Sở hữu và chế độ sở hữu - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
I - mở đầu
Quan hệ sở hữu là một nội dung quan trọng nhất của quan hệ sản xuất.
Đó là quan hệ kinh tế giữa ngời với ngời trong sự chiếm hữu hay nói cách
khác đó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải. Do đó, cũng nh quan
hệ sản xuất, sự vận động của quan hệ sở hữu về hình thức, mức độ và phạm vi
không phải là ý muốn chủ quan của con ngời mà là khách quan do trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất quy định.
Đi theo sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội trong lịch sử, từ ph-
ơng thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản
chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản ta thấy tơng ứng với mỗi lực lợng sản xuất
thì cũng có các quan hệ sở hữu khác nhau, từ đó mà cũng tồn tại các quan hệ
sản xuất khác nhau. Tức là sự phát triển của sở hữu là một quá trình lịch sử tự
nhiên.
Trong điều kiện quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay, do nền
sản xuất cha qua chủ nghĩa t bản nên trình độ xã hội hoá của lực lợng sản
xuất vẫn ở mức thấp. Trong nền kinh tế tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở
hữu khác nhau. Tơng ứng với mỗi hình thức sở hữu này là các hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh khác nhau. Do đó, trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa
xã hội ở nớc ta hiện nay tất yếu tồn tại kinh tế nhiều thành phần.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II - Nội dung
1. Trớc hết, ta đi sâu làm rõ các khái niệm về sở hữu và chế độ sở
hữu.
Sở hữu là một phạm trù kinh tế cơ bản và xuất phát của kinh tế chính
trị học. Đó là quan hệ kinh tế giữa ngời với ngời trong sự chiếm hữu của cải.
ở đây, quan hệ sở hữu không phản ánh mối quan hệ giữa ngời với vật mà nó
phản ánh quan hệ giữa ngời với ngời đối với vật.
Nội dung của quan hệ sở hữu đợc xét trên hai mặt.
- Thứ nhất: Xét về mặt pháp lý, sở hữu đợc luật pháp hoá thành các

trong bất cứ xã hội nào. Nhận thức đợc điều này, đến Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, trên quan điểm thẳng thắn, Đảng ta đã thừa nhận sai lầm trên;
chúng ta cho phép nền kinh tế tồn tại đa hình thức sở hữu trong thời kỳ quá
độ. Những thành tựu to lớn trong những năm đổi mới vừa qua đã chứng tỏ
tính đúng đắn của chế độ sở hữu ở nớc ta hiện nay.
Chế độ sở hữu bao gồm 3 nội dung:
- Thứ nhất là nội dung vật chất của sở hữu hay còn gọi là đối tợng của
sở hữu, nó bao gồm sở hữu t liệu tiêu dùng, sở hữu t liệu sản xuất, sở hữu
vốn, sở hữu chất xám, sở hữu bản quyền, sở hữu thị trờng...
- Thứ hai là nội dung kinh tế của sở hữu.
- Thứ ba là nội dung pháp lý của sở hữu.
Ba mặt trên của chế độ sở hữu thống nhất với nhau và chỉ có thể đảm
bảo tính thống nhất của ba mặt đó thì chế độ sở hữu mới phát huy đợc hiệu
quả và không trở thành hình thức.
Trong chế độ sở hữu, cần phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử
dụng t liệu sản xuất.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Trong nền kinh tế tự cung tự cấp và trong nền sản xuất hàng hoá nhỏ
thì quyền sở hữu và quyền sử dụng t liệu sản xuất là đồng nhất với nhau. Đó
là sở hữu của những nông dân và thợ thủ công. Ngời sở hữu cũng là ngời sử
dụng t liệu sản xuất đó.
- Trong nền kinh tế t bản chủ nghĩa thì quyền sở hữu và quyền sử dụng
t liệu sản xuất lại có những diễn biến đa dạng do sự xuất hiện của nhiều loạ
hình sở hữu, nhiều chủ thể sở hữu và các cấp độ khác nhau. Do đó, quyền sở
hữu và quyền sử dụng có thể thuộc về chủ thể duy nhất, cũng có thể là quyền
sở hữu thuộc ngời này nhng quyền sử dụng lại thuộc về ngời khác, tức là có
sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Thí dụ, trong chủ nghĩa t
bản, giai cấp địa chủ vẫn có quyền sở hữu đối với ruộng đất, nhng quyền sử
dụng lại thuộc về nhà t bản kinh doanh nông nghiệp thuê ruộng đất đó của

thức sản xuất xã hội là nhân tố có ý nghĩa quyết định.
Với t cách là những ngời sáng lập ra trờng phái kinh tế chính trị
Mácxít, Mác và Ănghen không phải chỉ một lần bàn về vấn đề sở hữu. Đặc
biệt trong tác phẩm "Tuyên ngôn Cộng sản", ông đã nhấn mạnh: "Chủ nghĩa
cộng sản không xoá bỏ của ai quyền chiếm hữu các của cải mà chỉ xoá bỏ
việc dùng những của cải ấy để nô dịch lao động của ngời khác". Để nhấn
mạnh quan điểm về sự biến đổi của các hình thức sở hữu nh là quá trình lịch
sử tự nhiên, Ăng hen khuyên rằng: "Không thể xoá bỏ ngay t hữu và thiết lập
ngay chế độ công hữu về t liệu sản xuất" bởi vì sự tồn tại của các hình thức sở
hữu là khách quan, do trình độ phát triển của lực lợng sản xuất quyết định.
b. Về mặt thực tiễn, ta đi sâu phân tích các chế độ sở hữu đã từng tồn
tại trong lịch sử tơng ứng với các phơng thức sản xuất nhất định.
- Trong phơng thức sản xuất Cộng sản nguyên thuỷ, chế đọ sở hữu là
sở hữu tập thể của các thị tộc và bộ lạc về t liệu sản xuất cũng nh của cải
kiếm đợc.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ở chế độ cộng sản nguyên thuỷ, hình thức sản xuất chủ yếu là săn bắn,
hái lợm, công cụ sản xuất rất thô sơ, chủ yếu là cung tên, rìu đá. Tổ chức xã
hội dới hình thái các thị tộc, bộ lạc. Do đặc điểm tổ chức xã hội và trình độ
phát triển của sản xuất rất thấp nh vậy nên hình thức sở hữu trong xã hội cộng
sản nguyên thuỷ đó là sở hữu tập thể và các t liệu sản xuất và từ đó cũng sở
hữu tập thể về thức ăn, của cải kiếm đợc. Mọi ngời trong bộ lạc đều phải đi
săn bắn, hái lợm đem về trong các hang đá, và cùng ăn, cùng hởng. Nh vậy, t-
ơng ứng với trình độ phát triển rất thấp của lực lợng sản xuất trong phơng
thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ là chế độ sở hữu tập thể của các thị tộc,
bộ lạc về các t liệu sản xuất (chú ý phân biệt chế độ sở hữu tập thể này với
hình thức sở hữu tập thể trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam hiện nay, chúng
khác nhau rất nhiều về trình độ xã hội hóa của lực lợng sản xuất).
Khi các công cụ sản xuất dần phát triển, lực lợng sản xuất phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status