Kinh nghiệm bảo tồn và phát triển Vườn quốc gia Bạch
Mã
Voọc ngũ sắc, vườn quốc gia Bạch Mã - Ảnh: ST
1. Khái quát về Vườn quốc gia Bạch Mã
Theo Quyết định số 01/QĐ -TTg ngày 02/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ, Vườn
quốc gia Bạch Mã (VQGBM) có tổng diện tích 37.487 ha, trong đó được quy
hoạch thành: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (12.064,8 ha); phân khu phục hồi
sinh thái (20.234 ha); phân khu dịch vụ hành chính (5.188,2) ha. VQGBM theo
quy hoạch mới được nằm trên địa bàn hành chính của hai tỉnh Thừa Thiên - Huế
và Quảng Nam.
Bạch Mã có một vị trí địa lý đặc biệt là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn Bắc, là trung
tâm của dải rừng xanh tự nhiên còn lại duy nhất ở Việt Nam nối từ biển đến biên giới
Việt - Lào, nơi có hệ sinh thái rất phong phú và đa dạng về hệ động thực vật mang tính
đặc trưng là có sự giao thoa giữa hai luồng khí hậu miền Bắc và miền Nam; núi rừng
tự nhiên của Bạch Mã còn là trung tâm nối các quần thể di sản văn hoá vật thể và phi
vật thể của hai tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam đã được UNESCO công nhận.
Bạch Mã còn là khu nghỉ mát nổi tiếng từ thời Pháp thuộc, khí hậu mát mẻ về mùa
hè, lại gần các bãi biển nổi tiếng như Cảnh Dương, Lăng Cô, nên Bạch Mã được ví
như Đà Lạt của miền Trung.
Tính đa dạng sinh học của VQGBM
VQGBM có 2.147 loài thực vật (trong đó có 185 loài là đặc hữu của Việt Nam, 54
loài quí hiếm được đưa vào sách Đỏ Việt Nam); trong đó 3 ngành nấm 332 loài; 1 ngành
rêu với 87 loài; 4 ngành khuyết thực vật gồm 180 loài; và 2 ngành thực vật có hạt gồm
1.548 loài (hạt trần có 21 loài). Về động vật có 1.534 loài, trong đó lớp côn trùng có 894
loài; lớp cá xương có 57 loài; lưỡng cư bò sát có 93 loài thuộc; lớp chim có 358 loài; lớp
thú có 132 loài.
Tuy nhiên, hệ sinh thái rừng nhiều nơi đã bị suy thoái, do bom đạn và chất độc màu
da cam trong chiến tranh, tình hình khai thác lâm sản trái phép và săn bắt động vật rừng
diễn khá ra phổ biến ở nhiều địa phương, tập quán của đồng bào dân tộc phát rừng làm
nương rẫy, tình trạng mở rộng trồng cây nông nghiệp, công nghiệp, dân số ngày càng tăng
cao, nhận thức bảo tồn còn hạn chế, năng suất cây trồng thấp, thiên tai lũ lụt hạn hán
VQGBM đã thường xuyên tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân bằng nhiều hình
thức để nâng cao nhận thức bảo tồn đa dạng sinh học, nhằm ngăn chặn việc phá rừng, săn
bắt động rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng,... như tổ chức 58 đợt truyền thanh
lưu động, 116 cuộc họp ký cam kết cho hơn 2.097 hộ sống ven rừng, phát hàng vạn tờ rơi,
làm áp phích, xây dựng quy chế bảo tồn, hương ước bảo vệ rừng cho thôn bản, đối thoại
với phường hội thợ săn, các hội đoàn ở các địa phương, chuyển biến tích cực từ phương
thức “chống” sang phương thức ”phòng” là chính.
Hoạt động giáo dục môi trường đã mang lại những kết quả hết sức khả quan, được
dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Trong điều kiện nguồn ngân sách còn hạn chế,
nhờ sự tài trợ kinh phí của các tổ chức như UNDP, WWF, SNV, DED... VQGBM đã tổ
chức một mạng lưới cộng tác viên tình nguyện tiến hành một số chương trình giáo dục
nâng cao nhận thức bảo tồn như: duy trì chương trình giáo dục môi trường với ấn phẩm
“Cây là bạn của chúng ta”, thành lập được 46 câu lạc bộ Xanh cho 17 trường trung học,
thành lập Đội Tình nguyện Xanh Bạch Mã, đánh dấu một bước ngoặc mới trong nhận thức
của thanh niên địa phương đối với công tác bảo vệ thiên nhiên và môi trường. VQHBM
cũng đã tổ chức sinh hoạt hè với các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ "Chú ếch con", thử
nghiệm "Trại khám phá thiên nhiên Bạch Mã"..., cung cấp hơn 80.000 ấn phẩm "Rừng
xanh", 3.200 cuốn vở và 50.000 nhãn vở với các thông điệp về bảo tồn đa dạng sinh học
cho học sinh ở vùng đệm của vườn; và nhiều hoạt động khác như tổ chức biểu diễn văn
nghệ, múa rối, chiếu phim, thi vẽ tranh về chủ đề bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên đa
dạng sinh học ...
Chính nhờ làm tốt công tác giáo dục môi trường nên đã nâng cao được nhận thức,
làm thay đổi hành vi và cảm hóa nhiều đối tượng trong xã hội, họ đã có thái độ ứng xử tốt
hơn trong việc gìn giữ môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, nhiều người đã chuyển đổi
ngành nghề, khai thác tài nguyên đa dạng sinh học một cách lâu dài và bền vững hơn, tham
gia phát triển rừng và nhận khoán bảo vệ rừng tự nhiên...
2.2. Phát triển du lịch sinh thái bền vững, khuyến khích cộng đồng tham gia các hoạt
động dịch vụ du lịch
Du lịch sinh thái (DLST) là một dạng du lịch tự nhiên có trách nhiệm hỗ trợ cho
các mục tiêu bảo vệ đa dạng sinh học và góp phần vào việc phát triển nông thôn, nên du
Một trong những giải pháp mang tính chiến lược lâu dài nhằm từng bước xã hội
hóa công tác bảo vệ rừng là việc chú trọng phối hợp cùng chính quyền địa phương trong
công tác phát triển kinh tế vùng đệm, nhằm góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cộng
đồng, giảm sức ép vào vườn, trên nguyên tắc gắn quyền lợi và nghĩa vụ để khuyến khích,
động viên, cộng đồng tham gia bảo tồn đa dạng sinh học.
Trong những năm qua, nhờ sự hỗ trợ của các tổ chức như UNDP, SNV Tropenbos,
Đại sứ quán Đức, Đại sứ quán Anh, WWF, DED, EnBW... đã triển khai nhiều dự án nhỏ
đầu tư trực tiếp cho cộng động vùng đệm hưởng lợi như: hỗ trợ cho nông dân vay vốn luân
phiên phát triển sản xuất, xây dựng bếp đun tiết kiệm nhiên liệu, hỗ trợ và chuyển giao
công nghệ kỹ thuật trong trồng trọt lúa nước, xây dựng thủy lợi nhỏ, xây dựng nguồn nước
tự chảy, phát triển mô hình du lịch cộng đồng, nuôi cá nước ngọt, cung cấp con giống gia
súc, gia cầm chăn nuôi (dê, lợn...), xây dựng vườn thuốc nam gia đình, nâng cao nhận thức
bảo tồn...
Vườn đã tổ chức bàn giao 1.442 ha rừng trồng phòng hộ thuộc chương trình 327,
661 tại vùng đệm cho hàng trăm hộ gia đình của cộng đồng địa phương thuộc hai huyện
Phú Lộc và Nam Đông theo chính sách 178.
Ngoài ra, đơn vị còn hỗ trợ về kỹ thuật xây dựng mô hình nông lâm kết hợp trồng
xen cây ăn quả và cây bản địa để cải tạo vườn tạp cho 450 hộ dân của các xã vùng đệm
thông qua các lớp tập huấn về chuyển giao công nghệ kỹ thuật. Kết quả đã có 150 hộ xây
dựng mô hình này với tổng diện tích là 82 ha đã được đầu tư 11.100 cây bản địa, 2.220 cây
ăn quả, 9.000 cây tre điền trúc. Hàng năm, Vườn đã hợp đồng với hàng trăm lao động
trồng từ 50 -100 ha rừng đặc dụng, khoán bảo vệ rừng 8.000 ha và khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh 500 ha rừng tự nhiên theo chương trình 661 để thực hiện mục tiêu phục hồi hệ sinh
thái và bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn. Nhờ đó mà không ngừng xây dựng, hoàn thiện
và nâng cao chất lượng, hiệu quả của lực lượng khoán bảo vệ rừng hoạt động tập trung
gồm các nhóm hộ gia đình kết hợp với lực lượng kiểm lâm tạo thành sức mạnh tổng hợp
hoạt động có hiệu quả hơn. Đây được xem như một mô hình xã hội hóa công tác quản lý
bảo vệ và phát triển rừng trên cơ sở gắn liền giữa quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng
dân cư địa phương theo các chương trình dự án. Chính sự đầu tư lồng ghép từ những
chương trình này đã góp phần không nhỏ để cải tạo đời sống kinh tế của đại đa số cộng