Khóa luận: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý và xử lý rác thải tại khu du lịch biển phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”. - Pdf 31

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề chung của nhân loại được cả thế
giới quan tâm. Trong một vài năm gần đây do sự phát triển mạnh mẽ của nền
kinh tế làm cho môi trường Việt Nam bị đe dọa, gây nên mất cân bằng sinh
thái, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
và sự phát triển của đất nước. Một trong những nguyên nhân chính của vấn đề
là nhận thức và thái độ của con người đối với môi trường còn hạn chế.
Hiện nay ở các thành phố lớn và các khu đô thị trên cả nước hàng ngày
thải ra trên 9.100m3 chất thải, trong đó rác thải sinh hoạt chiếm đến 74,5%, từ
tất cả các hoạt động hàng ngày của con người.[21.8] Các hoạt động này đang
ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước mặt, nước ngầm và đất. Lượng
chất thải trên nếu không được thu gom và xử lý một cách triệt để sẽ gây
những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của con người và sinh vật.
Thành phố Hạ Long là một trung tâm kinh tế và chính trị của tỉnh
Quảng Ninh, một cực của vùng động lực phát triển kinh tế phía bắc Hà Nội –
Hải Phòng – Quảng Ninh. Thành phố Hạ Long có nguồn tài nguyên phong
phú như khoáng sản, thủy sản, rừng…Bên cạnh đó lợi thế là một vùng ven
biển, có di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long nên ngành du lịch, dịch
vụ tại đây rất phát triển. Cùng với lợi ích do du lịch thì bãi biển đang phải
hứng chịu những tác động không tốt của môi trường do các hoạt động kinh
doanh du lịch mang lại. Trong khi đó ở nơi đây rác chưa được thu gom xử lý
một cách triệt để. Bãi chứa rác thải chưa đúng tiêu chuẩn, rác thải chưa được
phân loại gây ra không ít khó khăn cho công tác xử lý. Điều này không chỉ
ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người mà còn tác động
không nhỏ đến cảnh quan và môi trường sống của biển. Chính vì vậy việc
đánh giá hiện trạng rác thải là việc làm cần thiết.

1




PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm rác thải
Rác thải là bất kỳ loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà
không được tiếp tục sử dụng như ban đầu .
Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người
và động vật tạo ra. Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có
ích do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người. Rác thải có thể ở
dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giai
đoạn sản xuất trong tiêu dùng .
Rác thải là các loại rác mà không ở dạng lỏng, không hòa tan được thải
ra từ hoạt đông sinh hoạt, công nghiệp. Rác thải còn bao gồm cả bùn cặn, phế
phẩm nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ…[11].
2.2. Nguồn gốc và phân loại rác thải
2.2.1. Nguồn gốc phát sinh rác thải
- Từ các khu dân cư.
- Từ các khu dịch vụ, các trung tâm thương mại.
- Từ các cơ quan công sở, trường học, công trình công cộng.
- Từ các hoạt động sản xuất công - nông nghiệp.
- Từ các hoạt động xây dựng.
- Từ các làng nghề, các trạm xử lý nước thải.[11]
2.2.2. Phân loại rác thải
Rác thải sinh hoạt: Phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân
cư, các trung tâm dịch vụ, công viên.
Rác thải công nghiệp: Phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp và
thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu
là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí).

3


0

Giấy

12,1

30

20 - 25

30 -40

Thực phẩm

8,1

34

26 - 45

9,4

Vải

5,1

2

0


10
7
0

1-2
2-4
3-7

0,5
0,5
0,5

Thủy tinh

22,7

13

5-9

7,9

Sỏi, cát

3,9

0

0


12.800.000
·
Toàn quốc
6.400.000
·
Các khu vực đô thị
6.400.000
·
Các khu vực nông thôn
Tốc độ phát sinh kg/người/ngày
0,4
·
Toàn quốc
0,7
·
Các khu vực đô thị
0,3
·
Các khu vực nông thôn
Tỷ lệ được thu gom % tổng lượng phát sinh
71%
·
Toàn quốc

6.400.000

16.000.000
8.640.000
7.360.000

trước(%)

1,05

1,15

1,35

-Khu vưc đô thị

1,10

1,10

1,15

-Khu vực nông thôn
Nguồn: Trích dẫn từ báo cáo quan trắc phòng CTR, CEETIA 2004
Bảng 2.4. Thành phần chất thải rắn ở một số đô thị trong năm 2001 (%)
TT Thành phần
1 Chất hữu cơ
2 Cao su, nhựa
3 Giấy, catton, vải
4 Kim loại


Đà Nẵng Tp. HCM

40,1-44,7
2,7-4,5
5,5-5,7
0,3-0,5
3,90-8,5
47,5-36,1
40-46
11,0
0,57-0,65

31,50
22,50
6,81
1,40
1,80
36,00
39,05
40,25
0,38

41,25
8,78
24,83
1,55
5,59
18,00
27,18

thành phần đất, ảnh hưởng tới môi trường sống của các vi sinh vật…. Những
điều kiện trên gây nên những biến đổi trong đất: đất bạc màu, khó canh tác
hoặc mất khả năng canh tác. Còn các chất dễ phân huỷ sinh học thường phân
huỷ thành những chất có khả năng kết hợp với nhau tạo thành các chất độc
theo nước ngấm dần xuống đất làm ô nhiễm môi trưòng đất.[13]
2.4.1.2. Đối với môi trường nước
Môi trường nước là nơi trú ngụ của rất nhiều loài động vật và thực vật
thủy sinh có ích. Nguồn nước ngầm phục vụ cho cuộc sống và mọi lợi ích của
con người. Tuy thế ô nhiễm môi trường nước hiện nay là một vấn đề khá
nóng bỏng, chủ yếu nguyên nhân là do ý thức của con người.
Rác thải sinh hoạt gây ô nhiễm ao hồ, sông suối do các chất dễ phân
huỷ, phân tán làm nước có màu và mùi khó chịu, còn những chất khó phân
huỷ thì trôi nổi hoặc tụ thành đống làm ảnh hương tới dòng chảy. Các chất
độc phân huỷ từ rác cũng theo đó đi vào môi trường nước gây độc cho sinh

7


vật dưới nước. Các bãi rác thải ngoài trời và các bãi chôn lấp không được xây
dựng đúng tiêu chuẩn cũng là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng cho nguồn nước
mặt và nước ngầm.[13]
2.4.1.3. Đối với môi trường không khí
Không khí là một thành phần rất quan trọng, không thể thiếu được
trong cuộc sống của con người và sinh vật. Cùng với sự phát triển kinh tế và
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm gần đây, tình trạng
ô nhiễm không khí đang gia tăng ở các đô thị ở Việt Nam. Sự phát triển kèm
theo đó là sự phát sinh lượng rác khổng lồ. Tại các trạm bãi trung chuyển rác,
xen kẽ trong các khu dân cư ô nhiễm không khí do bụi, khói cuốn lên theo
quá trình xúc rác, từ các xe thu gom, vận chuyển. Rác thải trong quá trình
phân huỷ tự nhiên thường có mùi hôi thối khó chịu và dễ dàng lan nhanh

ô nhiễm

Làm hại
sức khỏe
con người

Làm mất vẻ
đẹp đô thị

Hạn chế kết
quả sản xuất
kinh doanh

Tạo
môi trường
dịch bệnh

Tạo nếp sống
kém văn minh

Gây ùn tắc
giao thông

Tác động xấu đên
ngành văn hóa,du
lịch

Hình 2.1. Tác động của việc xử lý không hợp lý rác thải đô thị [2]
2.5. Thực trạng quản lý và xử lý rác thải trên thế giới và Việt Nam
2.5.1. Thực trạng quản lý và xử lý rác thải trên thế giới

Singapore
Nhật Bản

490
200
340
620
1410
980
1050
2740
30990
9700
26730
39640

27,8
13,7
26,8
30,3
37,6
35,4
54,2
20
79,5
81,3
100
77,6

(kg/người/ngày)

tấn). Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi
chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế. Số còn lại được xử

10


lý bằng cách đốt, hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác. Chi phí cho việc xử lý
rác hàng năm tính theo đầu người khoảng 300 nghìn Yên (khoảng 2.500
USD). Như vậy, lượng rác thải ở Nhật Bản rất lớn, nếu không tái xử lý kịp
thời thì môi trường sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng.[13]
Nhận thức được vấn đề này, người Nhật rất coi trọng bảo vệ môi
trường. Trong nhiều năm qua, Nhật Bản đã ban hành 37 đạo luật về bảo vệ
môi trường, trong đó, Luật "Xúc tiến sử dụng tài nguyên tái chế" ban hành từ
năm 1992 đã góp phần làm tăng các sản phẩm tái chế. Sau đó, Luật "Xúc tiến
thu gom, phân loại, tái chế các loại bao bì" được thông qua năm 1997, đã
nâng cao hiệu quả sử dụng những sản phẩm tái chế bằng cách xác định rõ
trách nhiệm của các bên liên quan. Hiện nay, tại các thành phố của Nhật Bản,
chủ yếu sử dụng công nghệ đốt để xử lý nguồn phần rác thải khó phân hủy.
Các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân
hủy, được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost,
góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón; loại
rác không cháy được như các loại vỏ chai, hộp..., được đưa đến nhà máy phân
loại để tái chế; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả không cao, nhưng cháy
được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng. Các loại rác này được
yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình
phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự
giám sát của đại diện cụm dân cư. Đối với những loại rác có kích thước lớn
như tủ lạnh, máy điều hòa, ti vi, giường, bàn ghế... thì phải đăng ký trước và
đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty vệ sinh môi trường đến chuyên chở.
Nhật Bản quản lý rác thải công nghiệp rất chặt chẽ. Các doanh nghiệp,

thống phân phối khí, nhờ hệ thồng phân phối khí mà quá trình chuyển hóa xảy
ra nhanh hơn, nhiệt độ đống ủ được ổn định và phù hợp với sự phát triển của
nhiều nhóm sinh vật. Năm 1985, Feinstein đã tổng kết các biện pháp có thể
thấy nếu ủ rác trong điều kiện hiếu khí có điều khiển bằng cách thổi khí để

12


giữ nhiệt độ bể ủ và có bổ sung nước tạo độ chất ủ thì rút ngắn được thời gian
xử lý, tỷ lệ mùn cưa hữu cơ cũng như lượng mùn tạo thành cao.[13]
Hiện nay, ở hầu hết các nước Châu Âu, các giải pháp như chôn lấp, đốt
rác ít được thực hiên và có xu hướng chấm dứt vì các lý do kinh tế cũng như
môi trường sau này. Giải pháp chôn lấp chỉ được thực hiện đối với những chất
thải độc hại không thể xứ lý hoặc xử lý quá tốn kém (ví dụ như chất thải hạt
nhân). Giải pháp đốt (nhiệt) cũng chỉ được thực hiện đối với các chất thải khó
phân hủy sinh học, chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp, hóa chất bảo vệ
thực vật…
Bộ Môi trường
Phòng hoạch định
chính sách

Sở quản lý chất
thải và tái chế

Đơn vị quản lý
chất thải

Phòng quản lý chất
thải công nghiệp


đường phố, các cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất
thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt
để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị.
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô
thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí
Minh. Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000
tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ
tất cả các đô thị (hình 2.1 và bảng 2.6).[21.2]

14


Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phát sinh CTRSH tại các đô thị Việt Nam 2007
Bảng 2.6: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007
STT

Loại đô

Lượng CTRSH bình quân

Lượng CTRSH đô thị

phát sinh
Tấn/ngày
Tấn/năm
(kg/người/ngày)
1
Đặc biệt
0,84
8.000

tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở
lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng
phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị
khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ
có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng

15


Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm
3,68%). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh
(5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh
ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng
20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã
Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị
đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại
II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là
tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát
sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65
kg/người/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát
triển du lịch như TP. Hạ Long 1,38 kg/người/ngày; TP. Hội An 1,08
kg/người/ngày; TP. Đà Lạt 1,06 kg/người/ngày; TP.Ninh Bình 1,30
kg/người/ngày. Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người
thấp nhất là TP. Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31 kg/người/ngày; Thị xã
Gia Nghĩa 0,35 kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35 kg/người/ngày; TP Cao
Bằng 0,38 kg/người/ngày. Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính
trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73 kg/người/ngày.[21.2]
Bảng 2.7: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007

4.444
1.622.060
1.164
424.860
190
69.350
755
275.575
1.640
598.600

16


6
Tây Nguyên
7
Đông Nam Bộ
8
Đồng Bằng sông Cửu Long
Tổng cộng

0,59
0,79
0,61
0,73

650
6.713
2.136


Thành phần
Các chất dễ cháy
Các chất hữu cơ
Plastic
Giấy vụn, catton
Giẻ vụn
Cao su
Các chất không cháy
Kim loại
Thuỷ tinh
Chất trơ
Thành phần nguy hại

Hà Nội Hải Phòng Nam Định Thái Nguyên
69,9
52,0
80,5
71,3
51,9
40,48
65,0
62,0
7,3
3,10
7,0
6,0
4,5
6,42
4,0


Theo số liệu trên cho thấy, trong tổng số lượng rác được chôn lấp thì có
50% đến 60% là chất hữu cơ, trong đó tỷ lệ nước chiếm 60 - 70%. Phần lớn các
đô thị đều chưa có bãi rác chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và vận hành đúng
quy trình. Bên cạnh đó, các loại chất thải nguy hại không được phân loại riêng
mà trộn chung với những chất thải sinh hoạt, nếu không được xử lý triệt để dẫn
đến suy thoái môi trường đất, nước, không khí…
Ước tính lượng chất thải phát sinh trên toàn quốc khoảng hơn 15 triệu
tấn/năm, trong đó có khoảng hơn 150.000 tấn là chất thải nguy hại. Dự báo
đến năm 2015, lượng chất thải rắn có thể tăng từ 24% đến 30%. Các thành
phố ở Việt Nam là nguồn phát sinh chính rác thải sinh hoạt, tuy chỉ chiếm
24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh tới 50% tổng lượng rác thải sinh
hoạt và 80% chất thải rắn. Ước tính mỗi người dân đô thị Việt Nam phát thải
trung bình khoảng 2-3 kg chất thải rắn mỗi ngày, gấp đôi lượng phát thải bình
quân đầu người ở nông thôn.[19]
2.5.2.2.Tình hình quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
2.5.2.2.1. Tình hình quản lý rác thải tại Việt Nam

18


Quản lý rác thải bao gồm các hoạt động: Phòng ngừa và giảm thiểu
phát sinh rác thải; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái
sử dụng, tái chế; xử lý và tiêu huỷ. Công tác quản lý rác thải ở Việt Nam hiện
nay còn chưa tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô
lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R)
để giảm tỷ lệ rác thải phải chôn lấp. Hoạt động giảm thiểu phát sinh rác thải,
một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý rác thải,
còn chưa được chú trọng. Chưa có các hoạt động giảm thiểu RTSH. Ở quy
mô công nghiệp, số cơ sở áp dụng sản xuất còn rất ít, khoảng 300/400.000

có thùng thu gom rác, 90% RTSH được thu gom, vận chuyển.[17]
2.5.2.2.2. Tình hình xử lý rác thải tại Việt Nam
Xử lý rác thải là công đoạn cuối cùng của công tác vệ sinh môi trường.
Đây là công đoạn cần thiết góp phần phòng chống ô nhiễm môi trường không
khí, đất, nước mặt và nước ngầm. Trong việc xử lý chất thải rắn nói chung và
chất thải sinh hoạt nói riêng, phải dựa trên những phân tích cụ thể của địa
phương và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để lựa chọn công nghệ. Tại Việt Nam
những biện pháp để xử lý rác thải thường là:
a.Phương pháp sinh học: gồm
Phương pháp ủ kỵ khí(Anaerobic Compsting)
Đây là quá trình phân giải các chất hữu cơ mà không cần sự có mặt của
oxy, sản phẩm cuối cùng là CH4, CO2, NH3, một lượng lớn các khí khác, các
axit hữu cơ và sinh khối vi sinh vật.
Bản chất của quá trình này là nhờ sự hoạt động của các vi sinh vật, các
hợp chất hữu cơ bền vững (xenluloza, hemixenluloza, lignin, tinh bột và các
chất hữu cơ cao phân tử khác) được chuyển thành các hợp chất đơn giản hơn
và các chất khí, trong đó CH4 chiếm tỷ lệ lớn.
Nhược điểm của phương pháp xử lý này là không áp dụng cho một
khối lượng rác thải lớn, mất nhiều thời gian, khó tận thu được hết khí, gây ô
nhiễm môi trường. Hơn nữa, mùn rác thải ở mức độ công nghiệp người ta sử
dụng phương pháp hiếu khí.

20


Phương pháp ủ hiếu khí(Aerobic compasting)
Dựa vào phương thức cung cấp oxy vào bể ủ rác thải, có thể chia thành
2 phương pháp ủ hiếu khí: Lên men tự nhiên có đảo trộn và lên men có thổi
khí cưỡng bức.
Trong các biện pháp xử lý rác bằng vi sinh vật thì biện pháp ủ khí có

hữu cơ và nguyên liệu làm vật liệu xây dựng.[8]
2.5.2.2.3. Những hạn chế trong công tác quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
Công nghệ tái chế rác thải tại các làng nghề hầu hết là cũ và lạc hậu, cơ
sở hạ tầng yếu kém, quy mô sản xuất nhỏ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng ở một số nơi. Một số làng nghề tái chế hiện nay đang
gặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như Chỉ Đạo (Hưng Yên), Minh Khai
(Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Bắc Ninh)… Một số công
nghệ đã được nghiên cứu áp dụng như trong đó chủ yếu tái chế chất thải hữu
cơ thành phân vi sinh (SERAPHIN, ASC, Tâm Sinh Nghĩa) hay viên nhiên
liệu (Thủy lực máy - Hà Nam) song kết quả áp dụng trên thực tế chưa thật khả
quan. Nhìn chung, hoạt động tái chế ở Việt Nam không được quản lý một
cách có hệ thống, có định hướng mà chủ yếu do các cơ sở tư nhân thực hiện
một cách tự phát.[21.10]
Mặc dù những năm gần đây, hoạt động thu gom, xử lý của nhiều công
ty môi trường đô thị tại các địa phương đã có những tiến bộ đáng kể, phương
thức tiêu huỷ chất thải sinh hoạt đã được cải tiến, nhưng rác thải vẫn là mối
hiểm hoạ đối với sức khoẻ và môi trường.
Từ trước tới nay, phần lớn rác thải sinh hoạt ở nước ta không được tiêu
huỷ một cách an toàn. Hình thức tiêu huỷ rác thải phổ biến vẫn là đổ ở bãi rác
lộ thiên. Trong số 91 điểm tiêu huỷ rác thải trong cả nước, chỉ có 17 điểm
được đánh giá là hợp vệ sinh. Còn lại, các bãi rác chôn lấp được vận hành
không đúng kỹ thuật và bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề môi trường cho
dân cư quanh vùng, như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước
ngầm, gây ô nhiễm không khí, là ổ phát sinh ruồi, muỗi, chuột, bọ…

22


Tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng nước ta còn thiếu các hệ thống xử lý chất
thải công nghiệp nguy hại và các cơ chế khuyến khích việc thực hiện những

3.2.2. Điều tra hiện trạng rác thải khu du lịch phường Bãi Cháy, TP Hạ
Long.
3.2.2.1. Đặc điểm rác thải tại khu vực nghiên cứu
3.2.2.2.Tình hình thu gom, phân loại rác thải và ý thức của người dân
3.2.2.3. Tình hình quản lý và xử lý rác thải ở khu du lịch phường Bãi Cháy, TP
Hạ Long
3.2.2.4. Đánh giá tình hình thu gom, phân loại rác thải
3.2.3. Dự tính khối lượng rác thải trong tương lai.
3.2.4. Đề xuất biện pháp quản lý và xử lý rác thải

24


3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
- Thu thập số liệu, thông tin bằng phiếu điều tra nông hộ
- Thu thập số liệu, thông tin bằng phiếu điều tra công nhân thu gom rác.
- Thập số liệu, thông tin bằng phiếu điều tra các nhà hàng, khách sạn,
hộ kinh doanh.
- Điều tra lượng và loại rác tại các hộ gia đình.
3.3.2. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Thu thập tài liệu và số liệu từ Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Quảng
Ninh, UBND phường Bãi Cháy và công ty CP Môi trường đô thị INDEVCO.
- Thu thập tài liệu liên quan ở sách, báo và internet
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Excel.

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status