Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay, tài chính ngân hàng là một trong những ngành
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Với chức năng là trung
gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò như là chiếc cầu nối giúp cho nền kinh tế có
thể vận hành một cách trơn tru thông suốt. Thời gian vừa qua, tình hình kinh tế thế
giới đã gặp rất nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu, Việt Nam tuy chỉ là một nước đang phát triển nhưng cũng không nằm
ngoài vùng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này; và ngân hàng là một trong
những bộ phận của nền kinh tế chịu tác động lớn từ cuộc khủng hoảng này. Nhưng
nhờ những chính sách kịp thời nên trong năm 2009 tình hình kinh tế thế giới nói
chung, mà cụ thể là Việt Nam cũng đã dần vượt qua được khó khăn; mặc dù vẫn
chưa thể khắc phục được hoàn toàn những hậu quả do cơn bão tài chính để lại. Tín
dụng ngân hàng được xem là một trong những đòn bẩy quan trọng giúp cho nền
kinh tế có được sự phục hồi nhanh chóng như vậy.
Nghiệp vụ tín dụng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn có ý
nghĩa quan trọng giúp ngân hàng có thể tồn tại và đứng vững qua giai đoạn khó
khăn và cạnh tranh được với các ngân hàng khác trong tương lai. Với đặc điểm
hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam, tín dụng luôn chiếm một tỷ trọng cao
trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng; do đó rủi ro trong hoạt động ngân hàng có
xu hướng hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Tình trạng khó khăn
về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi,
nguyên nhân chủ yếu là do việc quản lí yếu kém, cho vay không tuân thủ nguyên
tắc tín dụng , chính sách cho vay chưa hợp lí… Đặc biệt là các khoản cho vay
trung dài hạn luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn đối với ngân hàng.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng trung dài hạn tại
Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Huế.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: thực hiện tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
chi nhánh Huế.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
- Về mặt thời gian: các tài liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm
2007 đến 2009.
- Về mặt nội dung: chất lượng hoạt động cho vay trung dài hạn.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đề
tài nghiên cứu thông qua các tài liệu như: sách báo, tạp chí, các tài liệu công văn
của ngân hàng, website…
- Phương pháp quan sát và phỏng vấn: tiến hành quan sát và phỏng vấn các
cán bộ, nhân viên tín dụng của ngân hàng trong suốt thời gian thực tập tại ngân
hàng Á Châu Chi nhánh Huế.
- Phương pháp so sánh: dựa vào các số liệu có được tiến hành so sánh về số
mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả, bao gồm cả vốn lẫn lãi.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một
tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá
nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là
người cho vay. Hay nói cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng
quyền sử dụng vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời hạn nhất định
với một khoản chi phí nhất định.
Hoạt động tín dụng bao gồm những hoạt động chính như cho vay, chiết
khấu, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, tài trợ xuất nhập khẩu và các hoạt
động tín dụng khác. Trong đó cho vay là một bộ phận của tín dụng và luôn chiếm
một tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đối với một số Chi
nhánh ngân hàng mới được thành lập, chưa hoàn thiện về cơ sở vật chất kỹ thuật,
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
đội ngũ nhân viên, các sản phẩm tín dụng còn thiếu, thì hoạt động tín dụng ngân
hàng cũng chính là hoạt động cho vay.
Cũng như các quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội
dung:
-
Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho
người sử dụng;
Trang
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
1.1.2 Tín dụng trung dài hạn ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có thể được sắp xếp phân loại theo từng nhóm dựa vào
một số vào những tiêu thức khác nhau. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học
là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản
trị rủi ro tín dụng. Phân loại tín dụng có thể dựa vào một số tiêu thức như:
Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng trung hạn
Tín dụng dài hạn.
Căn cứ theo mục đích sử dụng
Tín dụng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa
Tín dụng tiêu dùng
Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển vốn
Tín dụng vốn lưu động
Tín dụng vốn cố định
Căn cứ vào phương thức cho vay:
Cho vay theo món vay
Cho vay theo hạn mức tín dụng
Cho vay theo hạn mức thấu chi.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Cho vay không có bảo đảm
Cho vay có bảo đảm
-
Mục đích sử dụng
Ngân hàng cấp các khoản tín dụng trung hoặc dài hạn cho khách hàng nhằm
mục đích tài trợ cho nhu cầu đầu tư vào tài sản cố định hoặc dự án đầu tư. Ngoài
ra ngân hàng cũng có thể cấp các khoản tín dụng trung dài hạn để tài trợ cho tài
sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng
đa số các khoản tín dụng trung dài hạn nhằm mục đích đầu tư vào các dự án đầu
tư.
-
Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm
Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động của
doanh nghiệp và được hoàn trả trong thời gian ngắn thì tín dụng trung dài hạn
chủ yếu được vay để tài trợ cho các dự án đầu tư lớn, mua sắm tài sản cố định,
cải tiến đổi mới thiết bị công nghệ của doanh nghiệp. Việc tài trợ này cần đòi hỏi
một khối lượng vốn tín dụng lớn trong thời gian đầu tư dài (hơn 1 năm). Những
khoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc, lãi chủ yếu dựa vào khấu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
động sản, tài sản được hình thành từ vốn vay hay có sự bảo lãnh từ bên thứ ba.
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều rủi ro từ phần đảm bảo tín dụng như việc đánh
giá tài sản thế chấp không chính xác, tài sản thế chấp không chuyển nhượng hoặc
cấm lưu hành; hoặc bên bảo lãnh gặp khó khăn về tài chính, thiên tai…
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang
Khóa luận tốt nghiệp
-
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
Vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, phương án
Cho vay trung và dài hạn với thời gian dài, độ rủi ro cao hơn với cho vay
ngắn hạn, để giảm bớt rủi ro thì ngoài việc qui định vay phải có tài sản đảm bảo,
ngân hàng cho vay còn qui định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào
quá trình sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự
án cao hay thấp tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án.
-
Lãi suất cho vay
Lãi suất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn thường cao hơn nhiều so
với lãi suất cho vay ngắn hạn. Phần lãi suất tăng hơn đó dùng để bù đắp cho
những chi phí huy động vốn phục vụ cho các khoản vay trung dài hạn, chi phí bù
có nhu cầu thanh toán các công trình, dự án, các khoản chi phí có liên quan đến
nước ngoài bằng đồng ngoại tệ.
1.1.3.3 Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay theo dự án: đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án khi
đã xem xét khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó. Hình thức cho
vay theo dự án có thể là cho vay đồng tài trợ hay cho vay trực tiếp theo dự án.
+ Cho vay đồng tài trợ là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín
dụng cho một dự án; do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với
các bên đồng tài trợ để thực hiện nhằm phân tán rủi ro. Hình thức này
thường được áp dụng đối với các dự án lớn có tính khả thi cao nhưng
mức vay vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng hay những dự án có độ
rủi ro cao.
+ Cho vay trực tiếp theo dự án: đây là hình thức tín dụng trung dài hạn
phổ biến trông nền kinh tế thị trường. NHTM tiến hành mọi hoạt động
và tự chịu trách nhiệm với dự án đầu tư của khách hàng.
- Tín dụng thuê mua: là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng
tín dụng thuê mua, qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình cho người đi thuê sử dụng và người thuê có trách nhiệm thanh toán
tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể được quyền sở hữu tài sản thuê, được
quyền mua tài sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã được hai
bên thoả thuận
- Cho vay trả góp: là một hình thức cho vay, theo đó ngân
hàng cho phép khách hàng trả nợ gốc làm nhiều lần trong thời
hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp thường gặp rủi ro
cao do khách hàng thường thế chấp bằng tài sản hình thành từ
vốn vay. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của
khách hàng, do đó số tiền trả nợ mỗi lần cần được tính toán cho
phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn của Ngân hàng để mở rộng sản xuất kinh
doanh, gia tăng sản lượng để chiếm lĩnh thị trường.
Nguồn vốn vay trung dài hạn có nhiều ưu điểm hơn so với nguồn vốn có
được từ việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu. Việc vay vốn trung và dài hạn ở
NHTM giúp cho doanh nghiệp có thể tự chủ và có khả năng kiểm soát độc lập
được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình mà không phải phân
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang 11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
chia quyền kiểm soát với các cổ đông mới trong trường hợp phát hành thêm cổ
phiếu mới.
Việc trả nợ trung và dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổn
định và hợp lý do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ
một cách dễ dàng hơn. Mặt khác, khi doanh nghiệp vay vốn trung dài hạn ngân
hàng, ngân hàng sẽ có thể điều chỉnh được kỳ hạn nợ, nghĩa là doanh nghiệp có
thể trả nợ sớm hơn thời hạn trả nợ trong hợp đồng khi không có nhu cầu tiếp tục
sử dụng nguồn vốn vay trung dài hạn. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc
trả nợ tại một thời điểm nhất định thì cũng có thể xin ngân hàng gia hạn nợ. Còn
việc huy động vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu thì
doanh nghiệp luôn phải đối mặt với việc trả lãi trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi khi
công việc kinh doanh gặp khó khăn.
1.1.4.2 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với ngân hàng
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận quan trọng của tín dụng ngân hàng.
Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn để giải quyết
vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó phát
triển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnh tranh với các Ngân hàng
khác.
1.1.4.3 Vai trò của tín dụng trung dài hạn của đối với nền kinh tế
Tín dụng trung và dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều
hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Với chức năng là trung gian tài
chính, các Ngân hàng tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và cho
vay đối với các đối tượng có nhu cầu điều đó được thể hiện rõ trong hoạt động
tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và
cả nền kinh tế nói chung hoạt động một cách liền mạch không ngắt quãng và là
một kênh truyền dẫn vốn có hiệu quả. Thông qua cho vay trung và dài hạn mà
xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản
xuất mở rộng, đầu tư phát triển nền kinh tế. Hoạt động tín dụng thúc đẩy lưu
thông hàng hoá, đẩy nhanh chu chuyển tiền tệ, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng.
Tín dụng trung dài hạn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tăng tỷ trọng các
ngành sản xuất vật chất là nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nhu
cầu trước mắt cũng như lâu dài. Đầu tư cho vay trung dài hạn trực tiếp hay gián
tiếp góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm, ổn định lạm
phát, nâng cao đời sống của dân cư, phát triển lực lượng lao động, giúp nền kinh
tế tăng trưởng ổn định.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang 13
Khóa luận tốt nghiệp
phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế xã hội. Do tính phức tạp của nó
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang 14
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
nên hiện nay có rất nhiều các quan niệm khác nhau về chất lượng. Đứng trên các
góc độ khác nhau và tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mà có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sản
xuất, người tiêu dùng, từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau
về chất lượng. Những khái niệm này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố
cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả… Theo hiệp hội tiêu chuẩn
Pháp thì chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả
mãn những nhu cầu của người sử dụng. Còn theo Philip Crosby: “chất lượng là
sự phù hợp với yêu cầu”, bao gồm yêu cầu của người sản xuất và người sử dụng.
Còn Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000,
phần thuật ngữ 9000 đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏa
mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu". Yêu cầu có nghĩa là
những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm ẩn.
Từ cơ sở các quan niệm về chất lượng ở trên, có thể hiểu chất lượng tín
dụng ngân hàng như sau: Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách
tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hay
hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận ngân hàng, phù hợp với sự phát triển kinh
tế xã hội.
cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp các phương tiên giao dịch để đáp ứng
những nhu cầu sản xuất kinh doanh của xã hội. Chất lượng tín dụng tốt tạo điều
kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tài chính trong nền kinh tế: nó
là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế.
Tăng cường chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc giảm thiểu lãng phí vốn do
không sử dụng hết lượng tiền trong lưu thông; giải quyết mối quan hệ cung cầu
vốn trên thị trường, điều hòa và ổn định lưu thông tiền tệ.
Chất lượng tín dụng trung dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ
của các ngân hàng thương mại do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng
quay vốn tín dụng, góp phần thu hút được nhiều khách hàng sử dụng các sản
phẩm dịch vụ kèm theo. Chất lượng tín dụng tốt làm tăng khả năng sinh lời của
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhờ giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp
vụ, các chi phí quản lý… Mặt khác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi
nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi
cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng vì chất lượng tín dụng trung dài hạn sẽ tốt
tạo điều kiện cho ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành và những khoản lợi
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang 16
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
nhuận để bổ sung vốn đầu tư. Như vậy chất lượng tín dụng trung dài hạn góp
phần củng cố các mối quan hệ xã hội của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền
tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Thông qua cho vay chuyển khoản,
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
- Hoạt động tín dụng phải thực hiện hiện đúng quy trình tín dụng, đảm bảo
các nguyên tắc về sử dụng vốn đúng mục đích, hoàn trả tiền vay đầy đủ và đúng
hạn, các nguyên tắc TSĐB…
- Hoạt động tín dụng trung dài hạn phải đem lại được lợi nhuận cho ngân
hàng.
- Có biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro phù hợp với tính pháp lý của từng
hình thức tín dụng.
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
Chất lượng tín dụng trung dài hạn là một vấn đề quan trọng và cũng rất
phức tạp. Để đánh giá một cách chính xác chất lượng của tín dụng trung dài hạn
thì cần xem xét đến nhiều chỉ tiêu khác nhau. Dưới góc độ của một ngân hàng thì
chất lượng tín dụng trung dài hạn có thể đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
- Doanh số cho vay trung dài hạn: phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã
giải ngân cho doanh nghiệp để đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, thay đổi công
nghệ mới,… chỉ tiêu này thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng trung dài hạn của
ngân hàng mở rộng hay thu hẹp. Tuy nhiên việc doanh số cho vay tăng không có
nghĩa là chất lượng tín dụng tốt và ngược lại doanh số cho vay này giảm không
phải lúc nào cũng là xấu, mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực của
ngân hàng, điều kiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
- Doanh số thu nợ trung dài hạn: phản ánh lượng vốn trung dài hạn mà
ngân hàng đã được hoàn trả trong một thời kỳ. Doanh số này phản ánh khả năng
thu nợ của ngân hàng, cũng như tình hình hoạt động của dự án đầu tư, tình hình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn.
- Dư nợ tín dụng trung dài hạn: đây là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn trung
dài hạn của ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể. Chỉ tiêu dư nợ
tín dụng được tính bằng số tuyệt đối:
triển tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, khả năng cho vay và phát triển dự
án đầu tư của ngân hàng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên nếu tỷ lệ này càng cao
cũng đồng nghĩa với việc rủi ro của ngân hàng cũng tăng lên do các khoản tín
dụng trung dài hạn này luôn tiềm ẩn một rủi ro rất lớn.
- Chỉ tiêu Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo
do người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng
theo đúng thời hạn đã thỏa thuận. Để phản ánh tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn, ta
có thể sử dụng chỉ tiêu:
Tỷ lệ nợ quá hạn TDH =
Nợ quá hạn TDH
Dư nợ tín dụng TDH
Tỷ lệ này cho biết nợ quá hạn của các khoản tín dụng trung dài hạn chiếm tỷ
lệ bao nhiêu phần trăm so với dư nợ tín dụng trung dài hạn. Khi một khoản vay
không được trả đúng hạn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang 19
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
chuyển qua nợ quá hạn với lãi suất là 150% so với lãi suất ban đầu. Trên thực tế,
các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy,
tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì các ngân hàng càng gặp khó khăn trong kinh doanh
chấp nhận đối mặt với nguy cơ rủi ro cao từ hoạt động tín dụng trung dài hạn.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang 20
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
Để đánh giá chất lượng tín dụng nói chung, cũng như chất lượng tín dụng
trung dài hạn nói riêng thì không thể chỉ căn cứ vào một chỉ tiêu đơn lẻ mà phải
sử dụng tổng hợp một hệ thống các chỉ tiêu để có thể đưa ra kết luận một cách
chính xác và xác thực nhất. Các chỉ tiêu thường xuyên được kiểm tra và đánh giá
giúp cho ngân hàng có thể nhìn nhận được mặt tốt cũng như hạn chế, từ đó có
những biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động của ngân hàng, đồng thời tránh
đước các rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Việc áp dụng các chỉ tiêu vào xem xét chất lượng tín dụng cần đảm bảo yêu
cầu tính toán phân tích các chỉ tiêu trên cả hai mặt định tính và định lượng. Bởi lẽ
vấn đề chất lượng tín dụng là một vấn đề mang tính phức tạp, vừa trừu tượng vừa cụ
thể nên hệ thống các chỉ tiêu đánh giá không thể mang tính tuyệt đối chính xác.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn
1.2.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng
-
Chính sách tín dụng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, thể hiện chiến
lược và đường lối của NHTM trong việc thực thi các hoạt động tín dụng, nó có ý
lượng đội ngũ nhân viên tốt, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và năng
lực sẽ giúp cho việc thẩm định dự án, đánh giá tài sản đảm bảo, kiểm tra giám sát
các khoản cho vay và có các biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay hay xử
lý các tình huống phát sinh trong quan hệ tín dụng. Đây là tiền đề góp phần giúp
ngân hàng giảm thiểu rủi ro, cũng như nâng cao chất lượng tín dụng.
-
Quy trình tín dụng
Bao gồm những giai đoạn, trình tự, các bước cần phải thực hiện từ việc xét
đơn xin vay của khách hàng, đến việc kiểm tra giám sát và thu nợ, thanh lý hợp
đồng vay nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Chất lượng tín dụng tùy thuộc vào
tính logic khoa học của quy trình tín dụng và việc thực hiện tốt, nhịp nhàng các
bước của quy trình tín dụng. Thực hiện tốt quy trình tín dụng sẽ giúp cho ngân
hàng giảm thiểu được những rủi ro, hạn chế những khoản nợ quá hạn, bảo đảm
an toàn vốn, nâng cao chất lượng tín dụng.
-
Các thiết bị, phần mềm phục vụ cho hoạt động tín dụng
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, những thiết bị máy
móc, phần mềm phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng ngày càng có ý
nghĩa thiết thực. Nó giúp cho ngân hàng có được những thông tin chính xác, kịp
thời, đồng thời nó còn giúp cho việc xử lý thông tin trở nên nhanh chóng, kịp
thời và chính xác hơn; trên cơ sở đó có những quyết định tín dụng đúng đắn, giúp
cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện, nhanh chóng và
chính xác.
1.2.4.2 Nhân tố từ phía khách hàng
-
Vấn đề đạo đức của khách hàng
Sự trung thực của khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng
của ngân hàng, nhất là đối với những khoản tín dụng trung dài hạn. Nhiều trường
hợp xảy ra khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhưng không cung cấp số liệu
một cách chính xác, hay việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúng đối tượng,
phương án, mục đích kinh doanh như hồ sơ xin vay. Điều này sẽ gây khó khăn
cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh và quản lý vốn
vay của khách hàng, làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.2.4.3 Nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
Các điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng
tín dụng, trong đó có tín dụng trung dài hạn. Khi nền kinh tế ổn định, lạm phát
thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành có hiệu quả,
doanh nghiệp có khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng đúng thời hạn. Điều này
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàng phát triển, chất lượng tín dụng
được nâng cao. Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Chung
Trang 23
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
thu hẹp, đầu tư tiêu dùng giảm sút, các khoản vay đã thực hiện khó có thể đem lại
hiệu quả, sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng làm giảm sút
về quy mô và chất lượng.
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Tô Minh Tân
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU
CHI NHÁNH HUẾ
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Huế
2.1.1 Sơ lược về Ngân hàng TMCP Á Châu Việt Nam
- Tên giao dịch Việt Nam: Ngân Hàng TMCP Á Châu
- Tên giao dịch quốc tế: Asia Commercial Bank
- Tên viêt tắt: ACB
- Website: www.acb.com.vn
- Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu được thành lập theo giấy phép số
0032/NH-GP do thống đốc NHNNVN cấp ngày 24/04/1993, giấy phép số
533/GP-UB do UBND TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày
04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động.
Tính đến cuối năm 2009, Vốn điều lệ của ngân hàng ACB đã đạt được
7.814 tỷ đồng, tăng hơn 22% so với năm 2008, thuộc hàng lớn nhất trong nhóm
các ngân hàng TMCP Việt Nam. Về mặt lợi nhuận, Tập đoàn ACB đã thực hiện
vượt mức kế hoạch với 2.838 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, cao hơn 138 tỷ đồng
so với kế hoạch. Cơ cấu lợi nhuận của Ngân hàng cũng ngày một đa dạng hơn
khi tính đến hết ngày 31/12/2009 hoạt động tín dụng chiếm 20%, hoạt động dịch
vụ đạt 26% và hoạt động kinh doanh vốn, vàng và ngoại hối chiếm 37% trên tổng
lợi nhuận trước thuế. Về quản lý rủi ro, tỷ lệ nợ xấu của Tập đoàn cuối năm 2009
chỉ là 0,4%. Với kết quả này, ACB tiếp tục là ngân hàng duy nhất trong nhóm
các NHTM cổ phần hàng đầu có tỷ lệ nợ xấu dưới 0,5%, nhờ đó Chất lượng tín
dụng của ACB tiếp tục được khẳng định.
Trong năm 2009, ngân hàng đã đạt được những thành tích: