BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------------------
LÊ VIỆT ANH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG,
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN Ở THÀNH
PHỐ TUYÊN QUANG - TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------------------
LÊ VIỆT ANH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG,
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN Ở THÀNH
PHỐ TUYÊN QUANG - TỈNH TUYÊN QUANG
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy
cô giáo và sự giúp đỡ của cơ quan, đồng nghiệp và nhân dân địa phương.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Nguyễn Khắc Thời đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa
Quản lý đất đai – Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập thể ban bồi
thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng thành phố Tuyên Quang, Phòng Tài nguyên
và Môi trường thành phố Tuyên Quang, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố
Tuyên Quang, các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các phường Minh Xuân, Ỷ
La, Tân Hà đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng
nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề
tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Việt Anh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1.4.1. Một số quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường đất................... 24
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
1.4.2. Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất ở một số tỉnh, thành phố trong giai đoạn hiện nay ........................................ 26
1.5. Tình hình thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất của tỉnh
Tuyên Quang ..................................................................................................... 28
1.5.1. Các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách pháp luật về công tác bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất ....................................................................... 28
1.5.2. Kết quả thực hiện chính sách pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất của thành phố Tuyên Quang ........................................................................ 31
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 34
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 34
2.2. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 34
2.3. Phương pháp nghiên cứu. ........................................................................... 34
2.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu thông tin .................................................... 34
2.3.2. Phương pháp thống kê và xử lý số số liệu thống kê .................................. 36
2.3.3. Phương pháp so sánh ............................................................................... 36
2.3.4. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia .............................................. 36
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN................................. 37
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Tuyên Quang ................ 37
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 37
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ......................................................................... 38
3.2. Thực trạng quản lý và sử dụng đất đai ........................................................ 40
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất ............................................................................. 40
3.2.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất tại thành phố Tuyên Quang. ................. 41
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Thực trạng phát triển kinh tế của thành phố Tuyên Quang giai đoạn
2011 - 2013 ....................................................................................................... 39
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang năm 2013 ......... 40
Bảng 3.3. Tổng hợp thông tin của các dự án nghiên cứu .................................... 45
Bảng 3.4: Xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và không được bồi
thường, hỗ trợ .................................................................................................... 48
Bảng 3.5: Kết quả điều tra ý kiến của người có đất bị thu hồi về đối tượng và
điều kiện được bồi thường ................................................................................. 49
Bảng 3.6: Tổng hợp đơn giá bồi thường về đất tại 3 dự án ................................. 51
Bảng 3.7: Kết quả điều tra ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc xác định
giá bồi thường về đất và tài sản trên đất ............................................................. 53
Bảng 3.8: Mức hỗ trợ tại 3 dự án nghiên cứu ..................................................... 59
Bảng 3.9: Kết quả điều tra ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện
các chính sách hỗ trợ ......................................................................................... 59
Bảng 3.10: Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất........................ 61
Bảng 3.11: Tình hình an ninh trật tự xã hội sau khi thu hồi đất .......................... 63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
4
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
5
CP
Chính phủ
6
GPMB
Giải phóng mặt bằng
7
HĐND
Hội đồng nhân dân
8
UBND
Ủy ban nhân dân
14
TN và MT
Tài nguyên và Môi trường
15
TT-BTC
Thông tư - Bộ tài chính
16
TB-STC
Thông báo - Sở tài chính
17
TB-SXD
Thông báo - Sở xây dựng
18
TP
Thành phố
các vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt
bằng Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25/05/2007, Nghị định số 69/2009 ngày 13/08/2009 quy định bổ sung về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất,
quy hoạch sử dụng đất, giá đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
Hiện nay, các quy định của pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng
khi Nhà nước thu hồi đất cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước
và giải quyết được quyền lợi của người bị thu hồi đất, từng bước khắc phục được
những tồn tại, vướng mắc trước đây.
Tuy nhiên, do đặc thù của từng địa phương khác nhau, việc quy định về
chính sách bồi thường còn mang tính chất chung chung, chưa quy định chi tiết
đến từng trường hợp cụ thể, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của
địa phương theo thẩm quyền chưa đầy đủ, chặt chẽ nên công tác giải phóng mặt
bằng cũng còn không ít khó khăn, vướng mắc.
Vì vậy việc điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá có cơ
sở khoa học, để đề xuất việc bổ sung, hoàn thiện chính sách bồi thường và có các
giải pháp cụ thể thằm thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, đảm bảo lợi ích
hợp pháp của người sử dụng đất có đất bị thu hồi, góp phần thiết lập trật tự, kỷ
cương pháp luật, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc bồi thường
giải phóng mặt bằng.
Trong thời gian qua, thành phố Tuyên Quang đã không ngừng phát triển
cả về không gian và tính chất đô thị, cụ thể là: đã điều chỉnh mở rộng địa giới
hành chính thêm 5 xã của huyện Yên Sơn, thành lập thêm 04 phường (năm
2008), được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III (năm 2009), được Chính
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn thành phố Tuyên Quang.
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần thực hiện công tác bồi thường, giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn thành phố
Tuyên Quang.
2.2. Yêu cầu
- Điều tra đầy đủ các số liệu về Bồi thường các loại đất ở các dự án đối
với các hộ dân bị ảnh hưởng.
- Phải phân tích, đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở các dự án nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp có tính khoa học, phù hợp với thực tiễn, góp phần
hoàn thiện việc thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, nâng cao đời
sống của người dân có đất bị thu hồi đất cả trong hiện tại và tương lai.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.1.1. Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường đất
1.1.1.1. Khái niệm về thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý
theo quy định của luật này.
1.1.1.2. Khái niệm về bồi thường đất
trong sản xuất nông nghiệp. Trong khi trình độ sản xuất nông nghiệp của người
dân còn thấp, sản xuất hàng hoá chưa phát triển, khả năng tự chuyển đổi nghề
nghiệp sau khi bị thu hồi đất rất khó khăn nên người sử dụng đất thường có tâm
lý giữ đất sản xuất để đảm bảo an toàn lương thực hàng ngày. Mặt khác, cây
trồng, vật nuôi trên đất cũng đa dạng dẫn đến khó khăn trong công tác tuyên
truyền, vận động người bị thu hồi đất tham gia kiểm kê tài sản trên phạm vi bị
thu hồi cũng như việc nhận bồi thường, giải phóng mặt bằng. Việc thu hồi đất
nông nghiệp làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm của người dân nên đồng
thời với việc thu hồi đất nhà nước cần quan tâm đến chuyển đổi nghề cho người
bị thu hồi đất.
- Đối với đất ở:
+ Quyền sử dụng đất ở là tài sản có giá trị lớn đối với mỗi người dân, nó
gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt hàng ngày và ảnh hưởng đến tâm lý
“an cư, lạc nghiệp” của người dân. Nên khi nhà nước thu hồi đất ở phải gắn với
việc xây dựng khu tái định cư cho người bị thu hồi đất.
+ Qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý đất đai không đồng bộ, thiếu chặt
chẽ, tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra làm khó khăn trong việc
xác định nguồn gốc sử dụng đất ở để làm cơ sở xác định đối tượng và điều kiện bồi
thường.
+ Ở một số khu vực người dân sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ ở
ven các trục đường giao thông, ven khu đô thị… đã tạo lập được một “thị
trường” riêng, nay bị thu hồi đất phải chuyển đến ở khu vực mới làm thay đổi
điều kiện, môi trường sống nên họ không muốn di chuyển.
Từ tính đa dạng và phức tạp của việc bồi thường giải phóng mặt bằng cho
thấy với mỗi dự án khác nhau thì công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện bằng
các giải pháp khác nhau cho phù hợp với đặc điểm của khu vực và đối tượng bị thu
hồi đất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nguyện.
Chính sách tái định cư không tự nguyện của WB dựa trên nguyên tắc lựa
chọn phương án tái định cư ít nhất và có sự tham gia của các tổ chức phi chính
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
phủ, đại diện của những người thiệt hại vào thiết kế, khai thác, theo dõi, giám sát
quá trình công việc tái định cư.
1.2.1.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất
của các Ngân hàng Mỹ, ngân hàng Á Châu và ngân hàng phát triển Châu Phi.
Tiếp theo chính sách tái định cư không tự nguyện được các ngân hàng khu
vực đưa ra như: Ngân hàng phát triển liên Mỹ (Inter Americal Development
Bank – IDB) 1993, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB (1995), Sổ tay tái định
cư (1998), Ngân hàng phát triển Châu Phi – AFDB (1995).
1.2.1.3. Các tổ chức quốc tế khác.
Năm 1990 một số tổ chức quốc tế như: Trung tâm liên hiệp quốc tế về
định cư (United Nation Centre of Human Settlement/ Habitas, Ủy ban Liên hợp
quốc về quyền con người (United Nation Commission of Human RightUNCHR), Tổ chức nông lương quốc tế (Fool and Agriculture- FAO) đã tập trung
nghiên cứu vấn đề thu hồi đất, chỗ ở bắt buộc.
Năm 1997 UNCHR đưa ra hướng dẫn thực tiễn thu hồi đất - chỗ ở bắt
buộc. Đặc điểm chung của các chính sách này là nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa
các bên liên quan đến dự án, chi phối từ pháp luật, chính sách, quy hoạch, thu
nhập, thuế ở tầm cỡ quốc gia đối với việc triển khai trên thực tế có liên quan đến
chính quyền địa phương, nhà đầu tư, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người
dân bị thiệt hại với những vấn đề chủ yếu như:
- Tổ chức tốt việc tái định cư cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người
dân thiệt hại gắn với môi trường sống, việc làm, sinh hoạt của cộng đồng liên
kỹ phương án đền bù trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và
cá nhân và đảm bảo cho người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện
mức sống tốt hơn so với trước khi bị thu hồi đất.
Do đất đai thuộc sở hữu nhà nước nên không có chính sách đền bù thiệt
hại. Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể nhà
nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất. Về phương thức đền bù
thiệt hại, nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu
hồi đất trong thời hạn một năm. Người dân có quyền lựa chọn các hình thức đền
bù thiệt hại bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới. Tại thủ đô Bắc Kinh và thành
phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn đền bù thiệt hại bằng tiền và tự tìm
chỗ ở mới phù hợp với công việc nơi làm việc của mình.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Về giá đền bù thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường. Mức giá này cũng
được nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được nhà
nước có sự điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế .
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc thì người được sử dụng đất sau
khi thu hồi có trách nhiệm bồi thường cho người bị thu hồi đất. Người bị thu hồi
đất được thanh toán các loại tiền: tiền bồi thường nhà cửa, tiền hỗ trợ về tái định
cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường về hoa
màu và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị sản lượng hoa màu trên
đất của những năm trước đây rồi nhân với hệ số. Tiền bồi thường cho các loại tài
sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại.
Mức bồi thường được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người bị thu
hồi đất có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải phóng mặt
bằng được giao cho Cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm.
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá
trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị
trường điều tiết. Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý thì việc bồi
thường được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá giá
trị bồi thường cho người bị thu hồi đất.
Thái Lan là đất nước cho phép hình thức sở hữu cá nhân với đất đai, do
vậy về nguyên tắc khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất cứ việc gì
đều phải có sự thoả thuận giữa chủ dự án và chủ đang sử dụng khu đất đó trên cơ
sở một hợp đồng. Về giá đất để làm căn cứ bồi thường thiệt hại, các bên căn cứ
mức giá do một Uỷ ban của chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá thị trường
chuyển nhượng bất động sản. Giá bồi thường phụ thuộc vào từng khu vực, từng
dự án; nếu dự án mang tính chiến lược quốc gia thì giá đền bù rất cao so với giá
thị trường. Nhìn chung, khi tiến hành thu hồi đất thì nhà nước hoặc nhà đầu tư
đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường. Việc bồi thường thiệt hại chủ yếu
bằng tiền mặt, sau đó người bị thu hồi đất sử dụng tiền này đi mua đất tại khu
vực khác. Nếu phải di chuyển nhà ở đến nơi ở mới, Uỷ ban này sẽ chỉ cho người
dân biết mình được đến đâu, phải trả tiền một lần, được cho thuê hay mua trả
góp... Tất nhiên cũng có việc bên bị thu hồi không chấp hành, cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền sẽ kiểm tra và khẳng định mức giá đền bù đã hợp lý chưa và dù
đúng hay không đúng mà người bị thu hồi không di chuyển thì sẽ bị cưỡng chế.
Việc khiếu nại về bồi thường sẽ do toà án giải quyết.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng được di dời được thực
hiện rất tốt nên đa số các hộ dân đã hiểu và chấp hành chính sách, phương án đền
bù. giải phóng mặt bằng của Nhà nước. Việc chuẩn bị khu tái định cư được chính
người, cung cấp đất đai cho những người bị thu hồi đất bị mất nơi cư trú. Đây là
nội dung để người dân tự nguyện di dời để giải phóng mặt bằng. Trong những
năm 70 của thế kỷ XX, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô
thị làm cho thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất ở. Để giải quyết
nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của
nông dân vùng phụ cận. Việc bồi thường được thực hiện thông qua các chính
sách như hỗ trợ tài chính, người bị thu hồi đất được quyền mua căn hộ do thành
phố quản lý tại khu đất được thu hồi có xung quanh thành phố Xơ-un. Khi thị
trường bất động sản phát triển, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ đều bán lại
quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc (Phan
Thanh Hùng, 2010).
1.2.2.5. Ở Inđônêxia
Đối với Inđônêxia việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì
mục đích phát triển của xã hội từ trước đến nay vẫn được coi là sự “hy sinh” mà
một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộng đồng. Việc bồi thường chỉ giới
hạn trong phạm vi bồi thường theo luật cho đất bị dự án chiếm dụng hoặc một số
ít trường hợp bị thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư. Nội dung bồi thường
được thực hiện theo 3 yếu tố quan trọng:
- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất.
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ và
phương tiện phù hợp.
- Trợ cấp để ít nhất người bị ảnh hưởng có được mức sống đạt hoặc gần
đạt so với mức sống trước khi có dự án. Đối với các dự án có tái định cư, việc lập
kế hoạch, thiết kế nội dung di dân là yếu tố không thể thiếu ngay từ thời kỳ đầu
tiên của việc lập dự án đầu tư đảm bảo những nguyên tắc:
+ Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di
dân bắt buộc khi triển khai dự án.
+ Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng kinh
Nghị định này quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng
ruộng đất của nhân dân trong việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản
lý, đó là: "Đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho công trình xây dựng,
đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất.
Những người có ruộng đất được trưng dụng được bồi thường và trong những
trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm... hết sức tiết kiệm
ruộng đất cày cấy, trồng trọt, tận dụng đất hoang để không phải trưng dụng hoặc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân... hết sức tránh những nơi dân cư đông
đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, đền, chùa. Trường hợp đặc biệt phải bàn kỹ với
nhân dân địa phương"
Về mức đền bù và cách tính đền bù, Nghị định 151/TTg có quy định:
- Đối với ruộng đất nếu không thể đổi bằng đất thì sẽ bồi thường bằng một
số tiền bằng từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của đất bị trưng dụng.
- Đối với nhà cửa vật kiến trúc...thì được giúp đỡ xây dựng cái khác.
- Đối với hoa màu chưa thu hoạch... phải bồi thường thiệt hại đúng mức.
- Đối với mồ mả căn cứ vào tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa
phương mà giúp cho họ số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển...
Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc đền bù thiệt hại trong Nghị
định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những
năm 1960. Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định cụ thể mức đền bù thiệt hại mà
chỉ quan tâm đến sự thỏa thuận của các bên.
Sau đó, Ủy ban Kế hoạch nhà nước và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư
liên bộ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây
dựng các công trình kiến thiết cơ bản với nguyên tắc phải đảm bảo kịp thời và
định cư cho nhân dân vùng bị thu hồi đất chứ không phải trả trực tiếp cho người
bị thu hồi đất.
1.3.3. Thời kỳ 1993 đến 2003
* Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 (thay thế Hiến pháp 1980) đã quy định:
“Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” .
- Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo
quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà
nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá
nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được
chuyển quyền sử dụng đất Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”.
- Điều 23 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc
hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân
hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật
định” (Quốc hội, Hiến pháp 1992).
Những quy định trên đã khẳng định quyền lực của Nhà nước trong việc
thu hồi đất cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi ích quốc gia.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
* Luật Đất đai 1993
Luật Đất đai 1993 có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 thay thế cho Luật đất
đai 1988. Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và
bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Luật Đất đai quy định các loại đất
và nguyên tắc sử dụng từng loại đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;