nhiệm của ngời Bảo
lãnh, Công ty phát hành yêu cầu phải phát hành đợc một số lợng chứng
khoán tối thiểu nào đó trong tổng số chứng khoán cần phát hành, nếu đạt đơc
số tối thiểu này thì số còn lại sẽ phát hành tiếp, nếu không đạt đợc số tối
thiểu đó thì sẽ huỷ bỏ toàn bộ.
Quy trình Bảo lãnh
+ Lập nghiệp đoàn Bảo lãnh
Lập nghiệp đoàn: Nếu Công ty phát hành là một Công ty nhỏ, giá trị
chứng khoán phát hành không lớn, thì có thể chỉ cần một CTCK đứng ra Bảo
lãnh phát hành. Nhng nếu đó là một Công ty lớn, số chứng khoán phát hành
vợt quá khả năng Bảo lãnh của một CTCK thì một nghiệp đoàn bao gồm một
số CTCK và các tổ chức tài chính sẽ đợc thành lập.
Nghiệp đoàn này có ý nghĩa phân tán rủi ro trong hình thức Bảo lãnh
chắc chắn. Trong nghiệp đoàn, sẽ có một Công ty Bảo lãnh chính hay còn
gọi là ngời quản lý, thờng là ngời khởi đầu cuộc giao dịch này, đứng ra ký
kết và giải quyết các thủ tục giấy tờ với Công ty phát hành. Nó cũng quyết
định CTCK nào sẽ đợc mời tham gia nghiệp đoàn cũng nh sẽ chi trả phí Bảo
lãnh cho các Công ty khác trong nghiệp đoàn.
Nhóm bán: Trong những trờng hợp cần thiết, nghiệp đoàn Bảo lãnh có
thể tổ chức thêm một nhóm bán để giải quyết việc bán chứng khoán nhanh
hơn. Nhóm bán gồm những CTCK không nằm trong nghiệp đoàn Bảo lãnh,
22
họ chỉ giúp bán chứng khoán mà không chịu trách nhiệm về những chứng
khoán không bán đợc. Vì thế, thờng thù lao cho họ ít hơn so với CTCK là
thành viên của nghiệp đoàn.
+ Phân tích, đánh giá chứng khoán
Định giá chứng khoán cho một đơth phát hành mới là một nghệ thuật,
một khoa học. Giá của cổ phiếu cũng nh lãi suất của trái phiếu không đợc
định trớc ngày chứng khoán đợc phép bán ra cho công chúng. Giá thị trờng

công chúng đánh giá và đa ra quyết định mua chứng khoán.
Thờng thì cơ quan quản lý xem xét tính trung thực và hợp lệ của Bản
cáo bạch để chấp thuận cho phép phát hành hay từ chối trong thời hạn 30
ngày.
Trong thời gian này, có thể Công ty Bảo lãnh cùng Công ty Phát hành
sẽ phải cung cấp thêm tài liệu để giải trình các chi tiết cha đủ, cha rõ trong
Bản cáo bạch.
+ Phân phối chứng khoán trên cơ sở phiếu đăng ký
Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết nh phân phát Bản cáo bạch và
phiếu đăng ký mua chứng khoán và đợi khi đăng ký phát hành chứng khoán
có hiệu lực, CTCK (Hoặc nghiệp đoàn Bảo lãnh) sẽ tiến hành phân phối
chứng khoán.
Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán có thể phân phối chứng
khoán ra công chúng bằng các hình thức: Bán riêng cho các tổ chức đầu t tập
thể, nh các quỹ đầu t, quỹ Bảo hiểm, quỹ hu trí , bán trực tiếp cho các cổ
đông hiện thời hay những nhà đầu t có quan hệ với tổ chức phát hành, bán ra
công chúng.
+ Thanh toán
24
Đến đúng ngày theo hợp đồng, Công ty Bảo lãnh phát hành phải giao
tiền cho Công ty phát hành. Số tiền phải giao là giá trị chứng khoán phát
hành trừ đi thù lao cho Công ty Bảo lãnh.
Thù lao cho Công ty Bảo lãnh có thể là một khoản phí đối với hình
thức Bảo lãnh chắc chắn hoặc hoa hồng đối với các hình thức Bảo lãnh khác.
Mức phí Bảo lãnh cao hay thấp tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành
cùng điều kiện thị trờng lúc phát hành, do hai bên thoả thuận nói chung, nếu
đó là đợt phát hành lần đầu thì mức phí và hoa hồng phải cao hơn lần phát
hành bổ sung. Đối với trái phiếu, phí và hoa hồng Bảo lãnh còn tuỳ thuộc vào
lãi suất trái phiếu (Nếu lãi suất cao thì dễ bán, chi phí sẽ thấp và ngợc lại).
Hoa hồng: là một tỷ lệ cố định (%) đối với một loại chứng khoán nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status