1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp
đảm bảo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một
trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho
lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ.
Ở mỗi quốc gia trên thế giới, thanh niên đóng một vai trò rất quan trọng
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều kiện tiên quyết để thanh
niên có thể làm tốt vai trò của họ chính là sức khỏe. Hay nói một cách khác,
thể lực của thanh niên là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu rất cần được xã
hội lưu tâm nhằm tạo ra một chế độ dinh dưỡng tốt và hợp lý, điều kiện sống
tốt để tạo ra được một thế hệ thanh niên khỏe mạnh, thông minh phụng sự đắc
lực cho đất nước [82].
Các chỉ số về thể lực là một bộ phận quan trọng của các chỉ số sinh học.
Chúng được xem là cơ sở xây dựng tiêu chuẩn kích thước người để sử dụng
không những trong các công tác y tế, trong công tác tuyển quân, tuyển sinh...
mà còn trong các lĩnh vực khác. Nhiều nhà khoa học cho rằng: có nhiều nhân
tố chính ảnh hưởng đến tầm vóc thân thể, đồng thời đến thể lực con người
như là yếu tố di truyền, thể dục thể thao, đời sống kinh tế dinh dưỡng và các
yếu tố môi trường và tâm lý xã hội [27], [64]. Do vậy, việc nghiên cứu các chỉ
số về thể lực nói riêng và nhân trắc nói chung cần được xác định sẽ giúp cho
việc đánh giá, so sánh tình trạng thể lực của con người Việt Nam ở mỗi giai
đoạn phát triển của đất nước.
Huyện Nhơn Trạch nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giữa vùng
tam giác kinh tế: thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, ven các
tuyến giao thông thủy bộ huyết mạch của vùng và là cửa ngõ tương lai vào thành
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát sức khỏe, thể lực và bệnh tật
1.1.1 Sức khỏe
Sức khỏe là sự thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là
trạng thái không có bệnh tật. Chăm sóc sức khỏe toàn diện, bao gồm 4 yếu tố,
đó là: phòng bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và nâng cao sức khỏe [84].
Các yếu tố quyết định của sức khỏe bao gồm: yếu tố di truyền, yếu tố vật
lý, yếu tố xã hội, yếu tố y tế và các yếu tố hành vi cá nhân. Tất cả những yếu
tố này đều có tác động mạnh mẽ đến sức khỏe cá nhân và cộng đồng, cũng từ
đó cho chúng ta thấy rằng sự chăm sóc sức khỏe cộng đồng của hệ thống y tế
chỉ giữ một vai trò thứ yếu, mà yếu tố quan trọng quyết định là yếu tố kinh tế
xã hội và hành vi cá nhân.
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe không chỉ là bổn phận của mỗi
người dân, mỗi gia đình và cộng đồng mà còn là trách nhiệm của của các cấp
uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức
xã hội, trong đó ngành Y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ chăm sóc
và nâng cao sức khỏe [64], [84].
1.1.2 Thể lực
1.1.2.1 Định nghĩa thể lực
Thể lực là chỉ số được xác định dựa vào cân nặng, chiều cao và vòng
ngực. Tùy theo từng tiêu chuẩn thể lực sẽ được phân loại khác nhau [9].
4
1.1.2.2 Phân loại thể lực
- Phân loại thể lực theo tiêu chuẩn hướng dẫn của Thông tư liên tịch số
36/YT-QP ngày 17/10/2011 của Liên Bộ Y tế - Quốc Phòng về việc khám
73 – 74
71 – 72
≤ 70
- Phân loại tình trạng thể lực theo chỉ số BMI: Chỉ số BMI (Body Mass
Index) được tính dựa theo kết quả của cân nặng và chiều cao: BMI = W/H2
Trong đó
W: cân nặng (kg).
H: chiều cao (m).
Phân loại chỉ số BMI theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới dành cho
người châu Á như sau [34]:
+ BMI 30Kg/m2
: Béo phì II
- Phân loại tình trạng thể lực theo chỉ số Pignet: Chỉ số này được xác
định theo công thức:
I = Chiều cao (cm) – {Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung bình (cm)}
≥35.
1.1.3 Bệnh tật
Để tạo tính thống nhất trên toàn thế giới về việc xây dựng các thông tin
y tế, WHO đã xây dựng bảng phân loại quốc tế bệnh tật. Phân loại bệnh quốc
tế lần thứ 10 là một công trình rất công phu, dựa trên cơ sở những thành tựu
của phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9. ICD-10 được WHO triển khai xây dựng
từ tháng 9/1983. Qua nhiều lần hội nghị, cải biên, đã chính thức xuất bản
bảng ICD-10 vào năm 1992 [85]. Toàn bộ danh mục được xếp thành 21
chương bệnh, ký hiệu từ I đến XXI theo các nhóm bệnh:
Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (A00-B99).
Chương II: Bướu tân sinh (C00-D48).
Chương III: Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan
đến cơ chế miễn dịch (D50-D89).
Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa (E00-E90).
Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi (F00-F99).
Chương VI: Bệnh hệ thần kinh (G00-G99).
Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ (H00-H59).
Chương VIII: Bệnh tai và xương chủm (H60-H95).
Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn (I00-I99).
Chương X: Bệnh hệ hô hấp (J00-J99).
Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa (K00-K93).
Chương XII: Các bệnh da và mô dưới da (L00-L99).
Chương XIII: Bệnh hệ cơ – xương – khớp và mô liên kết (M00-M99).
Chương XIV: Bệnh hệ sinh dục – tiết niệu (N00-N99).
6
Chương XV: Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản (000-099).
nghĩa vụ quân sự của toàn dân, đòi hỏi luật nghĩa vụ quân sự phải có những sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm xây dựng lực lượng quân đội ngày càng vững
mạnh để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho.
Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp
thứ 7 đã thông qua Luật số: 43/2005/QH ngày 14 tháng 06 năm 2005; Luật
này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm
1981, đã được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất ngày 21 tháng tháng 12 năm
1990, lần thứ hai ngày 22 tháng 06 năm 1994 [51].
Để phát huy hiệu lực của luật, Bộ Quốc phòng cho xuất bản cuốn “Luật
nghĩa vụ quân sự” nội dung gồm có:
1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật nghĩa vụ quân sự.
2- Đề cương giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của luật nghĩa vụ quân sự.
3- Luật nghĩa vụ quân sự sau khi đã được sửa đổi, bổ sung.
4- Đề cương giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật nghĩa vụ quân
sự sau khi đã được sửa đổi, bổ sung.
Cuốn sách này dùng làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục chính thức trong
quân đội, trong các cơ quan và nhân dân, đồng thời cũng là những căn cứ
chính thức trong việc tổ chức thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự.
1.2.2 Tiêu chuẩn sức khỏe thể lực và bệnh tật theo luật nghĩa vụ quân sự
Những qui định việc khám sức khỏe, kiểm tra sức khỏe, tiêu chuẩn sức
khỏe và giám định sức khỏe để thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự:
Để thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, Liên bộ Y tế - Quốc phòng ban hành
Thông tư liên tịch số 36/YT – QP ngày 17 tháng 10 năm 2011 qui định về
8
việc “khám sức khỏe, kiểm tra sức khỏe, tiêu chuẩn sức khỏe và giám định
khỏe vào quân thường trực và quản lý sức khỏe quân dự bị.
Chương VII: Các điều khoản thực hiện Thông tư này [9].
Tiêu chuẩn phân loại bệnh tật căn cứ theo thông tư 36 của Liên Bộ YT –
QP năm 2011 “Quy định việc khám sức khỏe, kiểm tra sức khỏe, tiêu chuẩn
sức khỏe để thực hiện luật nghĩa vụ quân sự” [8], [9]:
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn phân loại thể lực theo thông tư liên Bộ Y tếQuốc phòng [8]
Mạch
Huyết áp tâm thu
Huyết áp tâm
Xếp loại
lần/phút
(mmHg)
trương (mmHg)
1
60 – 80
110 – 120
≤ 80
81 - 85 hoặc
81 – 85
86 – 89
90 – 99
≥ 100
≥ 160
Xếp loại các bệnh tật:
Loại 1: Không có bệnh tật hoặc có viêm kết mạc cấp nhẹ, viêm thanh quản
cấp tính nhẹ.
Loại 2: Có ít nhất trong các trường hợp sau trở lên:
Mắt mộng thịt độ 1, viêm giác mạc nhẹ, sâu hoặc mất 1 – 2 răng sức
nhai còn 90% trở lên; Viêm mũi mạn tính đơn thuần không có rối loạn hô
hấp; mạch 60 – 70 lần/phút, blốc nhánh phải không hoàn toàn; bớt da nhỏ hơn
10
3cm không ảnh hưởng tới tâm sinh lý; Polip trực tràng có cuống nhỏ đã cắt,
giãn tĩnh mạch thừng tinh nhẹ; Viêm ruột thừa đã mổ kết quả tốt.
Loại 3: Có ít nhất một trong các trường hợp sau trở lên:
Thị lực 9/10; Mộng thịt độ 2, lác mắt không ảnh hưởng chức năng thị
giác, viêm tắc lệ đạo cấp tính; có 2 răng sâu độ 3 trở lên, viêm lợi; hẹp dị
dạng, rách, méo vành tai và ống tai ngoài, viêm tai ngoài mạn tính chưa ảnh
hưởng sức nghe; Nói lắp nói 1 câu độ 4 – 5 chữ lắp 1 lần; Ra mồ hôi bàn tay
hoặc cả bàn tay bàn chân mức độ nhẹ; Đau lưng do thoái hóa cột sống nhẹ;
Viêm gan cấp đã lành trên 12 tháng sức khỏe hồi phục tốt; Viêm phế quản
cấp, viêm phổi cấp; Mạch 70 – 80 lần/phút; Eczema mạn tính khu trú’ Viêm
mạn tính đã chữa nhiều lần không khỏi; Sức nghe: 1 bên tai 1m – tai bên kia 1
– 0,5m; Liệt thần kinh ngay trụ giữa, hông to; teo cơ nhẹ ảnh hưởng ít đến
vận động; thoái hóa cột sống nặng, thoát vị địa đệm vừa; bệnh gan; vỡ lách do
chấn thương phải phẩu thuật nếu đã mổ cắt lách; loét dạ dày tá tràng đã điều
trị ngoại khoa; thủng tiểu tràng do các nguyên nhân phải mổ có ảnh hưởng
đến tiêu hóa và sinh hóa; mất 2 đốt của 2 ngón khác của bàn tay hoặc bàn
chân; mất 2 ngón trong đó có mất ngón tay cái, ngón chân cái, ngón trỏ bàn
tay phải; co rút từ 1 – 2 ngón tay hoặc ngón chân có ảnh hưởng đến chức năng
vận động; gãy xương (vừa và lớn) có đau mỏi hạn chế vận động, khớp giả
xương dài tứ chi: hai chân vòng kiền chữ O, chữ X: vừa (dưới 15 độ) đi lại,
chạy nhảy ít ảnh hưởng.
Loại 6: Có ít nhất một trong các trường hợp sau trở lên:
Thị lực: thị lực mắt phải < 5/10, tổng thị lực 2 mắt 6/10 – 12/10; mộng
thịt đã mổ tái phát gây dính che đồng tử; Mất 5 – 7 răng trong đó có 3 răng
hàm lớn hoặc răng cửa, sức nhai còn < 50%; Sức nghe: một bên tai 1m – tai
bên kia điếc; Viêm tai giữa; Viêm tai xương chủm; Viêm mũi mạn tính đơn
thuàn (co thắt quá phát hoặc tiết dịch): teo đét, trĩ mũi chảy máu cam thường
xuyên; polip mũi thường có viêm xoang; các bệnh thần kinh có liên quan đến
12
các bệnh của cơ thể như: rối loạn nội tiết, chuyển hóa dinh dưỡng, nhiễm
trùng, nhiễm độc: không hồi phục; lên) động kinh còn cơn lớn hoặc nhỏ; Phản
xạ gân xương: giảm đều cả 2 bên; bệnh tăng huyết áp giai đoạn III; Eczema
nhiều nơi, eczema cơ địa, Basedow; dị tật ở bìu: thiếu hoặc ẩn cả 2 tinh hoàn;
Mất 1 ngón cái của bàn tay; mất 2 ngón: trong đó có mất ngón tay cái, ngón
chân cái, ngón trỏ bên tay phải; mất 3 ngón trở lên; co rút từ 3 – 4 ngón tay
hoặc ngón chân trở lên.
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thể lực, sức khỏe
để đạt được dinh dưỡng đầy đủ, cần ăn đủ canxi cần thiết. Sử dụng muối iod
là nguyên liệu tạo nên nội tiết tuyến giáp, tác động lên hoạt động của nhiều bộ
phận trong cơ thể thúc đẩy sự tăng trưởng [82].
Năm 1988, Tổ chức Y tế thế giới kiến nghị dùng chỉ số khối cơ thể
(Body Mass Index – BMI) để phân loại dinh dưỡng người trưởng thành.
Tại Việt Nam trong Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn
2001 – 2010 nêu rõ mục tiêu tổng quát như sau [33], [67]:
- Đảm bảo đến năm 2010, tình trạng dinh dưỡng của nhân dân được cải
thiện rõ rệt, các gia đình trước hết là trẻ em và bà mẹ được nuôi dưỡng và
chăm sóc hợp lý, bữa ăn của người dân ở tất cả các vùng đủ hơn về số lượng,
cải thiện hơn về chất lượng, bảo đảm về an toàn vệ sinh. Hạn chế các vấn đề
sức khỏe mới nảy sinh có liên quan tới dinh dưỡng.
- Đồng thời với mục tiêu cụ thể là [33], [67]:
+ Người dân được nâng cao về kiến thức và thực hành dinh dưỡng hợp
lý: tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng cho trẻ ốm tăng từ
40% từ năm 2005 lên 60% vào năm 2010.
+ Giảm tỷ lệ gầy ở trẻ em và bà mẹ: Tỷ lệ gầy cân nặng theo tuổi ở trẻ
em dưới 5 tuổi giảm còn dưới 25% năm 2005 và dưới 20% năm 2010.
+ Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu vitamin A, thiếu iốt và giảm đáng kể
tình trạng thiếu máu dinh dưỡng.
14
+ Giảm tỷ lệ hộ gia đình có mức năng lượng vào thấp: tỷ lệ hộ có mức
năng lượng ăn bình quân đầu người dưới 1800Kcal từ 15% năm 2000 xuống
10% vào năm 2005 và xuống dưới 5% vào năm 2010.
+ Cải thiện rõ rệt tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhiều khảo sát về tình trạng sức khỏe của học sinh, sinh viên đượ tiến
hành như nghiên cứu đặc điểm thể lực của sinh viên chuyên ngành bóng đá
Mức độ thể dục thể thao:
+ Nhẹ: đi bộ, thể dục buổi sáng, dưỡng sinh.
+ Trung bình: lắc vòng, nhảy dây, đi xe đạp, thể dục thẩm mỹ, chạy bộ,
bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn.
+ Nặng: đá banh, bơi lội, quần vợt, tập tạ, tập thể hình, tập võ.
Về giấc ngủ, hormon tăng trưởng được tiết vào ban đêm, khoảng 10 – 12
giờ đêm là cao nhất, khoảng 1 giờ sau giấc ngủ sâu, do đó cần ngủ
đủ giấc [86].
Nghiên cứu của Sassen B và cộng sự về nguy cơ tim mạch về các yếu tố
quyết định động lực, thể dục thể chất và hoạt động thể chất trên 1298 nhân
viên cảnh sát (18-62 tuổi) ghi nhận có 78,7% đối tượng có một hoặc nhiều
nguy cơ tim mạch. Trong số những đối tượng này, chỉ có 39,9% có ý định
tích cực tham gia vào các hoạt động thể lực và cũng hoạt động thể chất tích
cực; 10,5% có ý định thấp nhưng đã hoạt động thể chất tích cực. 37,7% có ý
định thấp và không hoạt động thể chất tích cực; khoảng 11,9% có ý định cao
nhưng không hoạt động thể chất tích cực [81].
Nghiên cứu về sự tác động của một số thói quen xấu và các yếu tố môi
trường về tình trạng thân thể của 437 thanh thiếu niên nam tại Rijeka của
Lalic H và Kalebota N ghi nhận tỷ lệ béo phì tương đối cao ở khu vực đô thị
(10,94%) và nông thôn (13,19%); suy nhược cơ thể ở các đảo (8,69%); sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, tỷ lệ người dân bị bàn chân bẹt
ở các đảo đạt tỷ lệ thấp so với khu vực thành thị và nông thôn (p
chấn thương có chủ ý và không chủ ý; hút thuốc là, uống rượu bia và sử dụng
chất kích thích bất hợp pháp; những hành vi nguy cơ liên quan đến tình dục;
hoạt động thể lực ở mức độ thấp và thói quen ăn uống không tốt; sử dụng thời
gian giải trí không lành mạnh; thất bại trong công việc hàng ngày. Cụ thể:
Chấn thương và ngộ độc là 2 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em và
thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi. Trong số đó, tỷ lệ nam cao hơn nữ (3:1), sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Phát hiện về lạm dụng chất kích thích cho
thấy lạm dụng rượu có liên quan đến văn hóa của giới trẻ và tần suất uống
trung bình. Tuổi bắt đầu uống rượu sớm hơn. Dữ liệu về hành vi tình dục chỉ
ra những hành vi có nguy cơ, đặc biệt là trong thanh thiếu niên trẻ và thiếu
kinh nghiệm. Tuổi trung bình quan hệ tình dục đầu tiên là 14,4 ở nữ và 14,1
tuổi ở nam. Sử dụng bao cao su trong suốt thời gian giao hợp ở nữ là 67,6%;
thấp hơn nam với 68,4%. Về hoạt động giải trí, xem truyền hình hàng ngày
(1-3 giờ) là cách tiêu khiển chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên (5-19 tuổi)
với 75,0%; xem > 4 giờ/ngày chiếm 15,4%. Cuối cùng, sức khỏe của trẻ em
và thanh thiếu niên còn chịu ảnh hưởng của gánh nặng khối lượng công việc
hàng ngày. Áp lực công việc tăng cao trong trường trung học khi phải học tập
và làm việc 10 giờ/ ngày. Thêm vào đó, nhiều học sinh tham gia hoạt động
ngoại khóa cũng làm gia tăng áp lực công việc của trẻ. Nghiên cứu về chỉ số
nhân trắc và hoạt động thể lực của trẻ em và thanh thiếu niên cũng cho thấy tỷ
lệ học sinh nam va nữ 7-19 tuổi có trọng lượng cơ thể bình thường ở năm
2003 thấp hơn 1983. Trong đó, khi tỷ lệ trẻ thừa cân tăng lên; 1,8% ở nữ 19
tuổi và 2,2% ở nam 19 tuổi. Tần suất hoạt động thể lực trung bình ở nam là
4,5 ngày/tuần [78].
18
Nghiên cứu của Amudha Poobalan AS và cộng sự về thái độ, ý định và
hành vi hoạt động thể chất của 1313 đối tượng 18-25 tuổi tại trường đại
bình 7,32. Thực hiện trên 190 tân binh 19-27 tuổi năm 2003 với mục đích xác
định chỉ số DMFT (sâu răng, mất răng và vôi răng). Các đối tượng được phân
loại theo vùng địa dư (thành thị, ngoại ô và nông thôn) và tuổi. Răng hoàn
toàn khỏe mạnh có 5 đối tượng (2,6%). Trung bình số răng sâu, vôi và mất
răng là 7,76; trong đó, 2,03 sâu răng; 1,49 mất răng; 4,25 vôi răng. Sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số sâu răng (p=0,009) và vôi răng (p
nghiên cứu về thể lực đều cho thấy dân tộc Kinh có thể lực tốt hơn Mường ở
hầu hết các độ tuổi nghiên cứu. Chiều cao của nam học sinh Kinh và Mường
tăng trung bình mỗi năm là 4,78 và 4,93; cân nặng trung bình tăng 3,11kg và
3,12kg. Theo BMI, thể lực của học sinh hai dân tộc đều thuộc trung bình và
tốt dần theo tuổi [47].
Nói chung, kết quả nghiên cứu gần đây đều cho rằng các chỉ tiêu cơ bản
về thể lực của người Việt Nam: Chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung
bình đều có xu hướng tăng lên rõ rệt, phần nào có lẽ do tình trạng dinh dưỡng
của người Việt Nam trong những năm gần đây đã được cải thiện.
Nghiên cứu của Đào Thị Mùi ghi nhận đối tượng học sinh THPT có tỷ lệ
mắc công vẹo cột sống khá cao [46]. Trần Thị Bích Liên ghi nhận mối tương
quan giữa chiều cao, cân nặng với sức nghe của nam sinh viên [40]. Nghiên
cứu của Huỳnh Kim Tiền năm 2010 ghi nhận tỷ lệ trầm cảm của sinh viên là
27,6% [63]. Lâm Nhựt Tân cho tỷ lệ sâu răng cao hơn ở nhóm trẻ lớn tuổi; 15
tuổi có 75,8% sâu răng, 12 tuổi có 68,5% sâu răng [57]. Lê Thành Khánh Hải
nghiên cứu về các bệnh về da của người dân từ 18 tuổi trở lên cho thấy có đến
88,0% đối tượng mắc bệnh về da [22].
1.4.2.2 Các nghiên cứu về thể lực và sức khỏe trên thanh niên tuổi nhập ngũ
Nghiên cứu của Đỗ Kim Hoàng về tình hình thể lực và bệnh tật và một số
yếu tố liên quan đến thể lực của nam thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự
tại Hoocmon, Hồ Chí Minh cho thấy thể lực loại I là 23,6%; loại II 20,1%; loại
3 31,6%; loại IV có 10,7%; loại V chiếm 8,99%; loại VI có 4,98%. Thể lực
không đạt chuẩn tuyển quân có 24,67%; thể lực đạt chuẩn tuyển quân 75,3%.
Phân loại sức khỏe có loại I có 4,66%; loại II có 11,68%; loại III có 25,08%;
loại IV chiếm 27,12%; loại V chiếm 24,59%; loại VI có 6,86% [26].
Nghiên cứu của Hà Công Tác về đánh giá thể lực thanh niên khám tuyển
22
12,76%, trong đó cận thị chiếm 74,61%. Bệnh ngoại khoa chiếm tỷ lệ 12,15%;
nguyên nhân chủ yếu là do chấn thương, gãy xương với 62,65%. Bệnh nội
khoa chiếm 11,04%, nguyên nhân chính là bệnh tim mạch. Bệnh tai mũi họng
có tỷ lệ 10,41%; viêm tai giữa là chủ yếu 56,77%. Bệnh da liễu chiếm
7,19% [21].
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
Tất cả nam thanh niên trong độ từ 18-25 tuổi tại huyện Nhơn Trạch,
tỉnh Đồng Nai từ tháng 5/2013-5/2014.
2.1.2 Tiêu chí chọn mẫu
- Có hộ khẩu thường trú tại huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai.
- Nam thanh niên đã được hội đồng khám tuyển nghĩa vụ quân sự chọn
lọc trong độ tuổi 18-25 tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những người khám sức khỏe không khám đầy đủ chuyên khoa, thiếu
các chỉ số cần nghiên cứu.
- Những người có tên trong danh sách khám tuyển nhưng không đến
khám sau ba lần triệu tập.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
2.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng cho một tỷ lệ:
Tuổi: tính theo tuổi dương lịch với từng lớp tuổi từ 18-25 tuổi.
Trình độ học vấn: chia thành 2 nhóm
+ Từ trung học cơ sở trở xuống.
+ Từ trung học phổ thông trở lên.
Nơi cư trú: theo địa chỉ đang sinh sống tại 12 xã trong địa bàn huyện Nhơn
Trạch nên chia thành 2 nhóm.
+ Thành thị
+ Nông thôn
Nghề nghiệp: chia thành 5 nhóm
+ Công nhân: là những người đi làm việc trong các nhà máy, công ty,
xí nghiệp.