Vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc việt nam hiện nay - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
-------------------------

BẠCH THỊ THANH NHÀN

VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM HIỆN NAY
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

HÀ NỘI - 2012


Khóa luận tốt nghiệp

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------------

BẠCH THỊ THANH NHÀN

VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM HIỆN NAY
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S. LÊ THỊ MINH THẢO

HÀ NỘI - 2012


Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận là kết quả
nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn tận tình của Th.S Lê Thị
Minh Thảo, không trùng với kết quả của các công trình nghiên cứu khác.
Nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên thực hiện
Bạch Thị Thanh Nhàn

Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………

1

2.Tình hình nghiên cứ đề tài……………………………………………..

2

3. Mục đích và hiệm vụ nghiên cứu của đề tài…………………………..

4

6

1.1.3. Khái niệm dân tộc………………………………………………..

9

1.1.4. Khái niệm bản sắc văn hoá dân tộc…………………………… 10
1.2. Cơ sở hình thành bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam………………. 14
1.2.1. Hoàn cảnh địa lý tự nhiên………………………………………

14

1.2.2. Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm để khẳng định nền độc
lập tự chủ và vị thế của dân tộc Việt Nam…………………………………... 16
1.2.3. Việt Nam có một nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước… 18
1.2.4. Mối quan hệ giữa Nước – Làng – Nhà………………………… 21
1.2.5. Chủ nghĩa Mác – Lênin du nhập vào Việt Nam và Việt Nam
lựa chọn con đường phát tiển chủ nghĩa xã hội……………………………. 24
1.3. Vai trò của việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.. 27
Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp
1.3.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, là cơ sở củng cố ý thức tự
tôn dân tộc và là nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững……………

27


Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam thì
hơn một nghìn năm chúng ta phải đấu tranh chống các triều đại phong kiến
phương Bắc đô hộ, hơn một nghìn năm chúng ta sống trong vòng cương toả
của người Hán, đương đầu với mưu đồ Hán hoá; vậy mà con cháu vua Hùng
vẫn là người Việt chứ không trở thành một cộng đồng người Hán phía nam.
Văn hoá Trung Hoa từng là một trung tâm văn hoá lớn của thế giới, có sức toả
sáng và ảnh hưởng rộng rãi trong khu vực; tưởng đâu dễ dàng nuốt trọn nền
văn hoá Việt Nam khiêm nhường, vậy mà điều đó đã không xảy ra. Thời pháp
thuộc cũng vậy, văn hoá Việt Nam có sức tự vệ tuyệt vời, có sức kháng cự
mạnh mẽ và bền bỉ để đến hôm nay chúng ta có thể nói nền văn hoá Việt Nam
như tài sản thiêng liêng của dân tộc. Có được điều đó chính là vì bản sắc văn
hoá dân tộc Việt Nam rất đậm nét, rất độc đáo, không dễ trộn lẫn hoặc hoà
tan.
Vậy nếu nói văn hoá là nền tảng tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm
cao và chiều sâu về trình độ phát triển của nhân loại nói chung và của từng
dân tộc nói riêng, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp trong quan hệ giữa người
với người, có ý nghĩa sống còn đối với một dân tộc; thì một nền văn hoá có
bản sắc văn hoá dân tộc đậm nét, càng độc đáo sẽ càng có bản lĩnh, càng bền
vững và càng có điều kiện phát triển; hay nói cách khác chính bản sắc văn hoá
là cái chống đỡ lại những tấn công bên ngoài để bảo vệ một dân tộc.
Hiện nay, trong xu thế mở cửa, giao lưu, hội nhập văn hoá ngày càng
trở nên sâu rộng bản sắc văn hoá Việt Nam đang phải đối mặt với những
thách thức liên quan đến sự sống còn của dân tộc, đó là: Dưới sự tác động của
Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp
quá trình toàn cầu hoá kinh tế, mặt trái của kinh tế thị trường, sự chống phá

Khóa luận tốt nghiệp
- Cuốn “Bản sắc văn hoá dân tộc” của Tiến sĩ Hồ Bá Thâm. Trong tác
phẩm tác giả đã nói đến bản sắc và động lực phát triển của văn hoá, chỉ ra tình
hình văn hoá trong thách thức của kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hiện đại
hoá.
- Cuốn “Bản sắc văn hoá Việt Nam” của Giáo sư Phan Ngọc. Tác giả
đã bình luận vấn đề văn hoá và bản sắc văn hoá Việt Nam ở nhiều góc độ, so
sánh sự khác nhau giữa văn hoá Trung Quốc với văn hoá Việt Nam, chỉ ra bề
dày của văn hoá Việt Nam và bản sắc của văn hoá Việt Nam trong giao lưu
văn hoá.
- Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm với cuốn: “Tìm hiểu bản sắc
văn hoá Việt Nam” đã trình bày một cách toàn diện, xúc tích về văn hoá Việt
Nam trên các phương diện: Văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức cộng đồng,
văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hoá ứng xử với môi trường xã
hội.
- Cuốn “Việt Nam văn hoá sử cương” của Giáo sư Đào Duy Anh. Tác
giả đã tham khảo lý luận văn hoá của thế giới để hình thành hệ thống vấn đề
cho công trình nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, …
Như vậy, qua các công trình nêu trên, các tác giả, các học giả Việt Nam
đã đề cập và nghiên cứu đến văn hoá dân tộc, bản sắc văn hoá dân tộc, sự giao
thoa văn hoá Việt Nam với các loại văn hoá khác. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào đề cập đến vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt
Nam hiện nay. Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu đó tôi chọn đề
tài này làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Hy vọng với sự cố gắng của bản
thân và sự hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên, khoá luận tốt nghiệp có thể
đưa ra đôi điều nhỏ bé đóng góp vào công trình xây dựng, gìn giữ bản sắc văn
hoá dân tộc Việt Nam hiện nay.
Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra khóa
luận còn sử dụng một số phương pháp khác: phương pháp phân tích – tổng
hợp; phương pháp lịch sử; hệ thống hoá; khái quát hoá, …
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Khoá luận làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài: Bản sắc
văn hoá dân tộc Việt Nam hiện nay.
- Khoá luận có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong việc tìm
hiểu và nghiên cứu vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt
Nam.
7. Kết cấu cuả khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 2 chương và 6 tiết.

Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

cuộc sống. Người Trung Hoa hay nói “văn trị” để đối lập với “võ trị” tức
muốn nói đến vai trò của văn hoá trong chính trị.
Ở Phương Tây người đầu tiên sử dụng thuật ngữ văn hoá trong khoa
học là pufơdóc (người Đức năm 1774) với hàm nghĩa văn hoá là toàn bộ
những gì do hoạt động xã hội của con người sáng tạo ra và ông nêu lên quan
điểm: văn hoá là cái đối lâp với tự nhiên. Khoa học về văn hoá thực sự được
khai sinh ở Đức, sau đó là ở Anh và Mỹ trong thế kỷ XIX.
Khởi nguồn quan niệm Mác-xít về văn hoá là quan điểm của C.Mác và
Ph.Ăngghen xem văn hoá như là hình thức biểu hiện và là kết quả của hoạt
động của con người. Theo quan niệm của C.Mác văn hoá là toàn bộ những
thành tựu được tạo ra nhờ hoạt động sáng tạo của con người – hoạt động sản
xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con người. “Văn hoá là
thiên nhiên thứ hai” thiên nhiên được con người cải biến. Văn hoá là “tác
phẩm của con người”, là phương thức hoạt động sống của con người –
“phương thức” mà con người “xây dựng” thế giới tự nhiên cho mình “theo
quy luật của cái đẹp”. Trong “Bản thảo kinh tế - triết học” (1844) C.Mác viết:
“Việc tạo ra một cách thực tiễn ra thế giới vật chất, việc cải tạo thế giới tự
nhiên vô cơ là sự tự khẳng định của con người với tư cách là một sinh vật có
tính loài có ý thức (…) Nhờ sự sản xuất đó, thế giới tự nhiên biểu hiện ra là
tác phẩm của nó (con người) và thực tại của nó”.
C.Mác cho rằng, văn hoá xuất hiện trong quá trình hoạt động thực tiễn
của con người, trong đó hoạt động đặc trưng cơ bản nhất là lao động sản xuất
và cải tạo xã hội. Tức là văn hoá xã hội trong mối tương tác giữa con người
Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp
với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân chủ thể văn hoá là con người,

Khóa luận tốt nghiệp
“văn hoá là gì”, Đào Duy Anh đưa ra định nghĩa “Văn hoá là giá trị biểu hiện
cuộc sống sinh hoạt mạnh mẽ của loài người trong cả phương diện vật chất,
tinh thần và xã hội”. Nó bao gồm: hình thái kinh tế, hình thái chính trị, pháp
luật, binh chế, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học nghệ thuật, triết học,
phong tục, lễ nghi, tôn giáo, … Trong thế kỷ XX các nhà nghiên cứu văn hoá
Việt Nam đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn hoá khác.
Tử điển Bách khoa Việt Nam, tập 4, xuất bản năm 2005 cho rằng văn
hoá là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một
nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước (…) văn hoá biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan
niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, trong
tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện trong lý tưởng thẩm mỹ. Có thể
tìm thấy những biểu hiện của văn hoá trong các phương thức và công cụ sản
xuất, phương thức sở hữu, các thể chế xã hội, phong tục tập quán, giao tiếp
giữa người với người, trong trình độ học vấn và khoa học kỹ thật, trong trình
độ sáng tạo và thưởng thức văn học nghệ thuật.
Cùng với cách nhìn mở rộng về văn hoá, Hồ Chí Minh đã nêu lên một
khái niêm về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày
về ăn, mặc, ở, và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo phát minh
đó, tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu
cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [22, tr.431].
1.1.3. Khái niệm dân tộc

Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp
* Bản sắc văn hoá dân tộc
Bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống những đặc tính bên trong, những
sắc thái riêng có tính gốc nguồn gắn với những đặc tính của chủ thể, trở thành
cội nguồn, khuôn mặt, nền tảng, bản thể của một nền văn hoá; là căn cước, là
chứng minh thư của văn hoá bất kì dân tộc nào. Nó chính là cái để phân biệt
văn hoá dân tộc này với văn hoá dân tộc khác, khiến cho văn hoá của dân tộc
này không trở thành “cái bóng” của dân tộc khác và ngược lại.
Vấn dề bản sắc văn hoá dân tộc cho đến nay vẫn là vấn đề mở. Nó đang
được tiếp cận từ nhiều khoa học, nhiều góc độ. Một tiếp cận đáng lưu ý, xem
xét vấn đề theo khuynh hướng cho rằng bản sắc văn hoá dân tộc là sự tổng
hoà các khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hoá của một dân tộc, là mối
liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng (văn hoá dân tộc) với cái
chung (văn hoá khu vực và văn hoá nhân loại, …). Nhiều người tiếp cận bản
sắc văn hoá dân tộc từ phía chức năng văn hoá, giá trị văn hoá, … Dù từ
nhiều góc độ nào thì đó cũng là cuộc hành trình đi tìm những nét riêng, bền
vững, căn cốt của một nền văn hoá.
Bản sắc văn hoá dân tộc là một hiện tượng phức tạp, biểu hiện phong
phú đa dạng. Để có nhận thức đầy đủ hơn thì ngoài việc định nghĩa, còn có
thể sử dụng phương pháp phân tích kết cấu của bản sắc văn hoá dân tộc qua
mô hình cấu trúc phương thức biểu hiện của nó (theo chiều dọc và chiều
ngang)

Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP

2 nó được biểu hiện có tính cụ thể, đa dạng, phong phú và biến đổi hơn.
Tầng diện 3 – Ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán, lễ nghi, kiến
trúc, kho tàng văn học nghệ thuật dân gian, …là những biểu hiện vô cùng
phong phú và đa dạng, nó phản ánh sự tiếp nối của lịch sử dân tộc; mặt khác
nó là cái hiện hữu cụ thể trong đời sống dân tộc đang được diễn ra. Tính cụ
thể, biến đổi, phong phú, đa dạng thể hiện rõ nét ở tầng diện này, bởi nó chịu
tác động trực tiếp, mạnh mẽ của nhiều yếu tố khách quan như sự thay đổi về
kinh tế xã hội và môi trường tự nhiên. Nếu ở tầng diện sâu hơn có tính ổn
định hơn và chịu sự tác động mạnh hơn của các yếu tố chủ quan thì ở tầng
diện này, nó có tính biến đổi nhiều hơn và chịu sự tác động mạnh hơn của
những yếu tố khách quan.Có thể diễn đạt rõ hơn sự biến đổi của bản sắc văn
hoá dân tộc qua mô hình cấu trúc, phương thức biểu hiện của bản sắc văn hoá
dân tộc theo chiều ngang (H2).

Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp

Hình 2. Cấu trúc phương thức biểu hiện của bản sắc văn hoá (chiều ngang).
Việc mô hình hoá kết cấu bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện qua 3 tầng
diện biểu hiện theo chiều dọc và ngang làm rõ bản chất, xu hướng biến đổi
của nó trong lịch sử; từ đó nhận thức đúng đắn trong quá trình gìn giữ và phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc. Tuy nhiên đó mới chỉ làm sáng tỏ hơn về mặt
khái niệm và kết cấu bản sắc văn hoá dân tộc.
* Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Bản sắc văn hoá dân tộc là cái đảm bảo cho dân tộc Việt Nam tồn tại
và đứng vững cho đến ngày hôm nay trải qua những biến động lịch sử. Thực

… đều là những vùng đồng bằng màu mỡ, phù sa. Đặc trưng tiêu biểu của
vùng này là sự chênh lệch khá lớn giữa bình nguyên và núi rừng, sự chênh
lệch tương đối nhỏ giữa bình nguyên và mặt biển. Chính nét đặc trưng này
cùng với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và có gió mùa là cơ sở thuận
lợi cho việc phát sinh nghề nông trồng lúa nước từ rất sớm với văn hoá Hoà
Bình, văn hoá Bắc Sơn.

Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp
Việt Nam “nằm giữa Đông Nam Á” (lục địa hải đảo), “là ngã tư đường
của các cư dân và các nền văn minh”. Việt Nam – bán đảo Đông Dương là
đầu cầu để mở Đông Nam Á từ hướng Ấn Độ và Trung Quốc. Do vậy, Việt
Nam trở thành điểm quan tâm của nhiều thế lực ngoại xâm. Lịch sử dân tộc là
lịch sử của một chuỗi dài những cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân
dân ta; điều đó đã in dấu ấn vào tính cách con người Việt Nam.
Việt Nam nằm ở vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và có hai mùa rõ
rệt. Địa hình Việt Nam trải dài (khoảng 15 vĩ độ); núi rừng chiếm 2/3 diện
tích, sông ngòi nhiều và phân bố đều khắp. Đồng bằng chỉ chiếm một tỷ lệ
khiêm tốn (chưa đến 1/3 diện tích). Ngoài ra bao quanh hướng đông và nam là
bờ biển khoảng hơn 2000km. Tây và bắc bị chắn bởi núi rừng, trong đó quan
trọng nhất là dãy núi Hoàng Liên Sơn và dãy Trường Sơn. Cũng vì vậy mà
việc phân bố hệ thống động vật cũng như tập quán canh tác dân tộc Việt Nam
khá tiêu biểu và đặc thù.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với tổng số 54 dân tộc. Dân tộc
Việt (Kinh) chiếm 87% dân số, sống tập trung chủ yếu trong vùng châu thổ
sông Hồng, các đồng bằng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long

đến Âu Lạc thời An Dương Vương nạn ngoại xâm đã xuất hiện và trở thành
mối đe doạ nguy hiểm đối với vận mạng của nước ta. Bằng sức lao động sáng
tạo và đấu tranh kiên cường, bền bỉ, người Việt đã xây dựng được một đất
nước phát triển với nhiều thành tựu kinh tế và văn hoá làm nền tảng cho một
nền văn minh bản địa đậm đà bản sắc dân tộc. Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp
trồng lúa nước và kết cấu xóm làng bền chặt cư dân Văn Lang – Âu Lạc tiến
hành khai hoang, làm thuỷ lợi, chống ngại xâm và các hoạt động khác. Cũng
từ đó người Việt bấy giờ đã định hình cho mình một lối sống, cách ứng xử,
Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Khóa luận tốt nghiệp
tâm lý, tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật toát lên những đặc điểm của đời sống
văn hoá vật chất và tinh thần đặc sắc.
Năm 179 (tr.CN) nước Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu mở đầu
một thời kỳ đen tối đầy đau thương và uất hận trong lịch sử nước ta, đây được
gọi là thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc. Thời kỳ này kéo dài từ năm 179
(tr.CN) đến năm 905 với cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ, lật đổ nền đô hộ
của nhà Đường giành lại độc lập, tự chủ của nhân dân ta, thời Bắc thuộc mới
chấm dứt hoàn toàn. Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc các triều đại
phong kiến phương Bắc như Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương,
Tuỳ, Đường kế tiếp nhau đô hộ nước ta. Bằng những âm mưu và thủ đoạn
thâm độc kẻ đô hộ không chỉ dừng lại ở việc cướp bóc mà chúng còn rắp tâm
xoá bỏ độc lập, chủ quyền của nhân dân ta, ráo riết thực hiện chính sách đồng
hoá nhằm Hán hoá Việt tộc. Những gì là cơ sở tồn tại, là sức mạnh tinh thần
để phục hồi Quốc gia, Quốc thể từ lãnh thổ, tiếng nói, phong tục tập quán, lối
sống, ý thức tư tuởng của dân tộc ta đều bị chúng dùng trăm phương ngàn kế
huỷ diệt. Song cũng chính trong thời kỳ này nhân dân ta đã liên tục vùng lên

lịch sử, xã hội. Văn hoá Việt Nam cũng có những đặc điểm khác biệt so với
những thời kỳ lịch sử trước, tuy nhiên bản sắc văn hoá dân tộc thì vẫn được
gìn giữ và lưu truyền.
1.2.3. Việt Nam có một nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta
được cả thế giới tôn vinh có truyền thống anh hùng hàng đầu chống ngọai
xâm bảo vệ tổ quốc và có nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước. Hai yếu tố
này đã góp phần tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới nắng lắm mưa nhiều, thảm thực
vật dễ dàng sinh sôi phát triển, đã khiến người Việt sớm hướng về nền văn
hóa thực vật, hình thành một nghề nuôi sống con người là nghề nông nghiệp
sơ khai củ, quả, tiến lên nghề nông nghiệp lúa nước, dùng muối rồi khẳng
Bạch Thị Thanh Nhàn

K34: GDCD - GDQP


Trích đoạn Vai trò của việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status