Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
1Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
MỤC LỤC
KẾT LUẬN........................................................................................................78
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp sản xuất muốn tồn tại và
phát triển nhất định phải có phương pháp sản xuất kinh doanh phù hợp và hiệu
quả. Một quy luật tất yếu trong nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, do vậy mà
doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để đứng vững và phát triển trên thương
trường, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng với chất lượng ngày càng cao
và giá thành hạ. Đó là mục đích chung của các doanh nghiệp sản xuất và ngành
xây dựng cơ bản nói riêng. Nắm bắt được thời thế trong bối cảnh đất nước đang
chuyển mình trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với nhu cầu cơ sở
hạ tầng, đô thị hoá ngày càng cao. Ngành xây dựng cơ bản luôn luôn không
ngừng phấn đấu để tạo những tài sản cố định cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trong
thời gian hoạt động, ngành xây dựng cơ bản còn thực hiện tràn làn, thiếu tập
trung, công trình dang dở làm thất thoát lớn cần được khắc phục. Trong tình
hình đó, việc đầu tư vốn phải được tăng cường quản lý chặt chẽ trong ngành xây
dựng cơ bản là một điều hết sức cấp bách hiện nay.
Để thực hiện được điều đó, vấn đề trước mặt là cần phải hạch toán đầy đủ,
chính xác vật liệu trong quá tình sản xuất vật chất, bởi vì đây là yếu tố cơ bản
trong quá trình sản xuất, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí và giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp. Chỉ cần một biến động nhỏ về chi phí nguyên vật
liệu cũng ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của
doanh nghiệp. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc tiết kiệm
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
mình còn nhiều hạn chế và thiêu sót. Em rất mong được thầy cô giáo và các cán
bộ trong Công ty chỉ bảo thêm để có điều kiện nâng cao kiến thức của mình
phục vụ cho công tác sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
3Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm nguyên vật liệu
Nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua
ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1.2. Vị trí của nguyên vật liệu đối với quá trình sản xuất.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản
của quá trình sản xuất, là bộ phận cơ bản cấu thành thực thể sản phẩm. Trong
quá trình sản xuất, vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, bị tiêu hao và
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm.
Công tác hạch toán vật liệu ảnh hưởng đến việc tính giá thành nên muốn
tính được chính xác giá thành thì việc tính chi phí nguyên vật liệu phải chính
xác. Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh
doanh đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ vật liệu từ khâu thu mua đến khâu dự trữ,
bảo quản và sử dụng.
Trong khâu thu mua vật liệu phải được quản lý về khối lượng, quy cách,
chủng loại, giá cả, chi phí thu mua, thực hiện thu mua theo đúng tốc độ với thời
gian sản xuất. Bộ phận kế toán tài chính cần phải hạch toán đúng, sử dụng các
chứng từ, hoá đơn rõ ràng đồng thời phải dự toán được sự biến động trên thị
trường. Việc tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, thực hiện đúng chế độ bảo quản vật
liệu, tránh hư hỏng, mất mát. Trong khâu dự trữ, đòi hỏi doanh nghiệp xác định
được mức dự trữ tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình sản xuất được hoạt
động bình thường, không bị gián đoạn.
Sử dụng phải hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các định mức tiêu hao và dự
toán chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất, hạ giá
thành để tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp. Do vậy, cần phải tổ
chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng vật liệu cũng
như khoán chi phí vật liệu cho đơn vị sử dụng.
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
5Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Nhìn chung, quản lý vật liệu từ khâu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng vật
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
6Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Xuất phát từ yêu cầu quản lý vật liệu và từ vai trò và vị trí của kế toán đối
với công tác quản lý kế toán tài chính trong doanh nghiệp sản xuất, vai trò của
kế toán nguyên vật liệu được thể hiện như sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển,
bảo quản, tình hình nhập, xuất và tồn nguyên vật liệu, tính giá thực tế của
nguyên vật liệu đã thu mua và mang về nhập kho nguyên vật liệu, đảm bảo cung
cấp kịp thời, đúng chủng loại cho quá trình sản xuất.
- Áp dụng đúng đắn các phương pháp kỹ thuật hạch toán nguyên vật liệu, hướng
dẫn kiểm tra các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ
hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu (lập chứng từ, luân chuyển chứng từ...) mở
các sổ sách, thẻ kế toán chi tiết, thực hiện hạch toán đúng phương pháp, quy
định nhằm đảm bảo thống nhất trong công tác quản lý kế toán trong phạm vị
ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ, sử dụng vật liệu, kiểm tra
tình hình nhập, xuất, phát hiện và ngăn ngừa các ảnh hưởng xấu xảy ra và đề
xuất các biện pháp xử lý về nguyên vật liệu như: thiếu, thừa, ứ đọng, kém phẩm
chất, mất mát, hư hao. .. tính toán, xác định chính xác số lượng và giá trị nguyên
vật liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất.
- Tham gia kiểm kê, đánh giá nguyên vật liệu theo chế độ mà nhà nước đã quy
định, lập các báo cáo về vật tư, tiến hành phân tích vê tình hình thu mua, dự trữ,
quản lý, sử dụng và bảo quản nguyên vật liệu nhằm phục công tác quản lý
nguyên vật liệu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí nguyên
vật liệu, hạ thấp chi phí sản xuất toàn bộ.
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
-Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu và thiết bị được sử
dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm
cả thiết bị cần lắp, không cân lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt
vào công trình xây dựng cơ bản.
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
8Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
-Phế liệu: là các loại nguyên vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay
thanh lý tài sản, có thể sử dung hay bán ra ngoài.
-Vật liệu khác: Là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên. Các loại
vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra như các loại phế liệu, vật liệu thu hồi
do thanh lý TSCĐ…
Hạch toán theo cách phân loại trên đáp ứng được yêu cầu phản ánh tổng
quát về mặt giá trị đối với mỗi loại nguyên vật liệu. Để đảm bảo thuận tiện,
tránh nhầm lẫn trong công tác quản lý và hạch toán về số lượng, giá trị từng loại
nguyên vật liệu, trên cơ sở cách phân loại này, các doanh nghiệp sẽ chi tiết mỗi
loại nguyên vật liệu trên theo từng nhóm, từng thứ nguyên vật liệu căn cứ vào
đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp.
Ngoài cách phân loại phổ biến trên,các doanh nghiệp có thể phân loại
nguyên vật liệu theo nhiều cách khác nữa. Mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa
riêng và nhằm phục vụ các yêu cầu quản lý khác nhau.
Theo nguồn hình thành nguyên liệu, vật liệu bao gồm:
- Nguyên liệu, vật liệu dùng cho nhu cầu khác như quản lý phân xưởng, quản lý
doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm...
Với cách phân loại này, doanh nghiệp sẽ nắm bắt được tình hình sử dụng
vật liệu tại các bộ phận và cho các nhu cầu khác từ đó điều chỉnh, cân đối cho
phù hợp với kế hoạch sản xuất,tiêu thụ...
1.2.2. Đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là việc dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị
của nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định.
Các loại vật tư thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp, do đó về nguyên tắc
đánh giá vật tư cũng phải tuân thủ nguyên tắc đánh giá hàn tồn kho. Theo chuẩn
mực kế toán Việt Nam số 02 “Hàng tồn kho” hàng tồn kho của doanh nghiệp
dực đánh giá heo giá gốc (trị giá vốn thực tế) và trong trường hợp giá trị thuần
có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể
thực hiện được.
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
10Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Giá trị thuần có thể thực hiện được của vật tư là giá ước tính của vật tư
trong kỳ SXKD bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn chỉnh sản phẩm và
chi phí ước tính phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm.
Giá gốc vật tư được xác định cụ thể cho từng loại, bao gồm: Chi phí mua;
chi phí chế biến và các chi phí khác có liên quan đến việc sở hữu các loại vật tư
Giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho là toàn bộ chi phí mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để có nguyên vật liệu đó. Tuỳ từng nguồn nhập mà giá thực tế
của nguyên vật liệu được đánh giá khác nhau
-
Đối với nguyên vật liệu mua ngoài: Giá gốc của nguyên vật liệu bao
gồm giá mà ghi trên hóa đơn, thuế nhập khẩu phải nộp, thuế tiêu thụ đặc biệt
hàng nhập khẩu phải nộp (nếu có), thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ,
chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, bảo hiểm…, nguyên liệu, vật
liệu từ nơi mua về đến kho của doanh nghiệp, công tác phí của cán bộ thu mua,
chi phí của bộ phận thu mua độc lập, các chi phí khác có liên quan đến việc thu
mua nguyên liệu, vật liệu và số hao hụt tự nhiên trong định mức (nếu có):
+ Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên vật liệu dùng vào sản xuất kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì giá trị
của nguyên liệu, vật liệu mua vào được phản ánh theo giá mua chưa có thuế
GTGT. Thuế GTGT đầu vào khi mua nguyên liệu, vật liệu và thuế GTT đầu vào
của dịch vụ vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, chi phí gia công… được khấu trừ và
hạch toán vào tài khoản 133 – “Thuế GTGT được khấu trừ”.
+ Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên vật liệu dùng vào sản xuất kinh doanh
hàn hóa dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp hoặc không
thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì giá trị của nguyên vật liệu mua vào được
phản ánh theo tổng giá thanh toán bao gôm cả thuế GTGT đầu vào và không
được khấu trừ (nếu có)
+ Đối với nguyên liệu, vật liệu mua bằng ngoại tệ thì phải được đổi ra đồng Việt
Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
NVL xuất gia +
công, chế biến
Chi phí gia
công chế biến
+
Chi
phí
vận
chuyển, bốc dỡ
Đối với nguyên vật liệu doanh nghiệp thuê ngoài gia công, chế biến:
Trị giá thực tế
NVL
thuê
gia
công,
chế
biến
vật liệu nhập kho là giá ghi trong biên bản của đơn vị cấp hoặc được xác định
trên cơ sở giá thị trường của nguyên vật liệu tương đương.
-
Đối với nguyên vật liệu nhập kho từ nguồn phế liệu thu hồi: giá thực tế
nguyên vật liệu nhập kho được đánh giá theo giá trị thực tế nếu còn sử dụng
hoặc đánh giá theo giá ước tính.
* Đánh giá NVL theo giá thực tế xuất kho
Khi xuất kho nguyên vật liệu để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, kế toán phải tính toán, xác định chính xác trị giá thực
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
vận
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
13Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
tế của nguyên vật liệu xuất kho cho các nhu cầu, đối tượng khác nhau nhằm xác
định chi phí hoat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tính giá thực
tế xuất kho có thể áp dụng theo một số phương pháp sau:
Phương pháp giá đích danh
Theo phương pháp này giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho được tính trên
thực tế xuất kho lại được xác định theo đơn giá của lô hàng nhập sớm nhất còn
lại nên không phản ánh sự biến động của giá một cách kịp thời, xa rời thực tế.
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
14Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Vì thế nó thích hợp cho áp dụng cho những nguyên vật liệu có liên quan đến
thời hạn sử dụng
Phương pháp nhập sau - xuất trước
Ở phương pháp này, kế toán cũng phải theo dõi được đơn giá thực tế và
số lượng của từng lô hàng nhập kho. Sau đó khi xuất, căn cứ vào số lượng xuất
kho để tính giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho bằng cách:
Trị giá thực tế
NVL xuất kho
Số lượng NVL
=
xuất kho
Đơn giá thực tế NVL của
Hiện nay, các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong số các loại đơn giá
thực tế bình quân sau:
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
15Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
* Đơn giá bình quân gia truyền cả kỳ:
Đơn
giá
bình quân
Trị giá thực tế NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
=
Lượng NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Cách tính này được xác định sau khi kết thúc kỳ hạch toán, dựa trên số
liệu đánh giá nguyên vật liệu cả kỳ dự trữ. Các lần xuất nguyên vật liệu khi phát
sinh chỉ phản ánh về mặt số lượng mà không phản ánh mặt giá trị. Toàn bộ giá
trị xuất được phản ánh vào cuối kỳ khi có đầy đủ số liệu tổng nhập. Điều đó làm
cho công việc bị dồn lại, ảnh hưởng đến tiến độ quyết toán song cách tinh này
đơn giản, tốn ít công nên được nhiều doanh nghiệp sử dụng đặc biệt là những
nhập
*
trước
Trị giá thực tế NVL
khi nhập
nhập
kho
nhập thực tế
Lượng tồn trước khi nhập
+
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
lượng
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
16Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
17Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế tiến
hành theo hai bước sau:
* Bước 1:Xác định hệ số giữa giá hạch toán và giá thực tế
Hệ
số
Trị giá t.tế NVL tồn đầu kỳ + Trị giá t.tế NVL nhập t.kỳ
chênh lệch =
(H)
Trị giá HT NVL tồn đkỳ + Trị giá HT NVL nhập t.kỳ
*Bước 2: Tính giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho dựa vào giá hạch toán xuất
kho và hệ số giá vừa tính được
Trị giá thực tế NVL xuất kho = Trị giá hạch toán NVL xuất kho * H
Trong quá trình sản xuất tuỳ thuộc vào đặc điểm của nguyên vật liệu, yêu
cầu và trình độ quản trị của doanh nghiệp mà hệ số chênh lệch của nguyên vật
liệu có thể tính riêng cho từng thứ, từng nhóm hoặc từng loại nguyên vật liệu.
và phòng kế toán trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất. Muốn vậy, các doanh
nghiệp phải tiến hành tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết trên
cơ sở lựa chọn và sử dụng phương pháp kế toán chi tiết NVL cho phù hợp nhằm
tăng cường công tác quản lý doanh nghiệp
1.3.2. Chứng từ kế toán sử dụng:
- Phiếu nhập kho – Mẫu 01 – VT
- Phiếu xuất kho – Mẫu 02 – VT
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa – Mẫu 03 – VT
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ - Mẫu 04 – VT
- Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa – Mẫu 05 – VT
- Bảng kê mua hàng – Mẫu 06 – VT
Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ - Mẫu 07 – VT
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
19Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Hiện nay, các doanh nghiệp thường hạch toán chi tiết vật tư theo một
trong 3 phương pháp chủ yếu, đó là phương pháp mở thẻ song song, phương
pháp số dư và phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển.
Phương pháp mở thẻ song song
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp đúng giá mua
thực tế để ghi chép kế toán vật tư tồn kho. Theo phương pháp giá này, ở phòng
kế toán mở thẻ chi tiết cho từng loại hay từng thứ vật tư và theo từng địa điểm
Sổ
kế toán
TH
về
NVL
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
20Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Theo phương pháp này, công việc giữa kho và phòng kế toán diễn ra như
sau:
- Tại kho: Giống như phương pháp thẻ song song, thủ kho mở thẻ kho để theo
dõi tình hình biến động từng thứ NVL theo số lượng
- Tại phòng kế toán: Định kỳ sau khi nhận được chứng từ nhập, xuất kho của
thủ kho, kế toán kiểm tra và mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép về số
lượng và giá trị của từng thứ vật liệu ở từng kho. Sổ đối chiếu luân chuyển
không ghi theo từng chứng từ, xuất kho mà chỉ ghi một lần vào cuối tháng, mỗi
danh điểm vật liệu ghi một dòng.
Sơ đồ kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân
chuyển
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
21Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
Phương pháp sổ số dư
Khác với hai phương pháp trên, phương pháp này yêu cầu phòng kế toán
theo dõi và phản ánh từng thứ vật liệu về chỉ tiêu giá trị còn thủ kho vẫn quản lý
về số lượng.
Tại kho: hàng ngày hoặc định kỳ sau khi thẻ kho xong, thủ kho tập hợp
-
toàn bộ chứng từ nhập, xuất kho phát sinh trong ngày, trong kỳ và phân loại theo
từng nhóm như quy định, sau đó lập một bản chứng từ nhập và một bản chứng
từ xuất.
-
Tại phòng kế toán: khi nhận được các chứng từ nhập, xuất và phiếu giao
nhận chứng do nhân viên phụ trách kho chuyển lên, kế toán NVL lập bảng luỹ
Sổ số dư
Phiếu GNCTX
Bảng LKN
Báo cáo TH
nhập, xuất,
tồn
Sổ
kế
toán
TH về
NVL
Bảng LKX
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
1.4. KẾ TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU
Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu là việc ghi chép sự biến động về mặt giá
trị của nguyên vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp. Tuỳ vào tình hình thực tế
mà có thể lựa chọn một trong hai phương pháp kế toán tổng hợp:
1.4.1.Hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường
xuyên là phương pháp ghi chép, phản ánh thường xuyên, liên tục và có hệ thống
TK 151 “ Hàng mua đang đi đường”
TK 331 “ Phải trả người bán”
TK 621 “ Chi phí NVL trực tiếp”
Và một số tài khoản khác có liên quan như: TK 111, TK 112, TK 141, TK
627, TK 642, TK 133...
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
24Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
1.4.1.2. Trình tự kế toán nhập xuất kho Sơ đô hạch toán:
TK111,112,331
TK152
TK621
Nhập kho NVL mua ngoài
Xuất dùng trực tiếp cho sản xuất
Chế tạo sản phẩm
Thuế nhập khẩu tính vào trị giá
Vật liệu nhập kho
TK411
TK627,641,642,241
TK128,122
TK336
TK632,157
TK154
TK1381,412
TK331,111
TK412,711,338
Chênh lệch tăng do đánh giá
1
lại NVL thừa sau kiểm kê
Hoàng Thị Hà Tuyên
CĐ KT14 –K12
Chuyên đề thực tập
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
25Khoa Kế Toán -Kiểm Toán
1.4.13. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kiểm kê định kỳ là phương
pháp theo dõi phản ánh không thương xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất NVL