giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh bắc giang - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HOÀNG VĂN TỨ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH

: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ

: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ QUANG GIÁM

HÀ NỘI, NĂM 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè đã nhiệt
tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài.
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn

Hoàng Văn Tứ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................... v
DANH MỤC HÌNH ..............................................................................................vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................viii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1.1.

Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ..................................................................... 3

1.2.1 Mục tiêu chung ............................................................................................. 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ............................................................................................. 3


Page iii


3.2.3. Xử lý và tổng hợp thông tin ........................................................................ 49
3.2.4. Phân tích thông tin ...................................................................................... 49
3.2.5. Hệ thống các tiêu chí và chỉ tiêu nghiên cứu ............................................... 50
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................... 51
4.1.

Thực trạng chất lượng công chức cấp xã tỉnh Bắc Giang ............................ 51

4.1.1. Tình hình số lượng công chức cấp xã.......................................................... 51
4.1.2 Đánh giá của người dân và doanh nghiệp về chất lượng công chức cấp
xã qua các chỉ tiêu tổng hợp ....................................................................... 58
4.2.

Các yếu tố ảnh hưởng đến trình độ công chức cấp xã tỉnh Bắc Giang ......... 82

4.2.1 Phân tích SWOT của công chức cấp xã tỉnh Bắc Giang ............................. 82
4.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng ................................................................................. 85
4.3.

Giải pháp nâng chất lượng độ công chức cấp xã tỉnh Bắc Giang ................. 88

4.3.1. Căn cứ đề xuất ............................................................................................ 88
4.3.2. Quan điểm, mục tiêu và định hướng ........................................................... 89
4.3.3. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
tỉnh Bắc Giang ..................................................................................93
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................ 105

Bảng 4.4. Thực trạng chất lượng công chức cấp xã năm 2013 của tỉnh
Bắc Giang ở các huyện điều tra................................................... 57
Bảng 4.5. Ý kiến của người dân và doanh nghiệp về thực hiện nhiệm
vụ của công chức Trưởng Công an xã tại các huyện điều tra....... 60
Bảng 4.6. Ý kiến của người dân và doanh nghiệp về thực hiện nhiệm
vụ của công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã tại các
huyện điều tra ............................................................................. 62
Bảng 4.7. Ý kiến của người dân và doanh nghiệp về thực hiện nhiệm
vụ của công chức Địa chính- Xây dựng cấp xã tại các huyện
điều tra........................................................................................ 65
Bảng 4.8. Ý kiến của người dân và doanh nghiệp về thực hiện nhiệm
vụ của công chức Văn hóa - Xã hội cấp xã tại các huyện
điều tra........................................................................................ 68
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page v


Bảng 4.9. Ý kiến của người dân và doanh nghiệp về thực hiện nhiệm
vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã tại các huyện
điều tra........................................................................................ 71
Bảng 4.10. Ý kiến của người dân và doanh nghiệp về thực hiện nhiệm
vụ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã tại các
huyện điều tra ............................................................................. 74
Bảng 4.11. Ý kiến của người dân và doanh nghiệp về thực hiện nhiệm
vụ của công chức Tài chính - Kế toán cấp xã tại các huyện
điều tra........................................................................................ 77
Bảng 4.12 Tổng hợp ý kiến của cán bộ cấp trên về thực hiện nhiệm vụ
của công chức cấp xã .................................................................. 81
Bảng 4.13. Tổng hợp ý kiến của cán bộ, công chức cấp trên về những yêu


Chủ nghĩa xã hội

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

HĐND

Hội đồng nhân dân

HĐH

Hiện đại hóa

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

QLNN

Quản lý nhà nước

UBND

Ủy ban nhân dân

THPT

Trung học phổ thông

song cũng có nhiều khó khăn, nguy cơ thách thức. Do vậy, đòi hỏi Đảng ta phải xây
dựng cho được một đội ngũ chủ chốt cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội từ
Trung ương đến cơ sở có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ,
năng lực thực tiễn đáp ứng tình hình thực tế và mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ IX đề ra: “Xây dựng đội ngũ cán bộ trước hết là cán bộ lãnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 1


đạo và quản lý các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sáng
về lối sống và có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân
dân”. Vì vậy, chỉ có chủ động xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ vững mạnh, Đảng
mới đủ khả năng lãnh đạo, tổ chức toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Công chức cấp xã là người trực tiếp tiếp thu, quán triệt và triển khai tổ chức
thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cấp
xã, việc chăm lo xây dựng đội ngũ công chức ở cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực là
nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu
dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhà nước ta. Đội ngũ công chức hiện
nay đã trưởng thành về mọi mặt, phát triển cả về số lượng và chất lượng, được rèn
luyện, thử thách từ thực tiễn, có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có kiến thức, có ý thức tổ chức kỷ luật... cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
được giao, đảm bảo cho sự lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tếxã hội, quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước đến thắng lợi cuối cùng vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thời gian qua, các địa phương đã có nhiếu cố gắng trong việc củng cố, nâng
cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, tuy nhiên kết quả đạt được còn hạn chế.
Đánh giá thực trạng này, Đại hội X của Đảng khẳng định: “Năng lực và phẩm chất
của nhiều cán bộ, công chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hoá, biến chất.
Dân chủ ở nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm. Quan liêu, tham

thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân và những vấn đề cần quan tâm giải quyết liên
quan đến nội dung này.
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Bắc Giang, bao gồm các
chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa
chính- xây dựng- đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chínhnông nghiệp- xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp hộ tịch; Văn hoá - xã hội.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
* Không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Bắc Giang. Để làm rõ được các vấn đề
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


nội dung nghiên cứu đặt ra, đề tài tiến hành điều tra tại một số huyện, xã có tính đại
diện cho vùng nghiên cứu về đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang.
* Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ những tiêu chí phản ánh chất lượng đội ngũ công
chức cấp xã và những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức này.
Cụ thể là 7 chức danh ở phần nội dung được đề cập.
* Thời gian nghiên cứu
Số liệu thứ cấp chủ yếu thu thập từ năm 2011 đến 2013.
Số liệu sơ cấp chủ yếu thu thập trong năm 2014.
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

tư nguyện vọng của nhân dân. Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


khả năng phát triển kinh tế, xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Chính quyền được hiểu là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của Nhà nước
và hoạt động của nó mang tính chất quyền lực của Nhà nước, bằng phương thức tác
động của Nhà nước. Cấp xã là đơn vị cấp dưới cùng trong hệ thống chính quyền của
nước ta, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở,
thực hiện việc quản lý hành chính Nhà nước trên địa bàn.
Từ những phân tích trên đây, có thể khái quát khái niệm chính quyền cấp xã
như sau: Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND là cấp cuối cùng trong hệ
thống chính quyền 4 cấp ở nước ta, thực hiện quyền lực Nhà nước ở địa phương, có
chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa
phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương,
theo Hiến pháp, pháp luật và các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định của cấp trên.
* Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã có những đặc điểm cơ bản như sau:
Một là: Chính quyền cấp xã có HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan
hành chính Nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp thực
hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa Nhà nước và
nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân.

Năm là: Các đơn vị hành chính cấp xã được hình thành trên nền tảng những
địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất. Mọi vấn
đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải được giải quyết trên
cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và giữa dân cư với nhau. Chính
quyền ở đây không chỉ là cơ quan cai trị, quản lý mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích
chung của dân cư.
Trong khi tổ chức quyền lực Nhà nước ở cấp trung ương có việc phân chia,
hoặc phân công phân nhiệm một cách rạch ròi giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Cấp huyện, cấp tỉnh cũng có cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân
dân. Riêng cấp xã trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền chỉ có HĐND là cơ quan
quyền lực Nhà nước ở địa phương và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là
cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, thậm chí UBND cấp xã trong nhiều
trường hợp còn phải kiêm nhiệm luôn cả chức năng tư pháp (xét xử, hòa giải).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


2.1.1.2 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã
* Quan niệm về công chức cấp xã:
Trong quá trình xây dựng và phát triển khái niệm công chức được nhìn nhận,
xác định rộng, hẹp khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng thời kỳ khác nhau
như: Sắc lệnh 76/SL năm 1950 về Quy chế công chức Việt nam; Pháp lệnh cán bộ,
công chức năm 2003. Đến nay khái niệm cán bộ, công chức nói chung và công chức
cấp xã nói riêng do Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực chính thức từ
ngày 01/01/2010 quy định: Cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ

đ) Tài chính - kế toán;
e) Tư pháp - hộ tịch;
g) Văn hoá - xã hội.
* Quan niệm về chất lượng:
Để đánh giá chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã thì
chất lượng công chức thực thi nhiệm vụ trực tiếp là tiêu chí rất quan trọng.
Theo Triết học, chất lượng biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ
rõ nó là cái gì làm cho nó chính là nó và phân biệt với những cái khác. Chất lượng
là đặc tính khách quan của sự vật, nó biểu hiện bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là
cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó sự vật như một tổng thể,
bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản
thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự
thay đổi cả sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính
qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy. Mỗi sự vật
bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng năm
2000 định nghĩa: “ Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người,
một sự vật, sự việc”.
Khi đánh giá chất lượng công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng
thế nào là chất lượng công chức cấp xã, vì chất lượng công chức cấp xã được xem
xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Chất lượng công chức cấp xã được biểu hiện
thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở; được đánh giá dưới góc độ
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; trình độ năng lực; khả năng hoàn thành
nhiệm vụ; khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


Về phẩm chất chính trị:
Phẩm chất chính trị là tiêu chuẩn được đặt lên hàng đầu, có tính chất quyết
định đến chất lượng hoạt động của công chức. Phẩm chất chính trị là yêu cầu cơ bản
của mỗi công chức trong các giai đoạn khác nhau.
Phẩm chất chính trị của công chức được biểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt
đối với lý tưởng cách mạng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật
của Nhà nước; quyết tâm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà
nước, tổ chức thực hiện sát với tình hình thực tiễn của địa phương. Phẩm chất chính trị
là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng hết
sức vì sự nghiệp của nhân dân. Phẩm chất chính trị là bản lĩnh chính trị vững vàng,
kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đối với người cán bộ, công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng có
phẩm chất chính trị tốt là người phải có tinh thần trách nhiệm cao trong thực thi
nhiệm vụ, không thờ ơ, không dửng dưng trước những vấn đề xã hội quan tâm, nhất
là về kinh tế-xã hội; luôn trăn trở trước yếu kém, hạn chế của địa phương so với địa
phương khác và cả nước; quyết tâm tìm cách tháo gỡ những khó khăn nhằm đưa địa
phương mình ngày càng phát triển.
Phẩm chất chính trị của công chức cấp xã còn thể hiện ở ý thức tuân thủ kỷ
luật Đảng, luôn đi đầu trong chấp hành pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống
lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với với đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Về phẩm chất đạo đức:
Trong đánh giá chất lượng công chức, các tiêu chí có quan hệ mật thiết với
nhau, nhưng 2 tiêu chí được xem là căn bản đó là đức và tài trong đó đức là gốc.

Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân.
Chính tức là việc phải thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh.
Bác nói: "Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu
không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chímh thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của
dân". Ngay từ những ngày đầu xây dựng chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
"Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ
vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ
có tài năng hơn mình".

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


Về trình độ năng lực:
Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi trường và trách nhiệm, vị
thế của mỗi người, mỗi công chức trong những điều kiện cụ thể nhất định.
Năng lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu
tương đối dễ dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động
nào đó một cách có kết quả. Năng lực là tổng hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý
phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho
hoạt động đó đạt được kết quả. Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư
chất tự nhiên của cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục
và hoạt động thực tiễn, cũng như tự rèn luyện của cá nhân.
Năng lực ở con người có nhiều cấp độ khác nhau, ở cấp độ cao thì đó là tài
năng - thiên tài. Cần phân biệt sự kém hiểu biết với sự thiếu năng lực. Trong những
điều kiện bên ngoài như nhau, ở những con người khác nhau có thể tiếp thu những
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo với nhịp độ khác nhau. Có người tiếp thu nhanh
chóng; có người phải tốn nhiều thời gian và sức lực; ở người này có thể ở mức điêu
luyện, ở người khác chỉ ở mức trung bình. Khi xem xét bản chất của năng lực, cần

phải được đào tạo sâu về nghề mình phụ trách, phải am hiểu công việc chuyên
môn do mình được giao, phải có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Đồng thời,
người công chức phải có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh
nghiệm. Người công chức phải có khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông
tin, khả năng tham mưu và quyết định đúng đắn, kịp thời. Vì vậy, việc nâng cao
nhận thức, trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện cho công chức cấp xã
là vấn đề quan trọng trong mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã nói chung.
Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao: đội ngũ công chức của nước ta
hiện nay đông nhưng không mạnh. Do những hạn chế về trình độ văn hóa, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế... đã dẫn tới hạn chế
trong năng lực thực thi điều hành công việc, lúng túng trong việc lập kế hoạch,
trong việc xử lý tình huống khi kế hoạch đưa ra không phù hợp thực tiễn. Xây dựng
đội ngũ công chức cấp xã vừa phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước, vừa
thuận theo ý Đảng, lòng dân, trẻ hóa đội ngũ này là nhu cầu, là đòi hỏi khách quan
của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, làm cho đội ngũ công chức
tràn đầy sức sống. Nơi nào mà cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, có nhiều công chức
mới ở đó công việc sẽ tiến triển tốt hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ:"... cán
bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ; họ nhanh nhẹn hơn, thường giầu sáng kiến
hơn". Đội ngũ công chức không được tri thức hóa và chuyên môn hóa thì không thể
hoàn thành nhiệm vụ. Công chức có tư cách, tác phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý
phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ cái đúng, đấu tranh chống những tiêu
cực, quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức nói chung; có mối quan
hệ tốt với các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status