Vận dụng linh hoạt phương pháp đường chéo để giải các bài tập hóa học - Pdf 31

MỤC LỤC

Nội dung

Trang

A. Mở đầu ............................................................... 2
B. Nội dung ............................................................. 4
I. Nội dung của phương pháp............................. 4
II. Vận dụng linh hoạt phương pháp đường chéo trong
một số dạng bài tập cụ thể ............................... 7
III. Đánh giá phương pháp đường chéo ............. 11
IV. Kết quả đạt được ........................................ 12
C. Kết luận ............................................................. 13
Tài liệu tham khảo................................................ 14

1


A. MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hóa học là môn Khoa học tự nhiên, vì vậy bài tập hóa học giữ vai trò quan trọng.
Thông qua việc giải bài tập, học sinh được củng cố, khắc sâu kiến thức, đồng thời bài tập
hóa học còn giúp học sinh rèn luyện tính tích cực, chủ động, trí thông minh, sáng tạo và
tạo không khí sôi nổi, hứng thú trong học tập.
Hiện nay, khi hình thức thi chuyển từ tự luận sang trắc nghiệm, thì các phương pháp
giải toán nhanh được quan tâm và chú trọng rất nhiều. Việc dạy các phương pháp giải toán
có một ý nghĩa rất quan trọng với học sinh. Mỗi bài tập có thể có nhiều phương pháp giải
khác nhau, nhưng cần lựa chọn phương pháp hợp lý, tối ưu nhất để giải quyết.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, phương pháp đường chéo là một phương pháp khá

1. Kế hoạch nghiên cứu:
- Đề tài được nghiên cứu trong năm học 2010-2011.
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Học sinh trường THPT Lũng Vân.

3


B. NỘI DUNG
I/ NỘI DUNG CỦA PHƯƠNG PHÁP

1. Nguyên tắc: Trộn lẫn hai dung dịch.
Dung dịch 1: có khối lượng m1, thể tích V1, nồng độ C1 (C% hoặc CM), khối lượng
riêng d1.
Dung dịch 2: có khối lượng m2, thể tích V2, nồng độ C2 (C2>C1), khối lượng riêng d2.
Dung dịch thu được có m = m1 + m2, V = V1 + V2, nồng độ C (C1
C2

|C1 – C|

c. Đối với khối lượng riêng:
m1

d1

|d2 – d|
C

m2

d2

|d1 – d|

* Chú ý:
 Chất rắn coi như dung dịch có C = 100%
 Dung môi coi như dung dịch có C = 0%

4


 Khối lượng riêng của H2O là d = 1 g/ml
2. Ví dụ minh họa
Dạng bài pha chế dung dịch là dạng bài cơ bản nhất ta có thể chia thành các trường
hợp sau:
a. Trường hợp 1: Pha dung dịch với dung dịch

V1

1,26

0,1



1,16
V2

1,06

V1 0,1
=
=1  V1 =V2  V1 = V2 = 500 ml  A
V2 0,1

0,1

b. Trường hợp 2: Pha dung dịch với nước
Ta áp dụng công thức và chú ý CH 2O  0 %
Ví dụ: Cần cho số gam H2O vào 100ml dung dịch H2SO4 90% để được dung dịch H2SO4
50% là:
A. 90 g

B. 80 g

C. 60 g



B. 20,0

C. 31,8

D. 40,0

Giải
Phản ứng hòa tan: Na2O + H2O  2NaOH
Ta coi Na2O nguyên chất như dung dịch NaOH có C 
m

Na2O

129

39

1

78

2

80.100
 129%
62

51
40 NaOH

250

C% =

Gọi m là khối lượng của CuSO4.5H2O thì khối lượng của CuSO4 8% là 280 - m
Ta có:
m

64

8

m
8
1
=
=
280  m 48 6

16
280-m

8

48

Vậy : m = 40 (gam)
Khối lượng của CuSO4 8% là: 280 - 40  240 (gam)

 Đáp án là D.

 27

1,46

 73

63,54
63
( 29
Cu )

Vậy

63

63
% 65
29 Cu = 27% và % 29 Cu = 73%

7


2. Dạng 2: Tính tỉ lệ mol các chất trong hỗn hợp
Đây là dạng toán phổ biến và hay gặp trong các đề thi TSCĐ-ĐH. Trong đó phương
pháp đường chéo được sử dụng ở một khâu của bài tập.
* Ví dụ 1 (Câu 30 mã 175 – TSĐH khối A – năm 2009):
Hỗn hợp khí X gồm anken M và ankin N có cùng số nguyên tử cacbon trong phân
tử. Hỗn hợp X có khối lượng 12,4 g và thể tích 6,72 l (đktc). Số mol, công thức phân tử
của M và N lần lượt là:
A. 0,1 mol C2H4 và 0,2 mol C2H2

C3H4

40

1

0,07

* Ví dụ 2 (Câu 37 mã 475 - TSĐH khối B – 2009):
Điện phân nóng chảy Al2O3 với anot bằng than chì (H = 100%) thu được m kg Al ở
catot và 67,2 m3 (đktc) hỗn hợp khí X có tỷ khối so với H2 bằng 16. Lấy 2,24 lít (đktc) hỗn
hợp khí X sục vào dung dịch nước vôi trong dư thu được 2 g kết tủa. Giá trị của m là:
A. 67,5

B. 54

C. 75,6

Giải

M  32  hỗn hợp phải có CO (M = 28)

nCO2  0,02  nCO  nO2  0,1  0,02  0,08

8

D. 108


44

 
CO 3 0,06

3

C + O2  CO2
0,02

2C + O2  2CO

0,02

0,03

0,06

Do đó: nO2  0,02  0,03  0,02  0,07
Theo PTHH: 2Al2O3  4Al + 3O2
Suy ra: n Al 

0,07.4 67,2
x
 2,8 Kmol hay 75,6 kg
3
2,24

Đáp án C
3. Dạng 3: Tính khối lượng muối thu được trong phản ứng giữa đơn bazơ và đa axit
* Ví dụ 1 (Bài 6 -SGK Hóa 11 – trang 75):
Nung 52,65 gam CaCO3 ở 10000C và cho toàn bộ lượng khí thoát ra hấp thụ hết vào


Mà: nNaHCO3  nNa2CO3  nCO2  0,5
Vậy: nNaHCO3  0,1  mNaHCO3  0,1.69  6,9 (g)

nNa2CO3  0,4  mNa2CO3  0,4.91  36,4 (g)
* Ví dụ 2 (Câu 4 mã 175 – TSĐH khối A – 2009):
Cho 0,448 lít khí CO2 (đktc) hấp thụ hết vào 10 ml dung dịch chứa hỗn hợp NaOH
0,06M và Ba(OH)2 0,12M, thu được m gam kết tủa. Giá trị của m là:
A. 1,182

B. 3,940

C. 1,970

D. 2,364

Giải

 nCO2  0,02
0,03
n
 1,5  tạo ra hai loại muối.

n

0,03
0,02

 OH



C. 3,81 g Na2CO3 và 2,67 g K2CO3

D. 4,27 g Na2CO3 và 3,82 g K2CO3

Giải
Cứ 1 mol hỗn hợp phản ứng thì m tăng: 96 – 60 = 36 gam
0,05 mol

m tăng: 7,74 – 5,94 = 1,8 gam

10


M
K2CO3

5,94
 118,8
0,05

138

12,8

2

19,2

3


48,8
C3H7OH

60

Vậy: n C2H5OH = 0,2  %C2 H 5OH = 75,4%  %C3H7 OH = 24,6%
III/ ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP ĐƯỜNG CHÉO

- Đây là một phương pháp giúp giải nhanh các bài toán hóa học, có nhiều ưu điểm
và là công cụ hỗ trợ đắc lực cho phương pháp trung bình.
- Phương pháp đường chéo có thể áp dụng hiệu quả cho nhiều dạng bài tập khác
nhau, quan trọng hơn cả là dạng bài tập pha chế dung dịch và tính thành phần hỗn hợp.
- Phương pháp đường chéo thường được sử dụng kết hợp với phương pháp trung
bình và phương pháp bảo toàn nguyên tố. Với hỗn hợp phức tạp có thể sử dụng kết hợp
nhiều đường chéo.

11


- Khi làm bài tập ta có thể không cần viết sơ đồ đường chéo để rút ngắn thời gian
làm bài.
- Nhược điểm của phương pháp này là không áp dụng được cho những bài toán
trong đó có xảy ra phản ứng giữa các chất tan với nhau, không áp dụng được với trường
hợp tính toán pH.
IV/ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

- Qua một năm áp dụng phương pháp đường chéo, tôi nhận thấy:
+ Học sinh đã nắm vững và hiểu đúng về phương pháp đường chéo.
+ Một số học sinh đã áp dụng thành thạo và vận dụng linh hoạt hơn.


6,25%

Nhóm 2

18,75%

25,0%

31,25%

18,75%

6,25%

12


C. KẾT LUẬN

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi nhận thấy, vận dụng linh hoạt phương pháp
đường chéo để giải bài tập hóa học là một lợi thế lớn đối với học sinh. Vì đây là một
phương pháp tương đối đơn giản, dễ hiểu nhưng hiệu quả lại cao, tốc độ tính toán nhanh,
phù hợp với xu hướng thi trắc nghiệm hiện nay.
Tuy nhiên, để làm được điều này, bên cạnh việc nắm vững phương pháp, học sinh
cần có tư duy hoá học, nắm vững bản chất hóa học, các hiện tượng hóa học, kĩ năng tính
toán tốt, biết phân tích, so sánh….Điều này đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn
và nghiệp vụ sư phạm cao và luôn luôn không ngừng học hỏi.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong
nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp để đề tài thêm đầy đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status