GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện
cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn :
Tiến sĩ Nguyễn Đình Mạnh người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong quá
trình học tập nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể thầy cô và học sinh
lớp 3A và lớp 3B trường tiểu học Tiên Dương Thị trấn Đông Anh- Hà Nội đã
tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các
bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
NGUYỄN THỊ THANH MAI
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “nghiên cứu những khó khăn trong giao tiếp
của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội” là kết
quả mà tôi trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài trên
1.4. Một số trở ngại trong giao tiếp: ............................................................. 12
1.4.1. Yểu tố gây nhiễu( yếu tố môi trường, tâm lí năng lực kĩ thuật) .......... 12
1.4.2. Sử dụng thông tin phản hồi ................................................................. 12
1.4.3. Lòng tin và sự đồng cảm .................................................................... 12
1.4.4. Bất đồng ngôn ngữ và kiến thức ......................................................... 13
1.4.5. Phong cách sử xự khi giao tiếp ........................................................... 13
1.4.6. Thời điểm và phương thức giao tiếp ................................................... 13
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân một số khó khăn trong ............. 14
giao tiếp mà học sinh gặp phải................................................................... 14
2.1. Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp mà học sinh gặp phải ...................... 14
2.1.1.Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp của học sinh với GV ..................... 14
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
2.1.2. Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp của học sinh với bạn bè............... 17
2.1.3. Những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 3 với người thân trong
gia đình ........................................................................................................ 20
2.2 .Nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 3 ....... 21
2.2.1. Nguyên nhân khách quan.................................................................... 21
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan ........................................................................ 24
Chương 3: Thử nghiệm tác động một số biện pháp khắc phục những khó
khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiên DươngĐông Anh – Hà Nội mắc phải. ................................................................... 27
3.1. Mục tiêu thử nghiệm ............................................................................. 27
3.2. Nội dung thử nghiệm ............................................................................. 27
3.3.Kết quả thử nghiệm ................................................................................ 27
3.3.1. Kết quả thử nghiệm một số biện pháp khắc phục khó khăn trong giao
tiếp của học sinh với giáo viên ..................................................................... 27
triển. Lúc này giao tiếp có vị trí đặc biệt quan trọng, các em giao tiếp để tìm
hiểu về thế giới xung quanh, thể hiện yêu cầu, đòi hỏi của mình đối với cha
mẹ hay sự vui chơi, đùa nghịch …Thông qua các hoạt động giao tiếp, sinh
tiếp thu lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử-xã hội của loài người và biến nó
thành cái riêng của mình biến nó thành phẩm chất nhân cách của mình. Ví dụ
như: các em hiểu được về thế giới xung quanh về phong tục, tập quán, văn
hoá của dân tộc. Từ đó các em sẽ áp dụng vào cuộc sống một cách có hiệu
quả, phù hợp với các chuẩn mực xã hội.
Ở giai đoạn đầu tiểu học ,học sinh tiểu học phải thiết lập các mối quan hệ :
mối quan hệ thầy trò với tính chất nghiêm túc,với sự kiểm tra đánh giá thường
xuyên, chặt chẽ; quan hệ với bạn bè; quan hệ với gia đình…Những điều mới
mẻ và lạ lẫm đem đến cho trẻ nhiều cảm xúc và cũng không ít những khó
khăn. Làm thế nào giúp trẻ thiết lập được các mối quan hệ giao tiếp với bạn
một cách tốt đẹp và giao tiếp có hiệu quả. Đây là vấn đề đáng để cho các nhà
giáo dục và những nhà nghiên cứu chúng ta cần quan tâm.
1
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
Và trong môi trường mới ấy, học sinh lớp tiểu học tuy đã quen dần với
môi trường học tập nhưng những khó khăn và trở ngại trong giao tiếp của trẻ
vẫn tồn tại, nó cản trở hoạt động của các em. Nếu phát hiện và tháo gỡ những
khó khăn đó thì hoạt động của các em sẽ đạt hiệu quả cao hơn và nhân cách
được phát triển và hoàn thiện hơn.
Những kĩ năng giao tiếp không mang tính chất bẩm sinh, nó chỉ được
thông qua các quá trình tích lũy, rèn luyện một cách thường xuyên và liên
tục.Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài: “nghiên cứu những khó khăn trong giao tiếp
thức giao tiếp của trẻ em với người lớn và giao tiếp của trẻ em với trẻ em
[12].
Các tác giả Tara Winterton, David Warden, Rae Pica quan tâm đến vấn
đề hình thành kĩ năng giao tiếp cho trẻ nhỏ. Họ đã chỉ ra những yếu tố cơ bản
có ảnh hưởng đến sự phát triển giao tiếp của trẻ nhỏ như : hoàn cảnh, môi
trường, các cộng đồng cũng như đặc điểm cơ quan phát âm và trạng thái cơ
thể trẻ. Theo họ, vấn đề quan trọng là tìm kiếm, quan sát và sử dụng các yếu
tố trên để luyện tập ĩ năng giao tiếp cho trẻ.
Các tác giả L.M. Sipisuna, O.V. Dairinxcaia, T.A. Nhiculuva đặc biệt
quan tâm đến xúc cảm, tình cảm trong quá trình phát triển giao tiếp cho trẻ và
đã đưa ra phương pháp “ cùng- xúc-cảm trong tình huống”. Điều quan trọng
là nhà giáo dục phải biết đặt mình vào vị trí của trẻ để từ đó phân tích phản
ứng của trẻ ( nghĩa là phân tích tình cảm , ý nghĩ, hành vi có thể xảy ra) trong
tình huống cụ thể để tìm biện pháp giáo dục phù hợp.
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm
1970 đến những năm 1980. Nghiên cứu khía cạnh tâm lí giao tiếp của trẻ em,
vấn đề đặc điểm giao tiếp, hình thành nhu cầu và kĩ năng giao tiếp của trẻ
được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ánh
Tuyết, Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoan, Lê Xuân Hồng, Nguyễn Xuân
Thức[3].
Trong đó các tác giả cho thấy vai trò của nhóm bạn bè trong mô hình
hoạt động ở lớp; đặc điểm giao tiếp của trẻ; việc hình thành tính tích cực giao
tiếp của trẻ. Tóm lại nhiều công trinh nghiên cứu lí luận và thực tiễn của các
tác giả trong và ngoài nước đều đề cập đến nhiều khía cạnh giao tiếp của trẻ
em lứa tuồi tiểu học.
Đề tài “nghiên cứu những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 3
trường tiểu học Tiên Dương- Đông Anh- Hà Nội” chưa có ai nghiên cứu. Vì
vậy tôi nghiên cứu đề tài này.
3.Mục đích nghiên cứu
6.3. Thử nghiệm tác động một số biện pháp khắc phục những khó khăn trong
giao tiếp mà học sinh mắc phải
7.Giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 3
Khách thể nghiên cứu: 95 học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiên Dương- Đông
Anh- Hà Nội
8.Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp quan sát
8.2.Phương pháp điều tra
8.3.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
8.4.Phương pháp trò chuyện
4
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
8.5.Phương pháp thử nghiệm tác động
8.6.Phương pháp thống kê toán
5
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
1. Kết luận
2. Kiến nghị
6
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Giao tiếp là gì?
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa về giao tiếp
trong tâm lý học, y học, xã hội học…. tùy theo sự nhìn nhận đánh giá riêng
của mỗi tác giả.
Trong lĩnh vực tâm lí học, T. Chuccôn (Mỹ) xem “ giao tiếp như là sự
tác động qua lại trực tiếp lên nhân cách và dẫn đến sự hình thành những ý
nghĩa, biểu tượng, chuẩn mực và mục đích hành động; là một tổ hợp nhiều
hành vi khác nhau: hành vi ngôn ngữ, hành vi điệu bộ, hành vi cử chỉ”[5]. Tác
giả mới chỉ nhấn mạnh đến mặt tác động lẫn nhau dẫn đến hình thành những
chuẩn mực, mục đích hành động, hành vi.
Trong tâm lí học Liên Xô, cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về
người khác”[4]
Nhưng ở đây tôi quan tâm đến vấn đề giao tiếp theo tâm lí học nhân
cách và tâm lí học xã hội.
Đặc điểm xã hội của giao tiếp thể hiện ở chỗ nảy sinh hình thành trong xã hội
và sử dụng các phương tiện do con người làm ra, được chuyển từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Đặc điểm cá nhân thể hiện ở mặt nội dung, phạm vi, phong
cách, kĩ năng… giao tiếp của người này với người khác.
Cần nhấn mạnh giao tiếp có ba mặt quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự
thông tin qua lại giữa con người với con người, sự tác động qua lại với nhau
giữa những người tham gia giao tiếp, sự tri giác giữa con người với nhau.
Nhìn chung, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về giao tiếp tùy theo từng
cách đánh giá nhìn nhận riêng của mỗi tác giả. Tuy nhiên trong nghiên cứu
của mình chúng tôi chọn cách hiểu “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người
với người, là hoạt động hình thành, phát triển mối quan hệ giữa người với
người”.
Nhu cầu giao tiếp là một loại nhu cầu tinh thần của con người thỏa mãn
nhu cầu trao đổi thông tin, trao đổi hiểu biết, trao đổi tình cảm, cảm xúc, thiết
lập quan hệ với người khác. Đó là một trong những nhu cầu quan trọng và vĩ
đại nhất của con người cần phải được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư
cách một nhân cách, một chủ thể.
1.2. Đặc điểm giao tiếp của học sinh tiểu học
Cuộc sống tâm lí của con người bắt đầu từ nhu cầu giao tiếp với con
người, trước tiên là những người xung quanh. Giao lưu sơ đẳng đã xuất hiện
khi trẻ ba tuần tuổi. Từ khi biết nói thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ trở nên
cực kì quan trọng trong đời sống tinh thần của đứa trẻ.
Việc đi học ở trường phổ thông là một bước ngoặt trong đời sống của
trẻ. Những mối quan hệ mới với người lớn, với các bạn cùng tuổi được hình
thành, trẻ được đưa vào các hệ thống tập thể. Việc tham gia vào hoạt động
8
Trong lĩnh vực giáo dục nội dung giao tiếp của học sinh tiểu học rất đa
dạng và phong phú. Giao tiếp cảm xúc: học sinh có thái độ của mình với bạn
bè xung quanh và tiếp nhận thái độ của bạn đối với mình; giao tiếp công việc:
nhằm phối hợp để giải quyết nhiệm vụ chung nào đó.Giao tiếp nhận thức:
nhằm hiểu biết và đồng cảm lẫn nhau.
Mặt khác, giao tiếp vừa mang tính xã hội, vừ mang tính tính chất cá
nhân nên khi nhìn nhận đánh giá tiểu học phải thấy rằng các em là con đẻ, sản
9
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
phẩm của một lối sống, phong tục…trong một làng xã, gia đình…đồng thời
các em cũng là chủ thể của giao tiếp, từ đó có con mắt “ biện chứng” khi đánh
giá các em, hiểu và thông cảm với các hành vi giao tiếp của các em.
Giao tiếp của học sinh tiểu học với nhau có ý nghĩa sống còn với đời
sống tinh thần của chúng. Các em không thể sống thiếu vắng bạn bè. Nhu cầu
giao tiếp của học sinh không được thảo mãn sẽ dẫn đến sự phát triển không
bình thường cả tâm lí và sinh lí, xã hội trong con người các em.
1.3. Giao tiếp với sự hình thành nhân cách của học sinh tiểu học
1.3.1. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
1.3.1.1. Tính chủ thể và tính hồn nhiên trong quá trình phát triển
Học sinh là một thực thể hồn nhiên tiềm ẩn khả năng tốt đẹp cho sự
phat triển mà ở đóhiện tồn tại một nhân cách đang hình thành giữa những tác
động muôn vẻ của giáo dục và đào tạo, của thực tại kgachs quankhoong
ngừng đổi mới và sôi động. Đối với các em tất thảy những gì của cuộc sống
đều mới mẻ. Trẻ em phải tham gia vào các mối quan hệ xã hội để chiếm lĩnh
đối tượng vô cùng mới mẻ đó nhằm chuyển những nội dung ấy vào bên trong
thế kỉ XXI, chắc rẳng rồi đây trẻ sẽ có được sự phát triển tâm lí cao hơn so
với học sinh tiểu học hiện nay.
1.3.1.3. Tính đang hình thành trong nhân cách của học sinh tiểu học
Trẻ em tuổi học sinh tiểu học rất hồn nhiên, nhân cách của các em là
một chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưa được định hình. Nhân cách của các em
đang trong quá trình hoàn thiện. Học sinh tiểu học là một thực thể đang lớn
lên và phát triển. Ở các em tổ chức cấu tạo cơ thể cũng có những chức năng
tâm sinh lý chưa được phát triển một cách hài hoafvaf tương xứng nhau. Do
vậy ở các em , các quá trình cũng như thuộc tính và trạng thái tâm lí cũng có
sự phát triển không đều.
1.3.2. Giao tiếp tác động tới hình thành nhân cách.
Giao tiếp là một trong những đặc trưng, bản chất của tâm lí con người,
của ý thức và nhân cách.
Giao tiếp là sự phát triển quan trọng của sự hình thành bản thân con
người như là con người- xã hội , đồng thời là điều kiện tất yếu để con người
tồn tại và phát triển.
Đối với học sinh tiểu học, các phẩm chất nhân cách chỉ có thể hình
thành được bằng hoạt động học, hoạt động cùng nhau trong giao tiếp lầ điều
kiện để các em hướng tới mục đíchchung mang ý nghĩa xa hơn, để các thành
viên của lớp học phân công trách nhiệm liên đới với kết quả hoạt động cùng
nhau, để các thành viên kiểm tra lẫn nhau, đánh giá về nhau tạo nên sự đồng
cảm. Vì thế nên ki nghiên cứu giao tiếp còn có những ý kiếnxem giao tiếp là
dạng đặc biệt của hoạt động( Đ.Nleonchiev). Hoặc xem giao tiếp như một
phạm trù ngang hàng với hoạt động, hoạt động giao tiếp là hai mặt của cuộc
sống con người(B.S. Lomov). Tuy vậy khi nói đến vai trò của giao tiếp thì họ
11
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
1.4.3. Lòng tin và sự đồng cảm
Trong giao tiếp rất cần sự đồng cảm , chia sẻ từ 2 phía.Biện pháp là
phải có sự tìm hiểu những thông tin cơ bản từ phía bên kia trên cơ sở được
niềm tin bước đầu trước khi nhận lời tiếp xúc ( Người tiếp xúc với mình có
12
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
khả năng gì? Họ mong muốn điều gì trong cuộc tiếp xúc ) qua đó chúng ta
chủ động điều hành cuộc giao tiếp. Mặt khác chúng ta phải tự tin vào bản thân
thì khả năng thuyết phục, lôi cuốn người khác làm những điều mà mình mong
đợi.
1.4.4. Bất đồng ngôn ngữ và kiến thức
Tiếng ngoại ngữ, tiếng địa phương, trình độ hiểu biết, văn hóa
1.4.5. Phong cách sử xự khi giao tiếp
Lắng nghe người khác nói
Đối đáp sau khi nghe
Sử dụng ngôn ngữ biểu cảm( phong tục tập quán, khả năng tiếp thu,
cử chỉ , điệu bộ hợp với lời nói)
1.4.6. Thời điểm và phương thức giao tiếp
Thời điểm (cần tìm hiểu tâm lí, bối cảnh giao tiếp để chọn thời điểm
cho hợp)
Phương thức ( nói trực tiếp,qua không gian, phương tiện truyền thông)
Ở trẻ em khó khăn trong học tập đã gây trở ngại đến tính sẵn sàng giao
tiếp “ Có những trẻ hầu như không được giao tiếp ở gia đình nên đến lớp nảy
sinh tính nhút nhát, sợ sệt”.
Nhưng cũng có nhiều nguyên nhân khác gây đến sự trở ngại trong giao
2.1. Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp mà học sinh gặp phải
2.1.1.Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp của học sinh với GV
Bảng 1: Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 3 với GV
Thường xuyên
Đôi khi
Không bao
giờ
STT
1
SL
%
SL
%
SL
%
10
10,52
2
29
30,52
20
21,05
46
48,42
14
14,73
70
73,68
11
11,57
Không dám
thắc mắc khi
muốn thắc
mắc với thầy
cô giáo
giáo viên ngoài
giờ
Cảm thấy cô
6
7
giáo là người
khó gần
Sợ hãi khi mắc
khuyết điểm
5
5,26
17
17,89
73
76,84
9
9,47
68
15
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
cảm thấy lo lắng, chỉ có 35 em chiếm 36,84% không cảm thấy lo lắng khi
nhận nhiệm vụ mà giáo viên giao cho.
Trong số 95 học sinh được hỏi có 29 em chiếm 30,52% thường xuyên
cảm thấy sợ hãi khi bị gọi lên bảng làm bài tập, 20 em chiếm 21,05% đôi khi
sợ hãi khi lên bảng làm bài tập, chỉ có 46 em chiếm 48,42% không bao giờ sợ
hãi khi bị gọi lên bảng làm bài tập.
Nguyên nhân chủ yếu khiến học sinh cảm thấy sợ hãi khi bị gọi lên
bảng làm bài tập là vì các em sợ làm sai, không được cô giáo khen và sợ các
bạn khác hê cười. Những học sinh không cảm thấy sợ hãi phần lớn là những
em có học lực khá giỏi hay nói và hay được khen ngợi.
Tuy học sinh cho rằng cô giáo mình là người gần gũi, lời của thầy cô
giáo dễ hiểu nhưng học sinh và giáo viên vẫn có khoảng cách nhất định. Các
em vẫn ít trò chuyện với thầy cô giáo ngoài giờ học. Trong số 95 học sinh
được hỏi chỉ có 14 học sinh chiếm 14,73% thường xuyên trò chuyện với thầy
cô giáo, 70 em chiếm 73,68% đôi khi mới trò chuyện có 11 học sinh chiếm
11,57% không bao giờ trò chuyện với thầy cô ngoài giờ học.
Phần lớn những khó khăn trong giao tiếp của học sinh với giáo viên liên quan
đến nhiệm vụ học tập.
Học sinh lớp 3 trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội cũng cho
rằng thầy cô giáo mình là người gần gũi. Trong số 95 em được hỏi chỉ có 5
em chiếm 5,26% thường xuyên cảm thấy cô giáo mình là người khó gần, có
17 em chiếm 17,89% đôi khi cảm thấy thầy cô giáo mình là người khó gần, có
tới 73 em chiếm 76,84% không bao giờ cảm thấy thầy cô giáo mình là người
giờ
1
2
3
SL
%
SL
%
SL
%
Căng thẳng khi ở
bên bạn bè
0
0
3
3,15
7,36
3
3,15
47
49,47
23
24,21
25
26,31
20
21,05
25
26,31
50
52,63
giúp đỡ khi bạn
hỏi bài tập
Lúng túng khi
5
nói trước các
bạn
Căng thẳng khi
6
tiếp xúc với các
anh chị khóa
trên
Em thích có
7
nhiều bạn thân
17
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
8
Giờ ra chơi
thường chơi 1
không bao giờ hi sinh hứng thú của mình vì bạn, 10 em chiếm 10,52% đôi khi
hi sinh hứng thú của mình vì bạn bè, hầu như là không có em nào có thể hi
sinh hứng thú của mình vì bạn bè cả.Điều đó cũng dễ hiểu ,vì các em vẫn còn
nhỏ các em vẫn mải ham chơi theo thú vui , yêu thích của mình, chỉ có một
số trường hợp là đôi khi hi sinh thú vui của mình vì bạn mà thôi. Trường hợp
của Mai Chi, khi thấy bạn Lan Phương đau đầu, đau bụng em liền bỏ trò chơi
nhảy dây để đưa bạn vào phòng y tế của trường để khám bệnh.
Những câu chuyện về tình bạn dường như rất thu hút các em . Khi được
hỏi thì đa phần các em rất thích những câu chuyên đó. Có 85 em chieeems
89,47% thường xuyên thích nghe kể các câu chuyện về tình bạn, 7 em chiếm
7,36% đôi khi thích những câu chuyện về tình bạn, còn lại số ít là 3 em chiếm
3,15% không bao giờ thích nghe kể câu chuyện về tình bạn
Học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội cũng chưa
tích cực giúp đỡ bạn trong học tập .Chỉ có 47 em trong số 95 em chiếm
18
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
49,48% thường xuyên giúp đỡ bạn khi hỏi bài tập, 23 em chiếm 24,21% đôi
khi mới giúp,còn 25 em chiếm 26,31% thường xuyên không giúp.
Có thể kết quả trên vì học sinh còn có tâm lý tiêu cực : Không muốn bạn làm
được bào tập, không muốn bạn đạt điểm cao và cho rằng làm được bài tập là
công sức của mình nên không muốn chia sẻ cách làm bài tập với bạn.
Học sinh cũng ít gặp khó khăn khi nói trước các bạn. Có 50 em chiếm
52,63% không bao giờ lúng túng khi nói trước các bạn trong lớp , có 25 em
chiếm 26,31% đôi khi lúng túng, có 20 em chiếm 21,05% thường xuyên cảm
trong gia đình
Bảng 3: Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 3 với người
thân trong gia đình
Thường xuyên Đôi khi
Không bao
giờ
STT
Khó khăn
SL
%
SL
%
SL
%
1
Tức giận khi cãi cọ 10
với người thân
10,52
30
31,57
61
64,21
4
Em có hay hỏi bài 43
45,26
37
38,94
15
15,78
1,05
9
9,47
85
Quan sát bảng 3 tôi thấy khi “ cãi cọ với người thân trong gia đình” thì
các em ít khi tức giận. Trong số 95 học sinh thì có 70 em chiếm 73,68%
không bao giờ tức giận khi cãi cọ với ông bà, cha mẹ, anh chị.
Có 20 em chiếm 21,05% thường xuyên bị bố mẹ trách móc, 46 em chiếm
48,42% đôi khi bị bố mẹ trách móc và có 29 em chiếm 30,52% không bao giờ
bị bố mẹ trách móc.
Khi nói chuyện với bố mẹ có căng thẳng là 30 em chiếm 31,57%
đôi khi cảm thấy căng thẳng,chỉ có 4em chiếm 4,21% thường xuyên cảm
thấy căng thẳng. Bởi vì học sinh lớp 3 trường Tiểu học- Tiên Dương- Đông
20
GVHD: Nguyễn Đình Mạnh
SV: Nguyễn Thị Thanh Mai
Anh – Hà Nội đa số là con của cán bộ công nhân viên chức, gia đình kinh tế
khá giả, ít con nên các em được bố mẹ chiều chuộng quan tâm. Các em cũng
yêu quý bố mẹ mình nên các em khá tự nhiên khi trò chuyện với bố mẹ.
Khi chưa hiểu vấn đề nào đó, chỉ có 43 em chiếm 45,26% thường
xuyên hỏi bài bố mẹ, có 37 em chiếm 38,94% đôi khi mới thắc mắc, 15 em
chiếm 15, 78% không bao giờ hỏi bài.
Khi mắc khuyết điểm có 85 em chiếm 89,47% không lo lắng nên nhận lỗi
ngay với bố mẹ, 9 em chiếm 9,47% đôi khi lo lắng nên chỉ nhận lỗi khi bố mẹ
đã biết , 1 em chiếm 1,05% không nhận lỗi. Bởi vì khi các em mắc khuyết
điểm phần lớn bố mẹ các em chỉ nhắc nhở, phê bình.
Tuy học sinh được bố mẹ quan tâm chăm sóc, các em cũng khá tự
nhiên trong quan hệ với bố mẹ nhưng qua điều tra tôi thấy bố mẹ học sinh