MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, học sinh giỏi đạt kết quả cao trong các kỳ thi do nhiều
yếu tố: Tố chất học sinh, sự quan tâm của gia đình, ý thức học tập của học sinh,
việc bồi dưỡng và không ngoại trừ yếu tố may mắn. Tuy nhiên chúng ta không
chỉ chờ đợi và cầu mong ở sự may mắn bởi vì yếu tố may mắn chỉ là một phần
rất nhỏ. Phương ngôn có câu: “ Trở thành nhân tài một phần do tài năng còn 99
phần là ở sự tôi luyện". Theo quan điểm của tôi, điều quan trọng hơn cả là chúng
ta phải trang bị cho các em vững vàng kiến thức trước khi đi thi. Do vậy việc bồi
dưỡng vẫn là yếu tố quan trọng hơn cả. Nhưng chúng ta cần bồi dưỡng học sinh
giỏi những nội dung gì, bồi dưỡng như thế nào cho đạt hiệu quả?
Thực hiện được điều đó, nhà trường của chúng ta đang cố gắng hướng đến
sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh. Ở các trường
THCS và các phòng Giáo dục hiện nay, việc nâng cao chất lượng đại trà, chăm
lo bồi dưỡng học sinh giỏi đang được nhiều cấp bộ chính quyền và nhân dân địa
phương quan tâm nhưng nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là thực hiện mục tiêu
giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Thực tế hiện nay ở các trường THCS về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
đã được chú trọng song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn,
phương pháp giảng dạy, và đặc biệt là môn Tin học chưa được chú trọng. Từ
những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt được như ý muốn.
Xuất phát từ thực tế trên, Tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “một
số phương pháp dạy học trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tin học ở
trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm –Triệu Phong- tỉnh Quảng Trị".
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số phương pháp đổi mới trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi
môn Tin học ở trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm-Triệu Phong - tỉnh Quảng
Trị.
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Cơ sở tâm lý học:
1.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh đối với môn Tin học:
Đối với khối THCS, hiện nay bộ môn Tin học vẫn được xem là môn học tự
chọn. Do vậy mà đa số học sinh vẫn không quan tâm cho lắm. Có một số ít học
sinh xem môn Tin học là học cho vui. Nhận thức của học sinh về môn học này
còn hạn chế. Bên cạnh đó vẫn có một số em học sinh rất yêu thích, đam mê.
1.2. Tư duy của học sinh :
Tư duy là quá trình các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối
tượng của các sự vật, hiện tượng được xem xét nghiên cứu trong quá trình học
tập ở học sinh.
Ở các em học sinh khối THCS thì tư duy vẫn còn thấp. Đặc biệt là môn lập
trình Pascal các em bước đầu làm quen nên khả năng tư duy vẫn còn hạn chế
nên việc phân tích để hiểu được bản chất của vấn đề là rất khó.
VD: Khi ra bài toán: Viết thuật toán để tìm ước chung lớn nhất của hai số.
Từ việc kiểm tra điều kiện:
If a > b then a:=a-b
Esle b:=b-a;
Kết quả: UCLN = a.
Các em học sinh đa số còn mơ hồ, chưa hình dung được.
2. Cơ sở ngôn ngữ :
Ngôn ngữ lập trình nói chung và ngôn ngữ lập trình Pascal nói riêng nhìn
chung là khó hiểu, có vẻ hơi trừu tượng. Đối với các em học sinh lớp 8, lớp 9
đôi lúc vẫn chưa hiểu được một số từ, một số câu lệnh và kể cả các thủ tục trong
ngôn ngữ đưa ra.
VD: Chương trình dịch, Fillchar,...
thể.
-Về chế độ: Nhà trường và Phòng Giáo dục thanh toán chế độ hợp lí cho
giáo viên.
+Bồi dưỡng cho trường: 20.000đ/tiết
+Bồi dưỡng cho Huyện: 40.000đ/tiết
-Khen thưởng:
Nhà trường và phòng Giáo dục và khuyến khích, động viên những giáo viên
bồi dưỡng có học sinh đạt giải cao trong các kì thi cấp huyện và cấp tỉnh.
Hàng năm Phòng Giáo Dục đã tổ chức trao thưởng cho các em học sinh đạt
giải nhất, nhì, ba cấp tỉnh và các giáo viên bồi dưỡng có thành tích xuất sắc.
Bên cạnh đó nhà trường tạo mọi điều kiện cần thiết đảm bảo cho công tác
bồi dưỡng đạt hiệu quả như: phòng học, chế độ bồi dưỡng của giáo viên, đồ
dùng dạy học... và đặc biệt là Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn thường
xuyên hội ý, rút kinh nghiệm trong từng giai đoạn bồi dưỡng, hiệu trưởng trực
tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.
Giáo viên: Hà Thị Diệp –Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm
4
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC
- Giáo viên bồi dưỡng thường là những giáo viên có năng lực giảng dạy tốt,
có uy tín trong học sinh, nhân dân và đồng nghiệp.
- Đời sống kinh tế của nhân dân được nâng cao, dân trí được phát triển vì
vậy nhận thức của phụ huynh học sinh về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được
sáng tỏ. Vì vậy việc cho con em tham gia các lớp bồi dưỡng được các phụ huynh
hết sức ủng hộ và tạo mọi điều kiện vật chất để con em mình tham gia.
* Khó khăn:
- Nhìn chung hiện nay, nhà trường đã chú ý bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN
TIN HỌC Ở TRƯỜNG THCS NGUYỄN BỈNH KHIÊM – TRIỆU PHONG
TỈNH QUẢNG TRỊ
Thiết nghĩ, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi nếu được đầu tư một
cách thích đáng và và tiến hành bài bản, kết quả sẽ khả quan hơn. Và kéo theo
đó là hứng thú của học sinh sẽ phần nào được cải thiện. Việc phát hiện bồi
dưỡng là việc cần phải ý thức thường xuyên, trước hết là đối với những giáo
viên trực tiếp giảng dạy. Năng khiếu càng được phát hiện và bồi dưỡng sớm bao
nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng phát hiện và bồi dưỡng như thế nào cho có
hiệu quả là cả một vấn đề cần được trao đổi kỹ lưỡng…
1- Vai trò của người thầy
Tục ngữ có câu: " Không thầy đố mày làm nên". Trước hết ta phải xác định rõ
vai trò của người thầy là hết sức quan trọng. Bởi vì, người thầy có vai trò dẫn
dắt học sinh các phương pháp giải toán, thuật toán, các phương pháp kiểm tra
kết quả, cách thức trình bày bài giải...
Nếu học sinh có kiến thức cơ bản tốt, có tố chất thông minh, mà không được
bồi dưỡng nâng cao tốt thì sẽ ít hiệu quả hoặc không có hiệu quả. Đồng thời giáo
viên phải biết phát hiện học sinh giỏi, lại phải lựa chọn đúng đối tượng học sinh
vào bồi dưỡng và phải tự soạn thảo chương trình bồi dưỡng một cách hợp lý,
khoa học, sáng tạo.
2-Phát hiện học sinh giỏi :
2.1. Thế nào là học sinh giỏi?
Học sinh giỏi trước hết phải là những học sinh có niềm say mê, yêu thích
môn học. Sự say mê ấy phải được biểu hiện thường xuyên, liên tục và bằng ý
thức tự giác trong học tập, như soạn bài cẩn thận chu đáo, luôn chủ động tiếp thu
kiến thức trong giờ học, đặc biệt phải thể hiện rõ ý thức trách nhiệm trong các
tiết học, thực hành rèn luyện kỹ năng mà giáo viên hướng dẫn. Sự say mê sẽ
giúp các em chịu khó tìm tài liệu để mở mang kiến thức. Và quan trọng hơn là
nó giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, tư duy trừu tượng và khả năng
chính khoá, tiến dần tới chương trình nâng cao ( tức là trước hết phải khắc sâu
kiến thức cơ bản của nội dung học chính khoá, từ đó vận dụng để mở rộng và
nâng cao dần).
Cần soạn thảo chương trình theo vòng xoáy: Từ cơ bản tới nâng cao, từ
đơn giản tới phức tạp. Đồng thời cũng phải có ôn tập củng cố.
Ví dụ: Cứ sau 2, 3 tiết củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao thì cần có
một tiết luyện tập để củng cố kiến thức; và cứ sau 5, 6 tiết thì cần có một tiết ôn
tập để củng cố khắc sâu. Cần Soạn thảo một tiết học có:
-Kiến thức cần truyền đạt ( lý thuyết, ví dụ, ...).
-Bài tập vận dụng.
-Bài tập về nhà luyện thêm (tương tự bài ở lớp).
Không nên xây dựng chương trình như sách nâng cao hiện nay vì như thế
học sinh khó nắm chắc, dễ nhầm lẫn. Mặt khác trong sách nâng cao có một số
bài quá khó đối với học sinh.
Một số giờ ôn tập, Giáo viên cần giúp các em tổng hợp các dạng bài, các
phương pháp giải theo hệ thống. Vì hầu hết các em chưa tự mình hệ thống đựơc
mà đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của giáo viên.
Điều cần thiết, giáo viên cần đầu tư nhiều thời gian, tham khảo nhiều tài
liệu để đúc rút, soạn thảo cô đọng nội dung chương trình bồi dưỡng.
Giáo viên cần hướng cho học sinh làm quen cách giải một bài toán cụ thể:
Phân tích kĩ bài toán để tìm INPUT và OUTPUT, xây dựng thuật toán tối ưu và
từ đó viết chương trình.
Giáo viên phải viết mẫu chương trình đối với một bài cụ thể và chỉ rõ cho
học sinh nên viết như thế nào cho đúng, đủ, đẹp để người đọc nhìn vào hiểu
ngay đoạn chương trình đó mình đang làm gì.
Cần lưu ý rằng: Tuỳ thuộc vào thời gian bồi dưỡng, khả năng tiếp thu của học
sinh mà lựa chọn mức độ bài khó và từng dạng luyện tập nhiều hay ít.
4- Dạy như thế nào cho đạt hiệu quả?
Trước hết cần chọn lọc những phương pháp giải dễ hiểu nhất để hướng
dẫn học sinh, không nên máy móc theo các sách giải.
bài toán.
Ví dụ 1: Kiểm tra tính nguyên tố của một số nguyên
Xác định bài toán:
- Input: N là một số nguyên dương
- Output: “ N là số nguyên tố” hoặc “N không là số nguyên tố”
Ý tưởng: Số nguyên tố là số > 1, có 2 ước là 1 và chính nó.
- Nếu N = 1 thì N không là số nguyên tố.
- Nếu 1< N< 4 thì N là số nguyên tố.
- Nếu N>=4 và không có ước số trong phạm vi từ 2 đến phần nguyên căn bậc
2 của N thì N là nguyên tố.
Ví dụ 2: Kiểm tra phân số tối giản
Xác định bài toán:
- Input: tử số (a); mẫu số (b)
- Output: phân số a/b tối giản hoặc phân số a/b không tối giản.
Ý tưởng: Phân số tối giản là phân số không còn chia hết cho số nào được
hết, nghĩa là ƯCLN của tử số và mẫu số bằng 1.
-Tìm ƯCLN(a,b)
-Kiểm tra:
Giáo viên: Hà Thị Diệp –Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm
8
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC
+Nếu ƯCLN(a,b)=1 thì a/b là phân số tối giản
+Nếu ƯCLN(a,b)1 thì a/b không là phân số tối giản
5.2. Rèn luyện kĩ năng viết thuật toán:
Ta có thể viết thuật toán theo hai cách
+Cách 1: Liệt kê
N là nguyên
tố
Kết thúc
Sai
N không là
nguyên tố
Kết thúc
Sai
N chia hết
cho i
Đúng
Giáo viên: Hà Thị Diệp –Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm
9
MT S PHNG PHP BI DNG HC SINH GII MễN TIN HC
Vớ d 2: Thuật toán giải phơng trình bậc hai (a 0).
+Cỏch 1: Lit kờ cỏc bc
B1: Bắt đầu;
B2: Nhập a, b, c;
B3: Tính = b2 4ac;
B4: Nếu < 0 => PT vô nghiệm => B7;
B5: Nếu = 0
=> PT có nghiệm kép x = -b/2a => B7;
B
7
KT
PT cú nghiờm kộp
=0
S
B
5
PT cú 2 nghiờm phõn bit
B
6
Giỏo viờn: H Th Dip Trng THCS Nguyn Bnh Khiờm
10
MT S PHNG PHP BI DNG HC SINH GII MễN TIN HC
Hoặc khi chúng ta hớng dẫn cho học sinh thuật toán tìm kiếm phần tử có
mặt trong dãy tăng cho trớc thì có nhiều cách nh: Tìm kiếm tuần tự hoặc tìm
kiếm nhị phân, và hớng cho học sinh đối với dãy tăng nên sử dụng thuật toán tìm
Else Writeln(Khong co BCNN );
Readln;
End.
Vớ d 2: Mt ma trn mxn s thc c cha trong mt file vn bn cú
tờn DULIEU.INP gm:
Giỏo viờn: H Th Dip Trng THCS Nguyn Bnh Khiờm
11
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC
-Dòng đầu tiên chứa hai số m, n
-m dòng tiếp theo lần lược chứa m hàng của ma trận.
Hãy viết chương trình đọc dữ liệu từ file DULIEU.INP, cho biết các hàng của
ma trận có tổng phẩn tử trên hàng đó lớn nhất. Kết quả ghi lên file văn bản có
tên DULIEU.OUT, trong đó dòng đầu tiên chứa giá trị lớn nhất của tổng các
phần tử trên một hàng, dòng thứ hai chứa chỉ số các hàng đạt giá trị tổng lớn
nhất đó.
Chẳng hạn:
DULIEU.INP
DULIEU.OUT
56
39
346792
35
246874
987654
456786
457698
else If S[i] = max then
Giáo viên: Hà Thị Diệp –Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm
12
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC
T:=t+[i];
Assign(G, F0); Rewrite(G);
Writeln(G, max:0:2);
For i:= 1 to m do
if i in T then write(g, i, #32);
Close(G);
Readln;
End.
6- Kết quả đạt được:
Qua hai năm học liên tiếp được nhà trường và Phòng Giáo dục phân công
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tin học, với việc áp dụng các phương pháp nói
trên cùng với sự phấn đấu quyết tâm cả thầy và trò tôi đã đạt được một số kết
quả sau:
*Năm học 2008-2009:
Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hóa:
*Năm học 2009-2010:
Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hóa:
+Số học sinh đạt giải cấp huyện:
+Số học sinh đạt giải cấp huyện:
+Giải ba: 2 em
+Giải khuyến khích: 2 em
+Giải khuyến khích: 2 em
Tóm lại:
Qua những năm bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy rằng: Người thầy
cần không ngừng học hỏi và tự học hỏi để nâng cao trình độ đúc rút kinh
nghiệm, thường xuyên xây dựng, bổ sung chương trình và sáng tạo trong
phương pháp giảng dạy.
Như vậy, để đưa con thuyền đến bến bờ vinh quang thì vai trò của người
cầm lái thật vô cùng quan trọng.
Trên đây là một số kinh nghịêm nhỏ của tôi bản thân tôi đã áp dụng và thu
được kết quả rất khả quan. Tuy nhiên, chắc hẳn vẫn chưa phải là tối ưu, xin đưa
ra để đồng nghiệp tham khảo, vận dụng và góp thêm ý kiến.
Giáo viên: Hà Thị Diệp –Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm
13
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC
PHẦN KẾT LUẬN
1. Một số kết luận:
Qua nghiên cứu trình bày ở trên chúng tôi khẳng định mục đích nghiên cứu
đặt ra đã được hoàn tất. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi xin rút ra một số
kết luận sau: