Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thành phố Hà Nội - Pdf 31

LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết bảo hiểm xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, công bằng và an toàn trong mỗi
quốc gia trên thế giới. Trong thế giới hiện đại, chính sách bảo hiểm xã hội là trụ cột
của hệt hống chính sách an sinh xã hội. nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời
sống xã hội của các tầng lớp lao động và dân cư. Đồng thời bảo hiểm xã hội là nhân
tố đảm bảo ổn định chính trị - xã hội trong nền kinh tế thị trường.
Ở Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập Nhà nước Bảo hiểm xã hội đã được
quan tâm thực hiện. Trải qua nhiều thời kì, giai đoạn phát triển đến nay chính sách
Bảo hiểm xã hội đã tương đối hoàn thiện. Cùng với sự phát triển không ngừng của
đời sống kinh tế xã hội đất nước thì đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội cũng ngày
càng được mở rộng . Sự phát triển mở rộng không ngừng của đối tượng tham gia đã
đặt ra yêu cầu cao hơn cho các cơ quan thực hiện Bảo hiểm xã hội trong công tác
quản lý. Chính vì lí do này nên trong quá trình nghiên cứu về môn học Quản trị bảo
hiểm xã hội em đã lựa chọn tìm hiểu đề tài “ Thực trạng công tác quản lý đối tượng
tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Hà Nội” nhằm hiểu rõ hơn về công tác quản
lý Bảo hiểm xã hội tại thành phố Hà Nội đồng thời qua đó đóng góp một vài ý kiến,
giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm
xã hội bắt buộc.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Lệ Hằng đã giúp đỡ và cho những ý
kiến quý báu để em có thể hoàn hành bài tiểu luận này.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song do trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi
những sai sót vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp chân thành từ phía thầy
cô và các bạn để tiểu luận hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !


DANH MỤC VIẾT TẮT
BHXH:

Bảo hiểm xã hội

giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng, bè bạn và người thân của mình. Bởi trong thực tế
không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập ổn định và
mọi điều kiện sinh sống đều diễn ra bình thường như mình mong muốn mà trái lại có
rất nhiều khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm
hoặc mất thu nhập như: bệnh tật, tuổi già, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp… Khi
rơi vào những hoàn cảnh, trường hợp này thì các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống
không chỉ mất đi mà trái lại còn phát sinh thêm những làm cho người lao động khó có
thể đảm đương được. Chính xuất phát từ bản chất mong muốn tồn tại và vượt qua
những khó khăn trở ngại của cuộc sống khi rủi ro xảy ra đã đòi hỏi những người lao
động và xã hội loài người phải tìm ra được biện pháp nào đó để giải quyết những vấn
đề trên và thực tế là họ đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ rủi ro,
đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của


nhà nước… Nhưng những cách này chỉ mang tính tạm thời, thụ động và không chắc
chắn.
Lịch sử cũng đã chứng minh từ khi nền kinh tế hàng hóa phát triển và việc thuê
mướn lao động cũng đã trở lên phổ biến thì đồng thời cũng là mẫu thuẫn chủ thợ
trong xã hộ cũng phát sinh. Nguyên nhân sâu sa và cũng là nguyên nhân chủ yếu của
mâu thuẫn trên là những thuê mướn lao động - chủ sử dụng lao động không mong
muốn bị buộc phải đảm bảo thu nhập cho nhập cho người lao động mà mình thuê
mướn trong trường hợp họ gặp phải những rủi ro. Không cam chịu với thái độ của
các chủ sử dụng lao động, những người lao động đã liên kết lại đấu tranh buộc người
chủ sử dụng lao động phải thực hiện cam kết trả công lao động và đảm bảo cho họ có
một thu nhập nhất định để họ có thể trang trải cho những nhu cầu thiết yếu khi gặp
những biến cố làm mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc giảm khả năng lao động, mất
việc làm. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động lớn đến
nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp
và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt đã làm tăng được vai trò của Nhà
nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định

- Dưới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo vệ người lao
động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và
sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và
gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy
định của pháp luật, hoặc chết.
2. Khái niệm quản trị

Có rất nhiều quan niệm về quản trị:


- Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm hoàn thành công việc
qua những nỗ lực của những người khác; quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả
các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
- Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt
được mục tiêu đề ra trong một môi trường luôn luôn biến động.
- Quản trị là một quá trình nhằm đạt đến các mục tiêu đề ra bằng việc phối hợp
hữu hiệu các nguồn lực của doanh nghiệp; theo quan điểm hệ thống, quản trị còn là
việc thực hiện những hoạt động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức và liên tục.
Quản trị trong một doanh nghiệp tồn tại trong một hệ thống bao gồm các khâu, các
phần, các bộ phận có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và
thúc đẩy nhau phát triển.
3.

Khái niệm quản trị BHXH

- Nếu coi quản trị BHXH là một hoạt động thì thuật ngữ quản trị BHXH là
những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong hệ
thống tổ chức bảo hiểm xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu chung của chính
sách BHXH.

tranh đòi được hưởng quyền lợi trợ cấp khi không may khặp rủi ro… Những cuộc
đấu tranh này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất làm giảm năng xuất và chất
lượng của sản phẩm. Do vậy nhà nước đã đứng ra làm trung gian điều hoà mâu
thuẫn này bằng cách bắt buộc chủ và thợ mỗi bên đều phải đóng góp một phần tiền
vào quỹ BHXH để trợ cấp cho người lao động để họ ổn định cuộc sống, yên tâm
công tác. Từ khi có BHXH mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ đã được điều hoà. Giới
chủ không phải lo lắng người lao động biểu tình bãi công. Từ đó người lao động sẽ


yên tâm làm việc với năng xuất chất lượng cao, tạo ra nhiều của cải vật chất, lợi
nhuận kiếm được sẽ ngày một nhiều hơn.
BHXH góp phần điều hoà, hạn chế các mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ,
tạo ra môi trường làm việc ổn định cho người lao động, tạo sự ổn định cho người sử
dụng lao động trong công tác quản lý. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả năng suất
lao động của doanh nghiệp.

3. Đối với xã hội

-

Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người

lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có
được trong quan hệ của BHXH. Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện
trên giác độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền
lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội.
Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng
chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống
cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn
sâu sắc của BHXH.


Một số vấn đề về quản lý đối tượng tham gia BHXHBB

1.

Đối tượng và phạm vi quản lý .

a.

Đối tượng quản lý
Theo quy định tại điều 2 luật BHXH số 71/2006/QH11 và Điều 2 – Nghị định

152/2006/NĐ-CP đối tượng tham gia BHXHBB được quy định như sau:


Người lao động tham gia BHXHBB gồm :

+ Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức.


+ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp
đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về
lao động kể cả cán bộ quản lý, người lao động làm việc trong hợp tác xã, Liên
hiệp hợp tác xã hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên.
+

Người lao động là công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong
các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.




So với luật BHXH mới số 58/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII 8 thông qua ngày
20 tháng 11 năm 2014. thì Bảo hiểm xã hội bắt buộc bổ sung thêm 3 đối tượng mới:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03
+
+

tháng;
Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép
lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo
quy định của Chính phủ.

b. Phạm vi quản lý
- Quản lý các đơn vị sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXHBB trên địa bàn
quản lý theo sự phân cấp quản lý.
- Quản lý NLĐ thuộc diện tham gia BHXHBB trong từng đơn vị SDLĐ thuộc
diện tham gia BHXHBB trên địa bàn quản lý theo sự phân cấp quản lý.
- Quản lý tiền lương, tiền công đóng BHXH của những NLĐ tham gia
BHXHBB và tổng quỹ tiền lưong, tiền công đóng BHXHBB của các đơn vị
SDLĐ tham gia BHXH.
2. Nội dung quản lý đối tượng tham gia BHXHBB .


- Quản lý danh sách lao động tham gia BHXHBB trong từng đơn vị SDLĐ,
danh

sách

- Tổ chức thu BHXH.
3. Vai trò của quản lý đối tượng tham gia BHXHBB .

- Làm cơ sở cho việc tổ chức hoạt động thu BHXH đúng đối tượng, đủ số lượng
theo đúng quy định của pháp luật về BHXH và đúng thời gian quy định.
- Là điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tham gia BHXH của NLĐ, của đơn vị
SDLĐ và của công dân theo quy định của pháp luật về BHXH.
- Góp phần khai thác triệt để đối tượng tham gia BHXH nhằm thực hịên mục tiêu
mở rộng phạm vi “che phủ” của BHXH, tiến tới thực hiện BHXH cho mọi người vì sự
an sinh và công bằng xã hội theo chủ trương của Nhà nước.


- Làm cơ sở giải quyết quyền lợi hưởng BHXH cho các đối tượng tham gia theo
đúng quy định của pháp luật về BHXH.
- Góp phần tích cực vào việc phòng ngừa, hạn chế những hành vi vi phạm pháp
luật về BHXH của tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện pháp luật về
BHXH.
4. Công cụ quản lý đối tượng tham gia BHXHBB .

- Cơ sở pháp lý:
+ Hệ thống pháp luật là công cụ cơ bản và quan trọng để thực hiện việc quản lý
đối tượng tham gia BHXH.
+ Hệ thống pháp luật bao gồm: pháp luật về lao động, pháp luật về BHXH và các
văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan, như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,
Luật HTX,…
-

Thông qua hệ thống tổ chức bộ máy BHXH và các nhà quản trị BHXH làm việc trong
từng cấp quản trị của hệ thống tổ chức BHXH từ Trung ương đến địa phương.


1.

Thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam từ năm 1976 đến nay và là thủ đô của

nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946, là thành phố lớn nhất Việt Nam về
diện tích với 3328,9 km2, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với
6.699.600 người (2011). Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã


sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử
Việt Nam. Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng
kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều
đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn
hóa, giáo dục của cả miền Bắc. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì,
kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831,
dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông
Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại. Trải qua hai cuộc chiến tranh,
Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho
tới ngày nay.
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay
gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam.
Năm 2009, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng khoảng 6,67%, tổng thu ngân
sách khoảng 70.054 tỷ đồng. Hà Nội cũng là một trung tâm văn hóa, giáo dục với
các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền thông cấp
quốc gia và các trường đại học lớn.
2. BHXH thành phố Hà Nội

Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội được thành lập theo quyết định số 15


Phòng
Tổ
chức
cán

Phòng
Thu

Phòng
Tiếp
nhận

QLHS

Phòng
Kế
hoạch
- Tài
chính

Phòng
Cấp số
thẻ

Phòng
Công
nghệ
thông
tin

- Kiến nghị với cơ quan pháp luật, cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan quản lý
cấp trên của đơn vị sử dụng lao động hoặc cơ sở KCB để xử lý những hành vi vi phạm
pháp luật về các chế độ Bảo hiểm xã hội;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân theo thẩm quyền;
- Tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ Bảo hiểm xã hội trên địa bàn;
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chính sách, chế độ Bảo hiểm xã hội;
- Tổ chức ứng dụng khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều
hành hoạt động của cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố;
- Quản lý tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức, tài chính và tài sản thuộc
Bảo hiểm xã hội Thành phố theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam;

Hệ thống tổ chức của BHXH thành phố Hà Nội:
BHXH TP Hà Nội


BHXH Quận

BHXH quận Ba Đình

BHXH huyện Đông Anh

BHXH quận Cầu Giấy

BHXH huyện Sóc Sơn

BHXH quận Đống Đa

BHXH huyện Gia Lâm

BHXH quận Hai Bà Trưng

BHXH huyện Thường Tín
BHXH huyện Ứng Hoà
BXHH huyện Mê Linh

BHXH Huyện


II. Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH tại thành phố
Hà Nội
1. Tình hình thực hiện quản lý đối tượng tham gia tại BHXH thành phố Hà
Nội giai đoạn 2011 – 2014.
Trong những năm qua, BHXH thành phố Hà Nội đã không ngừng đề ra phương
hướng nhiệm vụ, các biện pháp và bước đi cụ thể phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội cụ thể của từng giai đoạn để mở rộng đối tượng tham gia BHXH theo mục tiêu mà
Đảng và Nhà nước đã đề ra. Theo đó, BHXH thành phố Hà Nội trong những năm qua
đã tổ chức thực hiện một số hoạt động như sau:
- Phối hợp với các ngành, các cấp, đoàn thể địa phương để tuyên truyền vận động
NSDLĐ và NLĐ tích cực tham gia.
- Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị thực hiện BHXH cho NLĐ.
- Tham mưu cho các cơ quan cấp trên về công tác quản lý thu BHXH, giải quyết
các chế độ chính sách BHXH nhằm giảm thiểu bớt những thủ tục hành chính tạo điều
kiện thuận lợi cho NLĐ và NSDLĐ.
2. Đánh giá tình hình thực hiện.
a, Kết quả đạt được.


Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đang dần ổn định và phát triển,
kéo theo đó là sự xuất hiện của các khu công nghiệp mới, các khu đô thị mới, vì vậy
các thành phần tham gia vào nền kinh tế cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn
làm cho số lượng đơn vị thuộc diện tham gia BHXHBB cũng gia tăng đáng kể.

đối

Tuyệt
đối(%)

SLĐ tham
gia trong
khu vực
HCSN

254432

263085

273381

280511

8653

+3,4

10296

+3,91

7130

+2,61


lập

17434

20561

22577

24389

3127

+17,94

2016

+9,8

1812

+8,02

SLĐ tham
gia trong
DN nhà
nước

174807

169399

8046

+4,69

2333

+1,3

3575

+1,97

SLĐ tham
gia trong
DN ngoài
quốc doanh

497787

506937

527855

551716

9150

+1,83

20918

hạn ở nước
ngoài
khác

6135

5867

5784

5979

-268

-4,4

-83

-1,4

195

+3,71

Tổng

1133717

1157759


người, tương ứng tăng 4,52%.
Hai khu vực được xem như là có ít biến động nhất về số đối tượng tham gia
BHXHBB tại thành phố Hà Nội là khu vực cơ sở ngoài công lập. Cụ thể số lao động
tham gia BHXHBB năm 2014 tăng so với năm 2011 ở khu vực ngoài công lập là 6955
người tương ứng với 39,89%. Kết quả này có được là do các đơn vị sử dụng lao động
hai khu vực này chủ yếu là hoạt động với quy mô nhỏ. Vì vậy, số lượng lao động
trong đơn vị cũng không nhiều và thường ít biến động.
b, Hạn chế và nguyên nhân .




Hạn chế

- Số lượng đơn vị không tham gia BHXH hoặc tham gia không đủ số lượng NLĐ vẫn
còn khá nhiều. Hầu hết những người lao động này đều chưa nhận thức được ý nghĩa
của việc đóng BHXH, chưa hiểu được trách nhiệm và quyền lợi của mình khi tham
gia BHXH.
- NSDLĐ chưa có nhận thức đúng đắn về việc tham gia BHXH cho NLĐ. Nhiều
doanh nghiệp vẫn còn cố tình lách luật bằng cách ký hợp đồng thời vụ dưới 3 tháng,
thậm chí không ký hợp đồng, ký quyết định lương thấp hơn thực tế để giảm mức đóng
hoặc thực hiện việc đóng BHXH ở mức tượng trưng nhằm đối phó.
- Một số doanh nghiệp còn lấy lý do nọ, kia để kéo dài thời gian nộp BHXH, thậm chí
lãnh đạo cơ quan còn cố tình không tiếp cán bộ thu BHXH nên cũng gây không ít khó
khăn cho cán bộ thu BHXH
- Công tác quản lý chưa đồng bộ, cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cơ quan có
thẩm quyền để xác định đối tượng thuộc diện tham gia BHXHBB, nhất là khu vực
ngoài Nhà nước còn nhiều khó khăn. Cho đến nay vẫn chưa nắm bắt được cụ thể số
đơn vị và số lao động ngoài nhà nước thuộc diện tham gia BHXHBB.
- Địa bàn thành phố rộng lớn, số đơn vị đóng trên địa bàn nhiều, số lao động đông

động phổ thông, phần lớn đều chưa qua đào tạo nghề, tay nghề thấp, chất lượng lao
động không cao, thường xuyên thay đổi nơi làm việc nên việc tuyên truyền vận động
họ tham gia BHXH gặp rất nhiều khó khăn. Chính từ những mặt còn hạn chế của
NLĐ đã tạo ra những kẽ hở cho NSDLĐ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với
NLĐ mà bản thân họ cũng không biết.
- Thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật BHXH cho NLĐ và NSDLĐ chưa rộng
rãi, chưa thường xuyên, chưa xây dựng được mạng lưới tuyên truyền sâu rộng đến
từng cơ sở, từng cơ quan, đơn vị về BHXH. Bên cạnh đó nội dung và hình thức tuyên


truyền còn khô cứng, thiếu sinh động nên chưa thu hút được sự quan tâm của đại đa số
nhân dân.

CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC
QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXHBB TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I. Phương hướng thực hiện quản lý đối tượng tham gia BHXHBB trong những
năm tới
- Tăng cường kiểm tra, xử lý các đơn vị vi phạm Luật BHXH
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú
nhằm nâng cao nhận thức của người dân vê chính sách BHXH, thu hút đông đảo đối
tượng tham gia
- Nắm bắt, cập nhật thường xuyên các đối tượng thu, chi thông qua các hệ thống
thương binh xã hội và chính quyền cơ sở
- Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ không những có trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ mà còn có phẩm chất đạo đức tốt với tinh thần nhiệt huyết trong công
việc. Tăng cường đào tạo kiến thức về ngoại ngữ, tin học và công tác xã hội cho cán
bộ BHXH



quản lý tốt từng bộ phận.
- Lập kế hoạch, chương trình làm việc cụ thể của từng bộ phận chuyên môn. Đề ra
mục tiêu phấn đấu cho từng giai đoạn.
- Khi phát hiện có vi phạm: nợ đọng, trốn đóng,… thì cơ quan BHXH phải kịp
thời báo cáo và kết hợp với các cơ quan ban ngành có thẩm quyền để xử lý.
- Cần có sự phối hợp giữa các ban, ngành với cơ quan BHXH nhằm kiểm tra
những thay đổi của các đơn vị tham gia BHXHBB, giúp cơ quan BHXH thực hiện tốt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status